UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

Ung thư đại trực tràng thường gặp ở những người trên 50 tuổi, tuy nhiên tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng trong nhiều năm gần đây gia tăng nhanh ở giới trẻ. Theo số liệu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư đại trực tràng là ung thư phổ biến hàng thứ 5 tại Việt Nam sau ung thư gan, phổi, dạ dày, vú. Các khối u đại trực tràng ở bệnh nhân trẻ có tốc độ phát triển nhanh hơn những người lớn tuổi và thường được phát hiện ở giai đoạn muộn hơn. Tại Việt Nam, gần 15.000 ca mắc mới được chẩn đoán mỗi năm, hơn 7.000 ca tử vong vì ung thư đại trực tràng mỗi năm. Ung thư đại trực tràng có xu hướng tăng lên ở những người trẻ < 50 tuổi.

Hình ảnh đại trực tràng

1. Ung thư đại trực tràng là gì? Ung thư đại trực tràng phát triển như thế nào?

Ung thư đại trực tràng là bệnh ung thư bắt nguồn từ ruột kết hoặc trực tràng. Đây là căn bệnh ung thư phổ biến được chẩn đoán ở cả nam giới và nữ giới.

Thành đại tràng có cấu tạo gồm nhiều lớp. Các tế bào ung thư được hình thành từ các tế bào lót bên trong đại tràng (niêm mạc), phần lớn do sự phát triển của các polyp trong đại tràng. Theo thời gian khối ung thư xâm lấn dần vào thành đại trực tràng, những khối u này có thể xâm lấn qua các lớp khác nhau của đại tràng hoặc trực tràng và vào các mạch máu, cuối cùng là di chuyển đến các bộ phận khác trong cơ thể.

Ung thư đại trực tràng từ hình ảnh nội soi

2. Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng

Tiền sử gia đình bị ung thư đại tràng: Trong gia đình có người bị ung thư đại tràng làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng nếu thành viên đó có quan hệ gần nhất với người bệnh (cha mẹ, anh chị em, con cái), đặc biệt nếu nhiều thành viên trong gia đình bị bệnh hoặc nếu ung thư xuất hiện sớm (trước 45 tuổi)

Người đã từng bị ung thư đại tràng hoặc polyps: Những người đã từng bị ung thư đại tràng thì sẽ tăng nguy cơ tái phát bệnh. Những người đã bị polyp tuyến trước độ tuổi 60 thì cũng tăng nguy cơ phát triển ung thư đại tràng.

Độ tuổi: Có tới 90% bệnh nhân ung thư đại tràng có độ tuổi trên 50. Độ tuổi càng cao thì nguy cơ mắc ung thư đại tràng càng cao.

Lối sống: Một vài nhân tố lối sống có thể tăng nguy cơ ung thư đại tràng bao gồm:

  • Chế độ ăn có nhiều mỡ và thịt đỏ, hoặc thịt chế biến sẵn, ăn ít chất xơ.
  • Ít vận động.
  • Hút thuốc.
  • Lạm dụng rượu bia.
  • Béo phì.

Bệnh viêm ruột: Những người có bệnh Crohn đại tràng hoặc viêm loét đại tràng thì có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư đại tràng. Nguy cơ tăng lên phụ thuộc vào số lượng ổ viêm và thời gian mắc bệnh; nếu ruột già bị viêm toàn bộ và bị viêm loét 10 năm trở lên thì nguy cơ mắc ung thư rất cao.

3. Các triệu chứng của ung thư đại trực tràng.

Trong giai đoạn đầu, ung thư đại trực tràng có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện sau khi khối u phát triển vào các mô xung quanh. Một số triệu chứng điển hình bao gồm:

  • Thay đổi thói quen đại tiện (như tiểu chảy, táo bón).
  • Chảy máu hậu môn.
  • Đại tiện phân có máu (màu đỏ tươi/ sẫm hoặc đôi khi phân đen).
  • Đau bụng dai dẳng. 
  • Chán ăn.
  • Mệt mỏi, da nhợt nhạt hoặc vàng da.
  • Sụt cân không rõ nguyên nhân

4. Đối tượng nguy cơ nên tầm soát ung thư đại trực tràng.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, các đối tượng nguy cơ sau nên tầm soát ung thư đại trực tràng định kỳ:

  • Người từ độ tuổi 45 – 75 tuổi.
  • Tiền sử phát hiện polyp đại tràng, mắc ung thư đại trực tràng.
  • Người có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng.
  • Người có tiền sử bệnh lý viêm ruột

Đa số ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm KHÔNG CÓ triệu chứng rõ ràng. Việc tầm soát định kỳ có thể giúp phát hiện sớm ung thư đại trực tràng, giúp đem đến nhiều khả năng chữa khỏi bệnh. Trong nhiều trường hợp, việc tầm soát còn giúp ngăn ngừa ung thư đại trực tràng khi cắt bỏ một số pô-lýp hoặc khối u trước khi chúng có nguy cơ tiến triển thành ung thư. Nội soi sàng lọc đại trực tràng là phương pháp an toàn và hiệu quả để tầm soát, phát hiện và loại bỏ polyp tiền ung thư kịp thời.

  • Nếu phát hiện sớm, tỉ lệ sống hơn 5 năm lên tới 90%; 
  • Nếu phát hiện muộn, tỉ lệ sống hơn 5 năm chỉ còn dưới 10%

5. Tầm soát và điều trị ung thư tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) là một trong những cơ sở y tế hàng đầu tại khu vực Tây Nguyên, với trang thiết bị hiện đại tầm soát phát hiện sớm hầu hết các loại ung thư. 

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột được trang bị đầy đủ các phương tiện, trang thiết bị tiêu chuẩn Quốc tế: Máy X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) 3D, máy cắt lớp vi tính (CT) 128 lát cắt, máy siêu âm đàn hồi mô,… đặc biệt có xét nghiệm hóa mô miễn dịch, gen đột biến để tầm soát và điều trị ung thư cùng với đội ngũ chuyên gia, bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm.

Đơn vị Ung bướu Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột là Đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng các công nghệ Y học tiên tiến trong việc tầm soát ung thư sớm, cập nhật liên tục các phác đồ điều trị mới nhất, chăm sóc giảm nhẹ và điều trị ung thư phối hợp đa mô thức: phẫu thuật, hóa trị, điều trị trúng đích giúp tối ưu hóa thời gian và mang lại hiệu quả điều trị cao cho người bệnh.

Đơn vị luôn theo sát tận tình cho từng bệnh nhân từ lúc phát hiện, điều trị và sau điều trị. Các bác sĩ sẽ luôn đồng hành trong việc tư vấn điều trị, dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt để đem lại chất lượng điều trị cao nhất cho các bệnh nhân ung thư trong khu vực. Sự có mặt của Đơn vị ung bướu tại khu vực góp phần hạn chế việc bệnh nhân phải di chuyển lên tuyến trên, có thể điều trị trong điều kiện y tế chất lượng cao với chi phí hợp lý.

Lưu ý: Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

 

TÁCH TIỂU CẦU BẰNG MÁY TỰ ĐỘNG HIỆN ĐẠI TẠI BUH

TÁCH TIỂU CẦU BẰNG MÁY TỰ ĐỘNG HIỆN ĐẠI TẠI BUH

Tách tiểu cầu chất lượng cao cho các trường hợp diễn tiến nguy hiểm cần phải truyền tiểu cầu

Tiểu cầu là loại tế bào quan trọng trong máu, chức năng chính của tiểu cầu là thực hiện quá trình đông cầm máu. Khối tiểu cầu là một loại chế phẩm, loại thuốc rất đặc biệt được điều chế từ nhiều đơn vị máu toàn phần hoặc từ gạn tách tiểu cầu trực tiếp của một người hiến. Chế phẩm này được sử dụng cho điều trị và dự phòng các biểu hiện chảy máu do giảm số lượng và chất lượng tiểu cầu.

Một số trường hợp được Bác sĩ chỉ định truyền tiểu cầu:

– Phòng ngừa xuất huyết

– Bệnh nhân đang chảy máu hoặc chuẩn bị có phẫu thuật xâm lấn

– Rối loạn chức năng tiểu cầu

– Phòng ngừa cho bệnh nhân sốt, nhiễm trùng huyết trước đó

– Bệnh lý đông cầm máu và tiểu cầu giảm nhanh

– Bệnh nhân loạn sinh tủy hoặc suy tủy khi có xuất huyết (…)

BUH ứng dụng điều trị các trường hợp trên bằng khối tiểu cầu được gạn tách từ một người hiến bằng hệ thống máy tách tiểu cầu tự động. Máy tách thành phần máu tự động MCS+ của hãng Haemonetics là một hệ thống tự động và khép kín, thành phần máu được phân tách riêng biệt nhờ quá trình ly tâm máu với những ưu điểm vượt trội sau:

Đối với người được hiến:

– Hiệu suất thu tiểu cầu cao

– Tiểu cầu thu được từ quá trình phân tách có chức năng tiểu cầu tốt hơn so với các sản phẩm thu được từ máu toàn phần.

– Khối tiểu cầu gạn tách giúp giảm thiểu tình trạng người bệnh phơi nhiễm với nhiều loại kháng nguyên bạch cầu từ nhiều người hiến máu, hạn chế tình trạng đồng miễn dịch với bạch cầu.

Đối với người hiến:

– Sau khi phân tách, huyết tương và hồng cầu được trả lại người hiến.

– Tùy chọn bù muối để bổ sung cho lượng dung dịch mất trong quá trình hiến tặng

Vừa qua, BUH có tiếp nhận bệnh nhân H.M.T sốt ngày thứ 2, nhức mỏi, mệt nhiều. Đến ngày thứ 5 BN đã không còn sốt nữa nhưng mệt mỏi và kèm theo các triệu chứng: đau bụng thượng vị và vùng gan liên tục, chảy máu chân răng. BN được các Bác sĩ Khoa Nội Tổng Hợp chẩn đoán sốt xuất huyết dengue ngày 5 có dấu hiệu cảnh báo (chảy máu chân răng). BN nhập viện với tình trạng chỉ số tiểu cầu thấp 7.0 K/uL, men gan tăng nhẹ. 

Tại Khoa, BN được theo dõi liên tục theo phác đồ Bộ Y Tế về các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng. BN được chỉ định truyền khối tiểu cầu và các phương pháp cầm máu tại chỗ, bù nước…. Sau 4 ngày điều trị, BN đã ổn định, hết chảy máu chân răng, hết đau bụng, chỉ số tiểu cầu xu hướng tăng về mức an toàn nên được BS chỉ định xuất viện.

Tại BUH, việc điều trị cho BN đều có sự phối hợp giữa các liên chuyên khoa nhằm nhằm can thiệp kịp thời, mang lại kết quả điều trị cao nhất cho bệnh nhân. Khoa Xét Nghiệm BUH được đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ để cung cấp đầy đủ các loại xét nghiệm từ cơ bản đến chuyên sâu với đầy đủ các lĩnh vực (Huyết học – Truyền máu; Sinh Hóa – Miễn dịch; Vi sinh – Sinh học Phân tử; Giải phẫu bệnh) để phục vụ và hỗ trợ tốt nhất cho công tác khám, chữa bệnh.

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

 

SỰ THAY ĐỔI NIÊM MẠC DẠ DÀY LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI)niêm mạc

SỰ THAY ĐỔI NIÊM MẠC DẠ DÀY LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI)

Thuốc ức chế bơm proton (PPI), được ra đời vào cuối những năm 1980 cho tới nay, nó được sử dụng trên toàn thế giới để điều trị các rối loạn liên quan đến acid như loét dạ dày tá tràng và bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Nó cũng đã được sử dụng dự phòng để ngăn ngừa tổn thương niêm mạc dạ dày tá tràng do thuốc chống viêm không steroid (NSAID).

PPI là một trong những thuốc thương xuyên được sử dụng trong điều trị loét dạ dày-tá tràng và được cho là có tác dụng ức chế tiết acid dạ dày mạnh nhất trong các thuốc điều trị hiện nay. Mặc dù được biết tới với hiệu quả cao và độc tính thấp, tuy nhiên vì số lượng thuốc được sử dụng nhiều trên toàn cầu, chính vì vậy hiệu quả điều trị và tác dụng không mong muốn của thuốc vẫn luôn được theo dõi và cập nhật.

Nhìn chung, PPI tương đối an toàn khi sử dụng ngắn hạn, các tác dụng phụ thường nhẹ và thường biến mất mà không để lại hậu quả nghiêm trọng nào. Tuy nhiên khi sử dụng dài hạn, một số tác dụng không mong muốn đã được đề cập như: thiếu máu hống cầu to, gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn trên đường hô hấp, giảm hấp thu calci. Một trong những nghiên cứu gần đây của Kim G. H. và cộng sự (2021) cung cấp thêm những bằng chứng về những thay đổi về mô bệnh học khi sử dụng PPI lâu dài như: Sự nhô lên của tế bào thành vào lòng tuyến, sự giãn nở nang của các tuyến cơ dạ dày và tăng sản biểu mô phế nang. Những thay đổi này có thể phát hiện khi người bệnh khám nội soi.

Nguyên nhân được đề xuất là PPI làm tăng nồng độ của gastrin, là hormon có tác dụng làm tăng sinh tế bào thành và tế bào ECL, do đó khi sử dụng PPI trong thời gian dài có thể hình thành polyp ở đáy và thân vị.

Gần đây, một số thuốc mới được phát triển và đưa vào sử dụng như Vonoprazan, thuốc ức chế tiết acid với cơ chế cạnh tranh với ion kali trên bơm

proton (P-CAB), thuốc được cho là có tác dụng ức chế tiết acid dạ dày mạnh hơn PPI đã được đánh giá trên lâm sàng. Mặc dù mối liên hệ giữa những thay đổi mô bệnh học như trên và việc sử dụng P-CAB vẫn chưa được xác lập có mối liên quan không, nhưng có khả năng những người sử dụng P-CAB lâu dài cũng có thể có những thay đổi niêm mạc dạ dày tương tự như được quan sát thấy ở những người dùng PPI lâu dài.

Tóm lại, với số lượng sử dụng PPI ngày càng tăng, việc nội soi xác định những thay đổi niêm mạc này là rất quan trọng khi sử dụng thuốc lâu dài. Ngược lại, việc xác định được những bệnh nhân có sử dụng PPI lâu dài dựa vào kết quả nội soi cũng đang được đánh giá.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Y Tế (2018). Dược thư quốc gia Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, tr. 1081-1082

[2]. Kim, G. H. (2021). Proton pump inhibitor-related gastric mucosal changes. Gut and Liver, 15(5), 646. [3]. Heidelbaugh, J. J., Kim, A. H., Chang, R., & Walker, P. C. (2012). Overutilization of proton-pump inhibitors: what the clinician needs to know. Therapeutic advances in gastroenterology, 5(4), 219-232.

Điểm tin: Tổ Thông tin thuốc – Dược lâm sàng, Khoa Dược

VIÊM MŨI XOANG DO NẤM

VIÊM MŨI XOANG DO NẤM

BSCKII. Nguyễn Hữu Diệu – Trưởng Liên chuyên khoa Tai Mũi Họng BUH cho biết, Viêm mũi xoang do nấm là tình trạng viêm mũi xoang với sự hiện diện của nấm gây tổn thương niêm mạc và tổ chức xung quanh. Bệnh lý này chiếm khoảng 10% các ca bệnh viêm xoang trên toàn thế giới. Nguyên nhân thường gặp là do hít phải các bào tử nấm trong môi trường xung quanh. Trong trường hợp tiến triển nặng, nếu không được điều trị nấm sẽ xâm lấn lên não bằng đường trực tiếp hoặc huyết khối động mạch cảnh trong dẫn đến tử vong.

1. Các yếu tố thuận lợi gây bệnh viêm mũi xoang do nấm

– Điều kiện khí hậu ấm áp và ẩm ướt thích hợp cho nấm mốc phát triển.

– Bất thường cấu trúc giải phẫu mũi xoang.

– Điều trị thuốc làm mất cân bằng nấm – vi khuẩn tại chỗ.

– Người bệnh bị suy giảm miễn dịch, bệnh tiểu đường, sau hóa xạ trị ung thư…

2. Triệu chứng thường gặp của bệnh viêm mũi xoang do nấm

Các triệu chứng của viêm xoang do nấm thường có một số biểu hiện sau:

– Nghẹt mũi.

– Chảy nước mũi (hay gặp chảy nước mũi đục 1 bên).

– Giảm ngửi hoặc có mùi hôi ở trong mũi.

– Đau vùng xoang hàm, trước trán, thái dương hoặc đau đầu dai dẳng.

– Ho đàm kéo dài, ho nhiều về đêm mà điều trị nội khoa không cải thiện hay dễ tái phát.

– Một số trường hợp không có triệu chứng, phát hiện bệnh rất tình cờ.

Các triệu chứng nặng hơn và nghiêm trọng của bệnh viêm mũi xoang do nấm:

– Tức ổ mắt, giảm thị lực, lồi mắt, liệt vận nhãn, nhìn đôi, mù.

– Tê bì vùng mặt.

– Xâm nhập vào sọ não gây tổn thương thần kinh nội sọ; gây biến dạng xương hàm mặt; tổn thương mạch máu gây chảy máu ồ ạt.

– Đặc biệt ở thể dữ dội nếu không được điều trị nấm sẽ xâm lấn lên não bằng đường trực tiếp hoặc huyết khối động mạch cảnh trong dẫn đến tử vong.

Các triệu chứng của viêm mũi xoang do nấm không dễ phân biệt do có nhiều điểm giống với các loại viêm xoang khác. Do đó, điều quan trọng là người bệnh cần đến ngay bệnh viện thăm khám chuyên khoa Tai Mũi Họng khi xuất hiện các triệu chứng của viêm xoang.

3. Các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh

Để chẩn đoán bệnh viêm mũi xoang nấm, các Bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện các phương pháp sau:

– Nội soi mũi xoang: Giúp các Bác sĩ đánh giá tổng quan về hốc mũi và các lỗ thông xoang.

– Chụp CT Scan mũi xoang: Đây là tiêu chuẩn hiện đại nhằm đánh giá một cách chi tiết tình trạng viêm nhiễm ở xoang.

– Nhuộm soi và giải phẫu bệnh: Tiêu chuẩn “vàng” cho thấy sự hiện diện của nấm trong mẫu bệnh phẩm sau khi được lấy bỏ.

Tuỳ vào tình trạng viêm mũi xoang do nấm, người bệnh sẽ được điều trị bằng các phương pháp phù hợp:

– Viêm mũi xoang do nấm đối với thể không xâm nhập có tiên lượng tốt nếu
được điều trị kịp thời.

– Bệnh nhân được điều trị chủ yếu là phẫu thuật qua nội soi, lấy bệnh tích và tổ chức nấm, làm rộng các lỗ thông xoang.

4. Các phương pháp phòng bệnh viêm mũi xoang nấm

  • Giữ ấm mũi, họng; thường xuyên vệ sinh mũi họng; đeo khẩu trang khi ra khỏi nhà.
  • Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát, tránh để ẩm mốc; phơi khăn mặt dưới nắng mặt trời.
  • Tránh để mắc các bệnh về mũi họng khiến cơ quan này suy yếu dễ bị nấm tấn công.

Theo BSCKII. Nguyễn Hữu Diệu – Trưởng Liên chuyên khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, các triệu chứng khá giống nhau giữa viêm mũi xoang do nấm và viêm xoang do các thể bệnh khác. Bên cạnh đó, do đặc điểm khí hậu và tập quán sản xuất nông nghiệp của người dân Tây Nguyên nên tỷ lệ bệnh nhân bị viêm xoang do nấm ở đây cũng khá cao. Do đó, người bệnh cần đến khám chuyên khoa Tai Mũi Họng để được phát hiện và điều tri hiệu quả, tránh các biến chứng nặng của bệnh.

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

SỤN CHÊM HÌNH ĐĨA BẨM SINH – BỆNH LÝ CẦN QUAN TÂM KHI ĐAU KHỚP GỐI KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN

SỤN CHÊM HÌNH ĐĨA BẨM SINH – BỆNH LÝ CẦN QUAN TÂM KHI ĐAU KHỚP GỐI KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN

1. Sụn chêm dạng đĩa là gì?

Khớp gối của mỗi chúng ta là một trong những khớp lớn, chịu lực trọng lượng của cơ thể vì thế giữa đầu dưới xương đùi và đầu trên xương chày có hai sụn chêm (discoid meniscus) là sụn chêm trong và sụn chêm ngoài, các cấu trúc này đóng vai trò phân phối lực truyền từ xương đùi xuống mâm chày, có tác dụng giảm xóc nằm trong khớp khi vận động khớp gối. Sụn chêm bình thường hình thành ở tuần thứ 8 và đạt được hình thái giải phẫu trưởng thành ở tuần thứ 14 của sự phát triển bào thai. Ở người trưởng thành, sụn chêm trong có hình chữ C, che phủ 50% bề mặt mâm chày trong và được giữ vào bao khớp bởi các dây chằng vành, chày-sụn chêm và bên trong. Sụn chêm ngoài có hình chữ O, rộng trung bình 11 mm, độ dày trung bình 4,5mm, che phủ 70% bề mặt mâm chày ngoài và được giữ vào bao khớp cả ở phía trước và sau (phía sau được tăng cường bởi dây chằng đùi-sụn chêm trước và sau), trong khi phần bên ngoài giữ với bao khớp không liên tục nên có sự di chuyển cao hơn các vị trí khác.

Theo Smillie đã công nhận rằng hình dạng sun chêm hình đĩa có thể phát triển do không hấp thụ được phần bên trong của mô sụn trong phôi thai đang phát triển, tuy nhiên có tác giả cho rằng đây là một dị tật bẩm sinh, có tính di truyền.

Khi sụn chêm che phủ hết bề mặt mâm chày được gọi là sụn chêm hình đĩa (discoid meniscus). Đây là một dị dạng bẩm sinh của sụn chêm, được Young mô tả lần đầu tiên năm 1889 và sau đó là Watson-Jones vào năm 1930. Về hình thái học thì có độ dày tăng cao hơn, rộng hơn và ít mạch máu nuôi hơn sụn bình thường.

Sụn chêm hình đĩa thường gặp ở sụn chêm ngoài (discoid leteral meniscus), rất hiếm gặp ở sụn chêm trong. Tỷ lệ bị sụn chêm hình đĩa trên thế giới rất hiếm 0,1-0,3%, ở Mỹ chiếm từ 3 – 5% dân số, ở châu Á là 10-15% và khoảng 0,4 – 17% các trường hợp bị sụn chêm hình đĩa bên ngoài, 0,06-0,3% bên trong. Theo Ahn và cộng sự nghiên cứu qua hình ảnh MRI khớp gối có hình ảnh sụn chêm hình đĩa, sau đó phẫu thuật nội soi can thiệp thì đến 97% bị sụn đĩa hoàn toàn và không hoàn toàn

Hình ảnh sụn chêm bình thường

2. Cơ chế gây tổn thương

Sụn chêm hình đĩa dễ bị tổn thương hơn sụn chêm bình thường. Do cấu trúc bất thường về hình thái nên sụn chêm dễ bị kẹt khi khớp gối vận động, gây đau và rách sụn. Trong trường hợp dây chằng giữ sụn chêm vào mâm chầy không có hoặc lỏng lẻo, nguy cơ này càng cao hơn. Cũng như sụn chêm bình thường, khi bị tổn thương, sụn chêm hình đĩa rất khó liền do cấu trúc nghèo mạch máu.

Cơ chế gây tổn thương thường gặp khi gối bị xoắn vặn như khi trụ chân hoặc thay đổi hướng di chuyển trong thừi gian dài, tuy nhiên, một số trường hợp thì cũng không xác định được cơ chế chấn thương rõ ràng.

3. Triệu chứng

Có các triệu chứng rất khác nhau tùy thuộc vào vị trí sụn và thể lâm sàng, gồm:

  • Đau khớp gối
  • Kẹt khớp gối không gấp duỗi được khớp
  • Có tiếng kêu bất thường trong khớp khi đi lại hoặc gấp duỗi khớp gối
  • Ấn đau khe khép gối khi khám
  • Hội chứng snapping knee
  • Hạn chế duỗi khớp
  • Teo cơ vùng gối

4. Chẩn đoán

Những triệu chứng chủ yếu của sụn chêm dạng đĩa có thể gặp là: đau, hạn chế vận động gối hoặc sưng nề, kẹt khớp gối hoặc không duỗi được hết. Phần lớn bệnh nhân có sụn chêm hình đĩa hầu như không có triệu chứng trong suốt cả cuộc đời mà chỉ tình cờ phát hiện khi thăm khám chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp gối vì một lý do khác.

Ở trẻ thiếu niên, nếu có các biểu hiện như trên, thì cần phải thăm khám xác định xem liệu có phải tổn thương sụn chêm hình đĩa hay không sau khi đã loại trừ các nguyên nhân nội khoa.

Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng chỉ mang tính gợi ý. Chẩn đoán xác định cần kết hợp thêm dấu hiệu chụp phim cộng hưởng từ khớp gối để xác định mức độ và hình thái. Tiêu chuẩn hay được áp dụng nhất: Tỷ lệ giữa chỗ hẹp nhất với chỗ rộng nhất của sụn   chêm trên mặt phẳng trán (coronal slice) lớn hơn 20%, tỷ lệ giữa chiều rộng thân sụn chêm với đường kính sụn chêm trên mặt phẳng đứng dọc (sagittal slice) lớn hơn 75%.

Tiêu chuẩn ít chính xác hơn: Chiều rộng của sụn chêm tại vị trí hẹp nhất lớn hơn 15 mm, và trên 2 lát cắt đứng dọc có sự liên tục giữa sừng trước và sừng sau của sụn chêm, trên phim nghiêng có dấu “ bow-tie sign”.

Hình ảnh sụn chêm ngoài hình đĩa trên MRI

5. Phân loại tổn thương

Watanabe (1969) phân loại các thể sụn chêm hình đĩa như sau:

  • Thể I: Sụn chêm hình đĩa hoàn toàn, che phủ gần hết mặt khớp mâm chày ngoài, thể này hay gặp nhất.
  • Thể II: Sụn chêm hình đĩa một phần, che phủ một phần mặt mâm chày hơn bình thường.
  • Thể III: Thể dây chằng wrisberg, sừng sau của sụn chêm bong ra khởi mâm chày.

6. Điều trị

Trong trường hợp phát hiện qua chụp MRI, nếu bệnh nhân không có triệu chứng về mặt lâm sàng như đau, kẹt khớp, sung khớp…thì có thể không cần can thiệp và theo dõi. Trong trường hợp có triệu chứng lâm sàng, phẫu thuật là cần thiết. Phẫu thuật được thực hiện qua nội soi với việc cắt sửa phần sụn chêm rách và tạo hình lại sụn chêm cho có cấu trúc gần giống bình thường. Một số trường hợp phần sụn chêm rách cũng có thể được khâu lại, tuy nhiên phụ thuộc vào việc đánh giá tổn thương trong mổ.

Sau mổ, bệnh nhân có thể đeo nẹp mềm hỗ trợ, chống nạng không chịu lực trong 4 tuần, sau 8 tuần chịu lực một phần, và gấp gối 120 độ, chạy nhẹ sau 3 tháng, sau 6 tháng  trở lại sinh hoạt bình thường. Một số trường hợp có thể phải phục hồi chức năng nếu như gối bị hạn chế duỗi trong một thời gian dài. Đa số các bệnh nhân có thể trở lại với sinh hoạt vận động bình thường, tuy nhiên, trong một số trường hợp tổn thương nặng có thể bệnh nhân vẫn bị triệu chứng đau và có nguy cơ thoái hóa, đau dai dẫn, viêm khớp, nang sụn chêm khớp gối khi gặp thể năng trong thời gian lâu dài.

Hình ảnh nội soi khớp gối sụn chêm ngoài hình đĩa thể hoàn toàn, sau tạo hình sụn chêm ngoài

7. Các trường hợp điều trị sụn chêm hình đĩa tại BUH

Tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) đã khám cho hai bệnh nhân không rõ cơ chế chấn thương, nhưng khớp gối đau và hạn chế vận động, kẹt khớp và có tiếng kêu khi duỗi gối, sau khi thăm khám tỉ mỉ và chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp gối có dấu hiệu bất thường. Được nhập viện hội chẩn phẫu thuật nội soi khớp gối bước đầu thành công.

Bệnh nhân Nguyễn T.T 41 tuổi đau khớp gối trái đã lâu, không có tiền sử chấn thương.

MRI khớp gối trước mổ
Hình ảnh sụn đĩa bên ngoài trong mổ
Hình ảnh sau phẫu thuật tạo hình sụn đĩa

BS.CKII. Trần Mậu Phong

Phó Trưởng Khoa Y Trường Đại học Buôn Ma Thuột

Trưởng Đơn vị Chấn thương chỉnh hình & Bỏng – Khoa Ngoại Tổng hợp BUH

Nguồn: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7550551/

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147