NHÂN CÁC CA CAN THIỆP ĐIỀU TRỊ BỆNH VAN TIM TẠI BUH

NHÂN CÁC CA CAN THIỆP ĐIỀU TRỊ BỆNH VAN TIM TẠI BUH

1. Nong van động mạch chủ

Hẹp van động mạch chủ là tình trạng thoái hoá van, không thể mở ra hoàn toàn, làm giảm hoặc chặn lưu lượng máu từ tim (thất trái) đi nuôi cơ thể. Vậy nên tim phải hoạt động vất vả hơn để bơm đủ lượng máu đến các cơ quan. Tuy nhiên, khi đến thời điểm tim hoạt động quá sức sẽ dẫn đến phì đại cơ tim thất trái hoặc suy tim, gây nguy cơ tử vong rất cao.

Khi hẹp van động mạch chủ nhẹ thường sẽ không có triệu chứng. Cho đến khi van động mạch chủ bị thu hẹp đến một mức độ nào đó gây ra tình trạng thiếu máu thì người bệnh sẽ gặp các triệu chứng sau: Đau thắt vùng ngực, khó thở, hồi hộp, mệt hoặc ngất… 

Vừa qua, BUH tiếp nhận 2 bệnh nhân (50 – 60 tuổi) bị hẹp van động mạch chủ nặng. Trong bối cảnh bệnh nhân chưa đủ điều kiện kinh tế để thực hiện thay van, để hạn chế xảy ra các biến chứng nguy hiểm của bệnh, các bác sĩ đã tiến hành nong van động mạch chủ bằng bóng Tyshak. Sau can thiệp bệnh nhân ổn định, siêu âm chênh áp qua van động mạch chủ giảm đáng kể.

Đây là một trong những bệnh lý van tim phổ biến và nguy hiểm. Vậy nên để phòng ngừa bệnh, các bác sĩ khuyến cáo nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện và điều trị kịp thời.

2. Nong van động mạch phổi cho bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh

Hẹp van động mạch phổi là tình trạng hẹp đầu ra động mạch phổi, gây tắc nghẽn dòng máu từ tâm thất phải sang động mạch phổi trong thời kỳ tâm thu. Đây thường là bệnh tim bẩm sinh, nếu không được điều trị sớm, bệnh sẽ diễn tiến nặng, dẫn đến suy tim phải. 

Nong van động mạch phổi là kỹ thuật được chỉ định điều trị tình trạng hẹp van động mạch phổi ở mức độ vừa đến nặng, được đánh giá mang lại hiệu quả tốt cho người bệnh, giúp giảm tới 75% chênh áp qua van.

Vừa qua, tại BUH tiếp nhận bệnh nhân (26 tuổi) vào viện với trình trạng mệt nhiều, khó thở. Tiền sử bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh tứ chứng Fallot đã qua 2 lần phẫu thuật. Sau khi thăm khám và thực hiện các cận lâm sàng cần thiết, các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân hẹp van động mạch phổi nặng. Ekip các bác sĩ tim mạch can thiệp BUH đã tiến hành nong van động mạch phổi bằng bóng Tyshak thành công. Sau khi thực hiện, chênh áp và vận tốc qua gia giảm đáng kể, bệnh nhân cải thiện ngay tình trạng khó thở, sức khỏe ổn định.

3. Bít ống động mạch bằng dù cho bệnh nhân cao tuổi

Còn ống động mạch là một bệnh tim bẩm sinh do ống động mạch sau khi sinh không đóng lại, đây là ống nối giữa động mạch phổi và động mạch chủ tạo shunt cần thiết trong thời kỳ bào thai. Bệnh dễ dẫn đến suy tim, gây các bệnh về phổi, loạn nhịp tim, bị các bệnh nhiễm trùng trong tim.

Can thiệp tim mạch đóng ống động mạch bằng dù là một phương pháp hiện đại, ít xâm lấn, điều trị hiệu quả bệnh được triển khai thường quy tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột.

Điển hình vừa qua, các bác sĩ đã tiến hành bít ống động mạch bằng dù cho hai bệnh nhân cao tuổi (69 tuổi & 90 tuổi). Bệnh nhân vào viện với triệu chứng khó thở, ho ra máu. kết quả siêu âm tim cho thấy còn ống động mạch và được chỉ định thực hiện can thiệp bít lỗ thông bằng dù để hạn chế các biến chứng tới sức khỏe người bệnh. Khoa Chẩn đoán hình ảnh đã phối hợp dựng hình động mạch chủ bằng CT Scan nhằm xác định chính xác cỡ dù cần đặt, hạn chế tối đa tai biến.

Quá trình can thiệp diễn ra trong thời gian chỉ 30 phút, trên nền sức khỏe bệnh nhân đã lớn tuổi tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong lúc can thiệp những các bác sĩ đã kiểm soát tốt. Can thiệp thành công, người bệnh được theo dõi và xuất viện sau 2 – 3 ngày.

Để được tư vấn trực tiếp và miễn phí, vui lòng liên hệ HOTLINE 1900 1147 (7h00 – 17h00, Thứ hai – Chủ nhật)

 

BUH TRIỂN KHAI KỸ THUẬT ĐẶT LƯỚI LỌC PHÒNG NGỪA THUYÊN TẮC PHỔI

BUH TRIỂN KHAI KỸ THUẬT ĐẶT LƯỚI LỌC PHÒNG NGỪA THUYÊN TẮC PHỔI

Thuyên tắc phổi là tình trạng cục máu đông làm tắc mạch máu ở trong phổi và thường gây ra bởi cục máu đông được hình thành từ 1 tĩnh mạch (thường là ở cẳng chân hoặc vùng chậu, hoặc ít phổ biến hơn là ở cánh tay) và di chuyển theo dòng máu tới phổi.

Thuyên tắc phổi có thể dẫn tới tổn thương vĩnh viễn với tỷ lệ tử vong cao nếu không được cấp cứu kịp thời. Ở Mỹ, thuyên tắc phổi ảnh hưởng khoảng 370.000 người mỗi năm và gây tử vong từ 60.000-100.000 người mỗi năm.

Bệnh nhân P.T.T (90 tuổi, Đắk Lắk) bị gãy xương đùi, nằm bất động đã nhiều năm và có huyết khối trong tĩnh mạch sâu.

Qua thăm khám và đánh giá toàn diện, Ekip Tim mạch can thiệp BUH đã tiến hành đặt lưới lọc bằng hợp kim đặc biệt vào tĩnh mạch chủ dưới, nhằm ngăn chặn nguy cơ huyết khối di chuyển lên phổi gây tắc động mạch phổi cho bệnh nhân. Sau can thiệp, sức khỏe bệnh nhân hồi phục tốt.

Đây là kỹ thuật tim mạch can thiệp tiên tiến trong phòng ngừa và điều trị thuyên tắc phổi, giảm các biến cố tử vong; chỉ định sử dụng cho những trường hợp hạn chế sử dụng thuốc kháng đông; giảm nguy cơ xuất huyết (đặc biệt trên các bệnh nhân xuất huyết não), cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

Hiện kỹ thuật đã và đang triển khai thường quy tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột và được Bảo hiểm y tế chấp nhận thanh toán, giúp bệnh nhân được thụ hưởng chất lượng y tế cao ngay tại địa phương, hạn chế di chuyển lên tuyến trên.

Để được tư vấn trực tiếp và miễn phí, vui lòng liên hệ HOTLINE 1900 1147 (7h00 – 17h00, Thứ hai – Chủ nhật)

 

UNG THƯ BUỒNG TRỨNG VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

UNG THƯ BUỒNG TRỨNG VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

I. ĐỊNH NGHĨA

Ung thư buồng trứng là cụm từ dành cho các khối u ác tính xuất phát từ buồng trứng, chiếm 5% các ung thư ở nữ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các ung thư phụ khoa ở các nước Âu-Mỹ. Tại Hoa Kỳ năm 2005 có khoảng 22.220 trường hợp mới mắc và 17.000 trường hợp tử vong do UTBT. Ở Việt Nam, theo ghi nhận giai đoạn 2001-2004, ung thư buồng trứng là một trong 10 bệnh ung thư thường gặp, dao động từ 3,8-5,6%.

Ung thư buồng trứng (UTBT) có nhiều loại mô bệnh học khác nhau trong đó ung thư biểu mô buồng trứng (UTBMBT) chiếm tới 90% các UTBT.

Bệnh thường diễn biến âm thầm với triệu chứng không đặc hiệu hoặc không có triệu chứng ở giai đoạn sớm. Vì vậy, hầu hết bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn.

Một số tác giả khuyên dùng test định lượng CA125 và siêu âm bằng đầu dò âm đạo để sàng lọc phát hiện sớm UTBT. Tuy nhiên cho tới nay phương pháp này tỏ ra không mấy hiệu quả trong giảm tỉ lệ chết do UTBT.

Mặc dù các UTBT có tiên lượng chung xấu, những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị trong những năm gần đây đã cải thiện đáng kể thời gian sống của các bệnh nhân.

II. NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Có nhiều nghiên cứu tìm kiếm yếu tố nguy cơ và nguyên nhân sinh bệnh ung thư buồng trứng nhưng kết quả không rõ ràng, Các nghiên cứu cho thấy:

  • Không sinh con hoặc sinh con đầu lòng trên 35 tuổi làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng.
  • Ung thư buồng trứng trường thường xuất hiện ở tuổi mãn kinh. Có khoảng hơn một nửa UTBMBT xuất hiện sau tuổi 65.
  • Phụ nữ có mẹ hoặc chị em gái mắc ung thư buồng trứng, ung thư vú sẽ có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn người bình thường và bệnh thường khởi phát ở lứa tuổi sớm hơn. Có thể (5% người bệnh ung thư buồng trứng) có mang gen đột biến gây ung thư BRCA1 nằm trên nhiễm sắc thể 17 và BRCA2 nằm trên nhiễm sắc thể 13.
  • Tiền sử bản thân người phụ nữ bị mắc ung thư nội mạc tử cung hoặc ung thư đại tràng cũng có nguy cơ cao bị UTBMBT.

III. CHẨN ĐOÁN

1. Triệu chứng

Bệnh nhân có thể có những triệu chứng không đặc hiệu như đầy tức, bụng to lên.

Chảy máu âm đạo bất thường, các triệu chứng về dạ dày ruột và tiết niệu cũng có thể xuất hiện.

Trước một bệnh nhân nữ, có cảm giác chướng và khó chịu vùng bụng nên khám kỹ tiểu khung và thăm âm đạo và trực tràng.

UTBMBT thường tiến triển âm thầm và không có dấu hiệu đặc trưng chính vì vậy phần lớn (hơn 70%) khi được phát hiện thì bệnh đã ở giai đoạn III-IV.

UTBT loại tế bào mầm thường có triệu chứng đau do căng và xoắn dây chằng rộng ngay khi u còn khu trú tại buồng trứng và 70% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn I của bệnh. Một số trường hợp đau dữ dội do chảy máu, vỡ u.

UTBT loại u đệm – dây sinh dục có thêm các triệu chứng của tăng tiết quá mức estrogen hoặc androgen như mất kinh hoặc kinh nguyệt thất thường ở phụ nữ còn kinh hoặc ra máu âm đạo ở phụ nữ đã mãn kinh hoặc những biểu hiện nam hoá. 

2. Thăm khám lâm sàng

Thăm khám (bao gồm cả thăm âm đạo, trực tràng)

Khám khung chậu bằng hai tay, một tay thăm khám trên bụng, một tay thăm khám sâu qua âm đạo hoặc trực tràng, có thể thấy:

  • Khối u buồng trứng sờ thấy được.
  • Khối u vùng chậu: Thường chắc, có thể cố định, đôi khi kèm theo nhiều khối nhỏ vùng túi cùng.
  • Cổ chướng

Cần khám toàn diện trong đó lưu ý khám hệ hạch, tình trạng gan, thận, trực tràng, thiếu máu, suy kiệt .v.v.

3. Các xét nghiệm cận lâm sàng

  • Siêu âm:

    Khi sờ thấy khối u vùng khung chậu nên tiến hành kiểm tra bằng siêu âm cho bệnh nhân. Siêu âm với đầu dò âm đạo và siêu âm qua thành bụng có thể phân biệt u buồng trứng với các khối u khác vùng chậu, hình thái khối u (nang, đặc, nhú .v.v), kích thước khối u, tình trạng buồng trứng bên đối diện và dịch cổ trướng. Siêu âm Doppler màu đánh giá được mạch máu của khối u, có thể phát hiện được những mạch máu tân sản bất thường gợi ý u lành hay ác.

  • Xét nghiệm chất chỉ điểm u:
    Hàm lượng CA 125 tăng cao ở hơn 80% các trường hợp UTBMBT, nhưng cũng có thể tăng trong một số tình trạng lành tính hoặc một số ung thư ngoài buồng trứng.

  • Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ ổ bụng và vùng chậu:
    Giúp đánh giá mức độ xâm lấn và tình trạng di căn của u. Chụp cộng hưởng từ đắt hơn nhưng không cho thêm nhiều thông tin so với chụp cắt lớp.

  • Chụp X-quang phổi:
    Đánh giá có di căn phổi hay không.
  • Tế bào học dịch cổ chướng:
    Chọc hút, ly tâm dịch cổ chướng để tìm tế bào ung thư.

  • Soi ổ bụng:
    Khi còn nghi ngờ đối với khối u nhỏ. Thủ thuật cần thực hiện thận trọng, nếu không có thể làm vỡ khối u làm ảnh hưởng tới thời gian sống của bệnh nhân. Trong khi soi có thể tiến hành sinh thiết hoặc làm tế bào học các vị trí nghi ngờ để đánh giá chính xác giai đoạn.

  • Phẫu thuật thăm dò:
    Giúp chẩn đoán xác định. Nếu xác định là UTBT có thể tiến hành phẫu thuật điều trị.

4. Chẩn đoán giai đoạn

UTBT thường được xếp giai đoạn theo FIGO (Liên đoàn sản phụ khoa quốc tế).

Giai đoạn I :

U còn khu trú ở buồng trứng.

Giai đoạn IA:

U giới hạn ở một buồng trứng, vỏ nguyên vẹn không có u trên bề mặt buồng trứng, tế bào dịch cổ chướng, dịch rửa ổ bụng âm tính.

Giai đoạn IB:

U giới hạn ở hai bên buồng trứng, vỏ nguyên vẹn không có u trên bề mặt buồng trứng, tế bào dịch cổ chướng, dịch rửa ổ bụng âm tính.

Giai đoạn I­C:

U giới hạn ở một hoặc cả hai buồng trứng nhưng có một trong những yếu tố sau: vỏ đã vỡ, có khối u bề mặt buồng trứng, tế bào dịch cổ trướng, dịch rửa ổ bụng dương tính.

Giai đoạn II :

U phát triển ở một hoặc hai bên buồng trứng xâm lấn chậu hông.

Giai đoạn IIA:         

U xâm lấn và/ hoặc di căn tới tử cung và/ hoặc vòi trứng nhưng tế bào dịch cổ chướng, dịch rửa ổ bụng âm tính.

Giai đoạn IIB:

U xâm lấn tới tổ chức khác trong khung chậu nhưng tế bào dịch cổ chướng, dịch rửa ổ bụng âm tính.

Giai đoạn IIC:

Như giai đoạn IIA hoặc IIB nhưng tế bào dịch cổ trướng, dịch rửa ổ bụng dương tính.

Giai đoạn III:

U có ở một hoặc hai bên buồng trứng nhưng ung thư đã reo rắc ra ổ bụng ngoài khung chậu hoặc di căn hạch vùng. Di căn tới bề mặt gan vẫn được tính ở giai đoạn III.

Giai đoạn IIIA:

Di căn vi thể trong ổ bụng ngoài tiểu khung.

Giai đoạn IIIB:

Di căn đại thể trong ổ bụng vượt ra ngoài tiểu khung, đường kính lớn nhất £2cm.

Giai đoạn IIIC­:

Di căn đại thể trong ổ bụng ngoài vượt ra ngoài tiểu khung, đường kính lớn nhất >2cm, di căn hạch vùng.

Giai đoạn IV:

Di căn xa (không kể phúc mạc), bao gồm cả nhu mô gan, tràn dịch màng phổi ác tính.

III. ĐIỀU TRỊ

1. Ung thư biểu mô

Sơ đồ điều trị ung thư biểu mô

2. U tế bào mầm ác tính

Sơ đồ u tế bào mầm ác tính

3. U đệm dây sinh dục

Sơ đồ điều trị u đệm dây sinh dục

4. Ung thư tái phát

Sơ đồ điều trị ung thư tái phát

Theo dõi UTBT sau điều trị bằng khám lâm sàng (bao gồm cả khám tiểu khung), các chất chỉ điểm u kết hợp với một số xét nghiệm khác như siêu âm ổ bụng, chụp X-quang ngực.

Lịch kiểm tra: Khám lại 2-4 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng/lần trong 3 năm tiếp theo, sau đó 1 năm/lần.

CHIẾN DỊCH “BẢO VỆ SỰ SỐNG, HÃY VỆ SINH TAY”

CHIẾN DỊCH BẢO VỆ SỰ SỐNG, HÃY VỆ SINH TAY

Bác sĩ - Giám đốc Võ Minh Thành phát động phong trào vệ sinh tay

Vệ sinh tay là một đề tài không mới nhưng không bao giờ cũ, càng ngày người ta càng nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của việc vệ sinh tay.

Ngày nay, vệ sinh tay đã được phổ biến rộng khắp, không chỉ đối với tập thể nhân viên y tế mà còn đối với toàn xã hội. Năm 2008, Liên Hợp Quốc đã chọn ngày 15/10 hằng năm là ngày “Thế giới vệ sinh tay với xà phòng”. Sau đó một năm, 2009, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chọn ngày 5/5 là ngày “Vệ sinh tay toàn cầu – World Hand Hygiene Day”. Sở dĩ Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Y tế Thế giới khuyến khích mọi người vệ sinh tay vì theo kết quả nghiên cứu của giới chuyên gia y học cho thấy: chỉ một động tác rửa tay sạch đã giúp giảm gần 50% trường hợp mắc tiêu chảy; hơn 25% trường hợp nhiễm khuẩn đường hô hấp; 35% khả năng lây truyền các vi khuẩn và vi rút gây bệnh truyền nhiễm, trong đó có vi rút SARS-CoV-2 gây đại dịch COVID-19.

Bộ Y tế nước ta đã ban hành Quyết định số: 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 về “ HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH VỆ SINH TAY TRONG CÁC CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH” và phát động phong trào vệ sinh bàn tay cả nước. Từ đó đến nay nhiều bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh đẩy mạnh phong trào vệ sinh tay với nhiều hình thức thi đua kèm theo những khẩu hiệu nổi bật như: “Vài giây rửa tay – Cứu ngay mạng sống” (Seconds save lives – Clean your hands); “Vì một Việt Nam sạch khuẩn từ đôi tay” hay “Chúng tôi rửa tay vì bạn, bạn hãy rửa tay vì cộng đồng”…

Để đảm bảo các bác sĩ, điều dưỡng nói riêng, nhân viên bệnh viện nói chung thực hiện vệ sinh tay đạt kết 95% như mong muốn, Ban Giám Đốc kết hợp với khoa Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn của Bệnh Viện Đại Học Y Dược Buôn Ma Thuột phát động phong trào: “ CHIẾN DỊCH BẢO VỆ SỰ SỐNG, HÃY VỆ SINH TAY” tổ chức vào chiều ngày 4/10/2022 tại hội trường giao ban của bệnh viện.

Sự kiện đã diễn ra thành công vượt ngoài mong đợi của ban tổ chức khi các bác sĩ trưởng khoa, các bác sĩ điều trị, các điều dưỡng và nhân viên bệnh viện tham gia đông đủ. Hưởng ứng lễ thi đua vệ sinh tay, đại diện các khoa phòng đăng ký tham gia phòng trào thi đua với sự chứng kiến của BGĐ.

Đại diện các khoa, phòng ký vào bảng thi đua

Qua 2 giờ thảo luận, trao đổi, toàn thể nhân viên BUH đã nắm được lịch sử của vệ sinh tay và hiểu rõ ích lợi thiết thực của hành động này. Mỗi người nên biết rõ để thực hiện đúng quy trình rửa tay, quan trọng là xác định đúng thời điểm cần vệ sinh tay cũng như xác định được quá trình này nên diễn ra trong bao lâu.

Toàn thể nhân viên BUH tham gia sự kiện đông đủ và tích cực

Mọi người tham gia ngày lễ thi đua vệ sinh tay đảm bảo thực hiện vệ sinh tay theo quy trình 6 bước đúng tiêu chuẩn Bộ Y Tế hướng dẫn. Dưới đây hình ảnh thực hiện vệ sinh tay bằng dung dịch sát khuẩn có chứa cồn của tập thể nhân viên BUH.

Mọi người tham gia ngày lễ thi đua vệ sinh tay

Việc lây truyền nhiễm khuẩn trong bệnh viện xảy ra hầu hết qua trung gian bàn tay, việc nhân viên bệnh viện tuân thủ thực hành vệ sinh tay sẽ không chỉ giúp giữ an toàn cho người bệnh, mà còn giữ an toàn cho bản thân nhân viên y tế, cho gia đình và cho toàn xã hội. Chúng ta phải nhắc nhau rằng: “BẢO VỆ SỰ SỐNG, HÃY VỆ SINH TAY”.