Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột: Ứng dụng kỹ thuật ESD trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột: Ứng dụng kỹ thuật ESD trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Vừa qua, Đơn vị nội soi Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) đã ứng dụng thành công kỹ thuật cắt tách dưới niêm mạc (ESD) trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm cho bệnh nhân mắc bệnh trên địa bàn tỉnh.

Bệnh nhân N.N.C (65 tuổi, trú tại TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) nhập viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột với tình trạng đau bụng âm ỉ vùng hạ vị kèm rối loạn tiêu hóa. Trước đó bệnh nhân đã đến khám tại cơ sở y tế khác và được chẩn đoán nghi ngờ tổn thương ung thư đại tràng.

Tại BUH, các bác sĩ nội soi trong quá trình thăm dò đã phát hiện khối u lan rộng bên (LST) với kích thước khoảng 25mm, bác sĩ tiến hành sinh thiết làm giải phẫu bệnh có kết quả một u tuyến nhánh loạn sản độ thấp. Qua hội chẩn và đánh giá tình trạng tổn thương, các bác sĩ quyết định điều trị cho người bệnh bằng phương pháp cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD). Điều may mắn là giai đoạn này các tổn thương còn khu trú ở lớp niêm mạc, thông qua ESD các bác sĩ sẽ cắt tách các tổn thương này, để lại lớp cơ của ống tiêu hóa mà không cần phải cắt bỏ một đoạn ruột, bảo tồn đường tiêu hóa.

Ekip Nội soi can thiệp đã thực hiện nội soi can thiệp cắt tách toàn bộ tổn thương ung thư sớm trực tràng cho người bệnh an toàn và thuận lợi sau hơn một giờ đồng hồ. Tổn thương sau khi cắt được làm làm xét nghiệm giải phẫu bệnh để đánh giá lại ranh giới rìa tổn thương, mức độ xâm lấn của ung thư.

Sau thủ thuật can thiệp, người bệnh tỉnh táo hoàn toàn và không đau bụng. Chỉ 24 giờ sau can thiệp, BN N.N.C đã có thể đi lại, sinh hoạt bình thường. “Sau nội soi can thiệp tôi cảm thấy rất khỏe, không cảm thấy đau đớn, khó chịu. Không phải tiến hành phẫu thuật và phục hồi sức khỏe nhanh như thế này tôi rất vui mừng. Gia đình tôi trong hoàn cảnh khó khăn, lại được Bác sĩ tận tình hỗ trợ về thiết bị để giảm chi phí điều trị. Tôi thật sự cảm ơn các bác sĩ, đặc biệt là BS Vượng đã tận tình điều trị, chăm sóc cho tôi”. – Chú N.N.C chia sẻ.

Hình ảnh và vị trí tổn thương qua nội soi.

Kết quả thực hiện kỹ thuật ESD. 

Hiện nay, ung thư đường tiêu hóa chiếm khoảng 25% trong các loại ung thư với tỷ lệ mắc có xu hướng ngày càng gia tăng. Cắt tách dưới niêm mạc (ESD – Endoscopic Submucosal Dissection) là kỹ thuật nội soi can thiệp hiện đại hiện nay, cho phép cắt bỏ các khối ung thư sớm, còn khu trú ở niêm mạc ống tiêu hóa (thực quản, dạ dày, đại trực tràng) mà không cần mổ hở để điều trị. Với phương pháp này, người bệnh có khả năng khỏi bệnh hoàn toàn, duy trì tuổi thọ như người bình thường, thoát khỏi “án tử” của căn bệnh ung thư đường tiêu hóa. 

Ung thư đường tiêu hóa hoàn toàn có thể phòng ngừa, do đó mọi người cần chủ động kiểm tra sức khỏe tổng quát định kỳ và thực hiện nội soi tầm soát ung thư đường tiêu hoá sớm.

BUH cấp cứu thành công bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi

Ngày 21/4 vừa qua, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột vừa cấp cứu, chẩn đoán và điều trị thành công một bệnh nhân bị thuyên tắc động mạch phổi bằng phương pháp dùng thuốc tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch. Đây là trường hợp mắc thuyên tắc động mạch phổi đầu tiên được chữa trị thành công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Bệnh nhân Nguyễn Thị Loan (55 tuổi, trú tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột với triệu chứng khó thở, mệt, vã nhiều mồ hôi. Sau khi được các bác sĩ thăm khám và chẩn đoán bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi, bệnh nhân đã được chuyển ngay vào phòng cấp cứu trong tình trạng khó thở với độ bão hòa oxy máu (SpO2) là 80%, huyết áp 80/50 mmHg. Nhận định bệnh nhân sẽ rơi vào tình trạng suy hô hấp và tuần hoàn cấp, qua đánh giá tình trạng bệnh nhân còn trẻ tuổi, nguy cơ xuất huyết thấp cộng với kinh nghiệm của mình, ê kíp các y, bác sĩ Khoa nội tim mạch của Bệnh viện và ThS.BS Nguyễn Văn Điền, BSCK2. Phạm Công Nam đã khẩn trương tiến hành điều trị cho bệnh nhân bằng phương pháp tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch. Toàn bộ quy trình cấp cứu và chẩn đoán bệnh nhân đều được thực hiện đúng theo khuyến cáo của Hội Tim mạch quốc gia Việt Nam, cũng như của các Hội tim mạch quốc tế. Nhờ vậy bệnh nhân đã được điều trị đặc hiệu sớm và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nguy kịch. Sau khi tiến hành phương pháp cấp cứu cho bệnh nhân, đến nay, sức khỏe của bệnh nhân đã ổn định, hồi phục tốt, dự kiến bệnh nhân được xuất viện trong vài ngày tới. 

Chia sẻ về trường hợp của mình, bệnh nhân Nguyễn Thị Loan cho biết: Ngày 21/4 tôi bắt xe từ Đồng Nai lên Đắk Lắk để dự đám cưới. Khi xuống xe, tôi thấy người mệt mỏi, khó thở, đau ngực. Sau khi về đến nhà người thân, tôi ngất xỉu, được người nhà đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột và buộc phải tiến hành phẫu thuật gấp vì bệnh tình nguy hiểm, trong khi chi phí chữa bệnh gia đình chưa lo đủ nhưng Bệnh viện vẫn nhiệt tình cứu chữa nên tôi mới giữ được tính mạng. Đến giờ tôi hồi phục tốt, mạnh khỏe như thế này quả thật tôi rất biết ơn các y, bác sĩ của Bệnh viện. 

Theo bác sĩ Thái Bình Dương – Phụ trách Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột cho biết: khi bệnh nhân đã được chẩn đoán thuyên tắc phổi cấp thì công tác điều trị phải được tiến hành ngay lập tức 1 trong 3 phương pháp gồm tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch, tiêu sợi huyết trực tiếp qua catheter và phẫu thuật mở ngực lấy huyết khối bằng bóng fogarty. Đây là các kỹ thuật khó, hiện đại và hiện chưa có nhiều bệnh viện thực hiện được kỹ thuật này nhưng tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã thực hiện thành công 2 kỹ thuật tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch, tiêu sợi huyết trực tiếp qua catheter.

Thuyên tắc động mạch phổi là một bệnh khá phổ biến, đứng thứ 3 trong các biến cố tim mạch, sau nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Biểu hiện bằng tình trạng tắc động mạch phổi cấp do cục máu đông di chuyển từ các tĩnh mạch sâu (thường ở chi dưới) đến phổi; dẫn đến tình trạng rối loạn nặng về hô hấp – tuần hoàn. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời thì tỉ lệ tử vong do thuyên tắc phổi cấp có thể lên đến 34% (theo ESC 2019). Chẩn đoán và điều trị sớm thuyên tắc động mạch phổi có ý nghĩa lớn trong cải thiện tiên lượng bệnh nhân, tuy nhiên đây là việc không hề dễ dàng bởi các triệu chứng lâm sàng của thuyên tắc động mạch phổi rất đa dạng và hầu hết đều không đặc hiệu, có thể xuất hiện ở rất nhiều bệnh cảnh khác nhau như nhồi máu cơ tim, phản vệ, viêm phổi,… Tương tự, các xét nghiệm cận lâm sàng để phục vụ cho chẩn đoán cũng rất đa dạng và đa số đều chỉ có tác dụng loại trừ chẩn đoán, trong đó ý nghĩa nhất là các xét nghiệm D-Dimer, siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính (CT) động mạch phổi,… Do đó, để chẩn đoán sớm và chính xác thuyên tắc động mạch phổi cần dựa rất nhiều vào kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ y bác sĩ, trên cơ sở các khuyến cáo của các Hiệp hội quốc tế và Hội tim mạch quốc gia Việt Nam.

Hình chụp cắt lớp vi tính (CT) ban đầu

BS Thái Bình Dương thăm khám bệnh nhân

NHỒI MÁU NÃO VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Nhồi máu não là một trong những loại đột quỵ gây tử vong và tàn phế cao cho người bệnh. Bệnh chiếm 80% các ca bị đột quỵ, xảy ra khi mạch máu cung cấp cho não bị tắc bởi cục máu đông, huyết khối, hẹp xơ vữa động mạch gây ra vùng hoại tử và thiếu máu não, dẫn đến tế bào não bị chết chỉ sau vài phút. 

Theo con số thống kê, hàng năm Việt Nam có khoảng 200.000 ca bệnh đột quỵ, và con số này vẫn đang có chiều hướng gia tăng. Theo Hội đột quỵ thế giới 2022, mỗi năm thế giới có hơn 12,2 triệu ca đột quỵ não mới, trong đó hơn 16% xảy ra ở người trẻ 15-49 tuổi. Đây là những con số đáng báo động vì độ tuổi đột quỵ não ngày càng trẻ hóa, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ là gánh nặng của gia đình và xã hội. Việc phát hiện sớm, điều trị sớm giúp người bệnh được hồi phục, trở lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn. 

Vừa qua, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) đã cấp cứu thành công bệnh nhân nhồi máu não nguy kịch, sau 4 ngày điều trị tại Khoa Nội BUH BN đã dần hồi phục. 

BUH cấp cứu thành công bệnh nhân nhồi máu não nguy kịch

Bệnh nhân T.X.P ( 48 tuổi) nhập viện trong tình trạng vẫn còn tỉnh táo, tiếp xúc tốt nhưng liệt mặt phải, liệt và tê bì 1/2 người phải, cơ lực tay chân phải 1/5, mạch: 75 lần/phút, huyết áp: 150/90 mmHg. Tim đều, phổi trong, bụng mềm, đánh giá dấu hiệu thần kinh theo thang đo đột quỵ của Viện y tế Quốc gia (NIHSS) là 09 điểm – đột quỵ não nguy kịch. 

Sau khi tiếp nhận, BN được bác sĩ Khoa cấp cứu thăm khám và chẩn đoán ban đầu: Theo dõi đột quỵ não chưa xác định xuất huyết hay nhồi máu não giờ thứ 3. Bệnh nhân nhanh chóng được thực hiện các xét nghiệm máu, chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não. Kết quả chụp cắt lớp vi tính xác định bệnh nhân bị nhồi máu não cấp giờ thứ 3.

Sau khi được giải thích tình trạng bệnh, phương án điều trị, gia đình đồng ý phương án điều trị của bác sĩ là thực hiện tái thông đường tĩnh mạch cấp cứu bằng thuốc tiêu sợi huyết Actylase và theo dõi theo phác đồ.

Thuốc tiêu sợi huyết Actylase được chứng minh là có lợi cho những bệnh nhân bị đột quỵ thiếu máu não, giúp phục hồi lưu lượng máu não, có thể giúp cải thiện và giải quyết các khiếm khuyết thần kinh.

Ngay sau khi cấp cứu, bệnh nhân lấy lại được sức cơ, huyết áp được điều chỉnh về giới hạn cho phép. Cảm giác tê bì nửa người cần phải cải thiện dần theo thời gian. Sau 4 ngày điều trị, sức cơ BN gần như hồi phục hoàn toàn, không còn cảm giác tê bì.

Nguyên nhân bệnh nhồi máu não

Có nhiều nguyên nhân gây nhồi máu não như xơ vữa huyết khối của mạch máu lớn, tắc các mạch máu nhỏ trong não. Ngoài ra, các bệnh tim gây cục huyết khối như bệnh van tim, rung nhĩ, bệnh động mạch không xơ vữa và các bệnh về máu cũng có thể gây ra bệnh nhồi máu não.

Các số liệu cụ thể về nguyên nhân gây nên nhồi máu não bao gồm:

  • Xơ vữa huyết khối của mạch máu lớn chiếm 50% gồm 45% mạch máu lớn ngoài sọ và 5% mạch máu lớn trong sọ
  • Huyết khối từ tim như bệnh van tim, rung nhĩ, … chiếm 20%
  • Tắc các mạch máu nhỏ trong não chiếm 25% 
  • Bệnh động mạch không xơ vữa và bệnh về máu đều chiếm dưới 5%

Bên cạnh đó, các yếu tố nguy cơ gây bệnh hay gặp là hút thuốc lá, thuốc lào, hít nhiều khói thuốc lá; ăn nhiều thực phẩm chứa cholesterol, ít ăn rau, ăn quá mặn, quá ngọt; người mắc bệnh tăng huyết áp; lượng đường trong máu cao; người ít hoạt động thể chất hoặc có thành viên trong gia đình bị xơ vữa động mạch;  môi trường sống bị ô nhiễm…

Đối tượng nguy cơ bị nhồi máu não

Nhồi máu não thường gặp ở người bị đái tháo đường (nguy cơ gấp 4 lần so với người bình thường), tăng huyết áp (nguy cơ gấp 3 lần so với người bình thường), bệnh tim mạch (gấp 6 lần), rối loạn mỡ máu, những người béo phì, ít vận động, hút nhiều thuốc lá.

Triệu chứng của bệnh nhồi máu não cấp

Những triệu chứng của bệnh nhồi máu não rất đa dạng, phụ thuộc vào mức độ tổn thương cũng như vị trí vùng não bị tổn thương, bệnh nhân thường gặp một số triệu chứng như sau:

  • Đau đầu: Đau đầu dữ dội, đột ngột mà không rõ nguyên nhân kèm theo các triệu chứng khác như hoa mắt, chóng mặt, khó thở, tức ngực, đi lại loạng choạng, choáng váng, mắt mờ nhìn không rõ, tối sầm mặt mày,..
  • Liệt nửa người: Cơ thể bệnh nhân thường rất yếu, mất cảm giác nửa người hoặc tê liệt toàn thân, không phối hợp được các hoạt động tay chân và thân người.
  • Méo miệng, liệt mặt, khó nói hoặc nói ngọng thậm chí không nói được, nôn ói, miệng chảy nước dãi.
  • Rối loạn ý thức, suy giảm trí nhớ, lú lẫn, không thể nhận biết rõ xung quanh. Có biểu hiện co giật, đại tiểu tiện không tự chủ hoặc rơi vào hôn mê.

Những lưu ý khi phát hiện triệu chứng nhồi máu não

Khi xuất hiện những triệu chứng trên, người bệnh cần giữ nguyên tư thế và không được hoạt động, sau đó nhanh chóng gọi cấp cứu hoặc đưa bệnh nhân đến bệnh viện có điều trị đột quỵ gần nhất. Người bệnh cần ghi nhớ thời điểm phát bệnh để thông báo với nhân viên y tế.

Phòng ngừa đột quỵ

Chúng ta cũng có thể dự phòng đột quỵ và đảm bảo sức khỏe thông qua những hành động thiết thực :

– Giữ cân nặng hợp lý.

– Tập thể dục thường xuyên (30 phút/ngày, 150 phút mỗi tuần).

– Chế độ ăn đúng: Giảm chất béo, giảm muối, tăng cường rau và trái cây.

– Hạn chế rượu bia và các chất kích thích.

– Khám sức khỏe định kỳ và tuân thủ các chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là duy trì điều trị ở những bệnh lý mãn tính như rung nhĩ, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu.  

Hiện nay, tầm soát tim mạch là cách tốt nhất để giảm thiểu nguy cơ tử vong do đột quỵ, nhồi máu não. Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột cung cấp dịch vụ tầm soát bệnh lý mạch máu và đột quỵ, dịch vụ thăm khám được thực hiện bởi các bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, hệ thống thiết bị chuẩn đoán hiện đại. Đặc biệt gói khám thiết kế khoa học, quy trình khám, tư vấn, điều trị khép kín giúp người bệnh tiết kiệm thời gian. 

Khách hàng có thể tham khảo chi tiết gói khám tại: https://benhvienbmt.com/dich-vu/goi-tam-soat-benh-ly-mach-mau-va-dot-quy/ 

Đăng ký và tư vấn dịch vụ khám tại tổng đài tư vấn: 19001147

TÁCH TIỂU CẦU BẰNG MÁY TỰ ĐỘNG HIỆN ĐẠI TẠI BUH

TÁCH TIỂU CẦU BẰNG MÁY TỰ ĐỘNG HIỆN ĐẠI TẠI BUH

Tách tiểu cầu chất lượng cao cho các trường hợp diễn tiến nguy hiểm cần phải truyền tiểu cầu

Tiểu cầu là loại tế bào quan trọng trong máu, chức năng chính của tiểu cầu là thực hiện quá trình đông cầm máu. Khối tiểu cầu là một loại chế phẩm, loại thuốc rất đặc biệt được điều chế từ nhiều đơn vị máu toàn phần hoặc từ gạn tách tiểu cầu trực tiếp của một người hiến. Chế phẩm này được sử dụng cho điều trị và dự phòng các biểu hiện chảy máu do giảm số lượng và chất lượng tiểu cầu.

Một số trường hợp được Bác sĩ chỉ định truyền tiểu cầu:

– Phòng ngừa xuất huyết

– Bệnh nhân đang chảy máu hoặc chuẩn bị có phẫu thuật xâm lấn

– Rối loạn chức năng tiểu cầu

– Phòng ngừa cho bệnh nhân sốt, nhiễm trùng huyết trước đó

– Bệnh lý đông cầm máu và tiểu cầu giảm nhanh

– Bệnh nhân loạn sinh tủy hoặc suy tủy khi có xuất huyết (…)

BUH ứng dụng điều trị các trường hợp trên bằng khối tiểu cầu được gạn tách từ một người hiến bằng hệ thống máy tách tiểu cầu tự động. Máy tách thành phần máu tự động MCS+ của hãng Haemonetics là một hệ thống tự động và khép kín, thành phần máu được phân tách riêng biệt nhờ quá trình ly tâm máu với những ưu điểm vượt trội sau:

Đối với người được hiến:

– Hiệu suất thu tiểu cầu cao

– Tiểu cầu thu được từ quá trình phân tách có chức năng tiểu cầu tốt hơn so với các sản phẩm thu được từ máu toàn phần.

– Khối tiểu cầu gạn tách giúp giảm thiểu tình trạng người bệnh phơi nhiễm với nhiều loại kháng nguyên bạch cầu từ nhiều người hiến máu, hạn chế tình trạng đồng miễn dịch với bạch cầu.

Đối với người hiến:

– Sau khi phân tách, huyết tương và hồng cầu được trả lại người hiến.

– Tùy chọn bù muối để bổ sung cho lượng dung dịch mất trong quá trình hiến tặng

Vừa qua, BUH có tiếp nhận bệnh nhân H.M.T sốt ngày thứ 2, nhức mỏi, mệt nhiều. Đến ngày thứ 5 BN đã không còn sốt nữa nhưng mệt mỏi và kèm theo các triệu chứng: đau bụng thượng vị và vùng gan liên tục, chảy máu chân răng. BN được các Bác sĩ Khoa Nội Tổng Hợp chẩn đoán sốt xuất huyết dengue ngày 5 có dấu hiệu cảnh báo (chảy máu chân răng). BN nhập viện với tình trạng chỉ số tiểu cầu thấp 7.0 K/uL, men gan tăng nhẹ. 

Tại Khoa, BN được theo dõi liên tục theo phác đồ Bộ Y Tế về các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng. BN được chỉ định truyền khối tiểu cầu và các phương pháp cầm máu tại chỗ, bù nước…. Sau 4 ngày điều trị, BN đã ổn định, hết chảy máu chân răng, hết đau bụng, chỉ số tiểu cầu xu hướng tăng về mức an toàn nên được BS chỉ định xuất viện.

Tại BUH, việc điều trị cho BN đều có sự phối hợp giữa các liên chuyên khoa nhằm nhằm can thiệp kịp thời, mang lại kết quả điều trị cao nhất cho bệnh nhân. Khoa Xét Nghiệm BUH được đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ để cung cấp đầy đủ các loại xét nghiệm từ cơ bản đến chuyên sâu với đầy đủ các lĩnh vực (Huyết học – Truyền máu; Sinh Hóa – Miễn dịch; Vi sinh – Sinh học Phân tử; Giải phẫu bệnh) để phục vụ và hỗ trợ tốt nhất cho công tác khám, chữa bệnh.

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

 

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

Bệnh sán lá gan lớn là bệnh ký sinh trùng do một số loài sán lá gan thuộc họ Fasciolidae gây nên những tổn thương, những ổ áp xe tại gan hoặc một số cơ quan khác khi ký sinh lạc chỗ. Người mắc bệnh do ăn sống các loại rau thuỷ sinh như: rau ngổ, rau muống, rau rút, rau cần, rau cải xoong, ngó sen… hoặc uống nước có nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn.

Bệnh sán lá gan lớn ở người chủ yếu do hai loài Fasciola hepatica và Fasciola gigantica gây nên. Loài Fasciola hepatica phân bố chủ yếu ở Châu Âu, Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Á. Loài Fasciola gigantica phân bố chủ yếu ở Châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Việt Nam là loài F. gigantica lại với F. hepatica.

Nguồn bệnh và chu kỳ phát triển của sán lá gan lớn

Vật chủ chính của sán lá gan lớn là người, động vật ăn cỏ như trâu, bò, cừu và động vật có sừng khác.

Sán trưởng thành đẻ trứng theo đường mật xuống ruột và ra ngoài theo phân. Trứng sán lá gan lớn có kích thước 140 x 80mm.

– Trứng sán xuống nước, nở ra ấu trùng lông, ấu trùng lông xâm nhập vào một số loài ốc là vật chủ trung gian thứ nhất. Trong ốc ấu trùng lông phát triển thành ấu trùng đuôi, ấu trùng đuôi rời khỏi óc và bám vào các loại rau thuỷ sinh tạo nang trùng hoặc bơi tự do trong nước.

– Người hoặc trâu, bò, cừu, dê… ăn phải thực vật thủy sinh hoặc uống nước chưa nấu chín có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán lá gan lớn.

 

Thời kỳ lây truyền

 

Giai đoạn xâm nhập vào nhu mô gan 

– Khi người bị nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn, ấu trùng vào dạ dày, xuống tá tràng, tự tách vỏ và xuyên qua thành tá tràng vào khoang phúc mạc rồi xuyên thẳng đến gan, xâm nhập vào nhu mô gan gây tổn thương gan. Đây cũng chính là giai đoạn kích thích cơ thể phản ứng miễn dịch mạnh nhất.

– Kháng thể IgG xuất hiện sau 2 tuần.

– Sán lá gan lớn ký sinh chủ yếu ở ống mật nhưng trước khi vào ống mật, chúng vào nhu mô gan gây tổn thương dạng u hay áp xe, trong giai đoạn xâm nhập sán có thể di chuyển lạc chỗ và gây các tổn thương ở các cơ quan khác như thành ruột, thành dạ dày, thành bụng, tuyến vú, đôi khi có cả trong bao khớp.

Giai đoạn xâm nhập vào đường mật

– Sau giai đoạn xâm nhập vào nhu mô gan từ 2-3 tháng, sán xâm nhập vào đường mật thành sán trưởng thành và đẻ trứng. Sán trưởng thành có thể ký sinh và gây bệnh trong nhiều năm nếu không được phát hiện và điều trị.

– Tại đường mật: sán gây tổn thương biểu mô đường mật, tắc mật, viêm và xơ hóa đường mật thứ phát.

– Viêm tụy cấp.

– Là yếu tố gây bội nhiễm.

Triệu chứng lâm sàng

Các biểu hiện lâm sàng của bệnh do sán lá gan lớn gây nên thường không đặc hiệu, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển và vị trí sán ký sinh, cũng như số lượng ấu trùng sán xâm nhập vào cơ thể người.

– Thể nhẹ 

+ Triệu chứng lâm sàng của bệnh do sán lá gan lớn thường không đặc hiệu, có trường hợp không có triệu chứng, chỉ khi khám sức khỏe mới phát hiện tổn thương.

+ Người bệnh thấy mệt mỏi, biếng ăn, gầy sút, sốt, thiếu máu.

– Thể trung bình 

+ Đau bụng: Đau vùng hạ sườn phải lao về phía sau (chiếm 70-80 % các trường hợp), hoặc đau vùng thượng vị hoặc và mũi ức. Tính chất đau không đặc hiệu, có thể đau âm ỉ, đôi khi đau dữ dội, đau từng cơn, đau tức.

+ Sốt: Sốt cao, rét run đôi khi sốt kéo dài.

+ Thiếu máu: da xanh, niêm mạc nhợt. Gặp ở các trường hợp nhiễm kéo dài.

+ Rối loạn tiêu hóa: Người bệnh có cảm giác đầy bụng khó tiêu, rối loạn tiêu | hóa, buồn nôn.

– Thể nặng 

+Một số người bệnh có biểu hiện lâm sàng của biến chứng: tắc mật, viêm đường mật, viêm tụy cấp, xuất huyết tiêu hóa….

+ Gan to hoặc bình thường, mật độ mềm, ấn đau.

+Phản ứng viêm: đau nhiều khớp, đau cơ, đỏ da.

+ Có mẩn ngứa ngoài da, dị ứng da gặp ở 20-30 % người bệnh, biểu hiện các nốt sần trên da gặp chủ yếu ở đùi, mông, lưng, cảm giác ngứa, bứt rứt, khó chịu.

+Ho, khó thở.

+ Mệt mỏi, biếng ăn, gầy sút.

+ Sốt: sốt thất thường, có thể sốt cao, rét run hoặc chỉ sốt thoáng qua rồi hết, đôi khi sốt kéo dài.

+ Tràn dịch màng phổi.

+ Các triệu chứng biểu hiện sự tổn thương tổ chức nơi sản ký sinh lạc chỗ như khớp, vú, cơ ngực, bắp chân hoặc các cơ quan khác.

+ Có trường hợp vỡ gan (Việt Nam đã gặp 1 trường hợp năm 2014).

Khi xuất hiện các triệu chứng trên người bệnh cần chủ động đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.

Các phương pháp thăm khám phát hiện sán lá gan lớn tại các bệnh viện

Xét nghiệm 

– Công thức máu: Bạch cầu ái toan thường tăng, số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi có thể tăng.

– Sinh hóa: Có thể tăng men gan, tăng Bilirubin toàn phần, bilirubin trực tiếp.

– Xét nghiệm phân hay dịch tá tràng tìm trứng sán lá gan lớn là chẩn đoán “vàng” nhưng ở Việt Nam ít khi tìm thấy trứng vì sán ít vào ống mật để đẻ trứng.

– Xét nghiệm ELISA: Phát hiện kháng thể kháng sán lá gan lớn rất có giá trị.

– Xét nghiệm sinh học phân tử: Để chẩn đoán sán lá gan lớn.

Chẩn đoán hình ảnh 

 – Siêu âm ổ bụng, CT/MRI ổ bụng thấy hình ảnh tổn thương gan mật là vùng giảm âm không đồng nhất, không có bờ rõ ràng, hoặc những ổ hỗn hợp âm hình tổ ong, nhiều ổ nhỏ tập trung thành đánh lớn, hay gặp ở gan phải, có thể thấy hình ảnh tụ dịch dưới bao gan.

– Trên siêu âm cũng như chụp cắt lớp vi tính có thể nhầm với ung thư gan và các loại áp xe gan do nguyên nhân khác.

Chẩn đoán bệnh sán lá gan lớn

Chẩn đoán xác định

– Yếu tố dịch tễ: Người bệnh sống trong vùng sán lá gan lớn lưu hành.

– Có tiền sử ăn sống các loại rau thuỷ sinh và uống nước chưa hợp vệ sinh.

– Bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng hướng tới bệnh sán lá gan lớn.

Chẩn đoán phân biệt 

Cần phân biệt với một số trường hợp bệnh lý sau đây:

– U gan: trên siêu âm cũng như chụp cắt lớp vi tính, hình ảnh của apxe gan do sán lá gan lớn đôi khi cũng giống hình ảnh của ung thư gan. Phân biệt cần dựa vào định lượng AFP.

– Các áp xe do nguyên nhân khác như:

+ Áp xe gan amip

+ Áp xe gan vi khuẩn

+ Áp xe đường mật do sỏi, giun

– Tràn dịch màng phổi do lao hay nguyên nhân khác

– Sẩn ngứa mề đay do cơ địa hay nguyên nhân khác

– Phân biệt một số trường hợp hiếm gặp: U đại tràng, áp xe vú, viêm bao hoạt dịch khớp gối, viêm cơ… rất hiếm gặp, do ấu trùng đi lạc chỗ.

Các phương pháp điều trị được áp dụng chung tại các bệnh viện hiện nay

– Điều trị bằng thuốc đặc hiệu để diệt sán lá gan lớn, Dùng thuốc lợi mật, nhuận tràng trước và sau điều trị thuốc đặc hiệu.

– Điều trị triệu chứng bằng các thuốc kháng histamin, giảm đau…

– Nâng cao thể trạng, kết hợp theo dõi điều trị bệnh nền.

– Người bệnh tái khám sau điều trị 1 tháng để đánh giá hiệu quả điều trị.

– Nếu bệnh nhân còn nhiễm bệnh sán lá gan lớn thì tiếp tục điều trị nhắc lại liệu trình điều trị.

– Với các trường hợp có ổ áp xe gan kích thước lớn trên 6cm mà điều trị bằng thuốc không có hiệu quả, có thể phối hợp với chọc hút ổ áp xe.

– Điều trị ngoại khoa: Khi phát hiện muộn điều trị nội khoa không hiệu quả.

Hướng dẫn phòng bệnh sán lá gan lớn

– Nhiễm sán lá gan lớn liên quan đến thói quen và tập quán ăn uống của người dân, vì vậy phòng bệnh là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết,

+ Không ăn sống các loại rau mọc dưới nước;

+ Không uống nước lã;

+ Người nghi ngờ nhiễm sán lá gan lớn phải đến cơ sở khám chữa bệnh để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

– Chủ động phát hiện và điều trị sớm bệnh sán lá gan lớn tại vùng lưu hành bệnh.

– Định kỳ tẩy sán cho trâu, bò, cừu, dê…

HÔ HẤP KÝ – KỸ THUẬT CẬN LÂM SÀNG CƠ BẢN TRONG THĂM DÒ CHỨC NĂNG CỦA HỆ HÔ HẤP ĐƯỢC ỨNG DỤNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BUH 

Hô hấp ký – kỹ thuật được sử dụng trong đánh giá, hỗ trợ chẩn đoán các bệnh lý đường hô hấp. Đây là một phương pháp an toàn, không xâm lấn, ít gây khó chịu, ít độc hại và không gây tai biến cho người thực hiện. Kỹ thuật này được Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đại Học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) triển khai thực hiện bởi đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng có chuyên môn cao, được đào tạo bài bản cùng với sự hỗ trợ của trang thiết bị hiện đại, tiên tiến mang lại kết quả chẩn đoán chính xác cho người bệnh.

Hô hấp ký và hiệu quả trong việc đánh giá các bệnh lý đường hô hấp

Hô hấp ký là kỹ thuật đo chức năng thông khí của hệ hô hấp bằng máy đo khả năng hít vào, thở ra để phân tích những thông số hô hấp liên quan đến hoạt động của phổi. Từ đó biết được lưu lượng khí lưu thông trong phổi, giúp đánh giá mức độ nghiêm trọng của hội chứng tắc nghẽn phế quản hoặc hạn chế thông khí. Đây là 2 hội chứng rối loạn thông khí ở phế quản phổi.

Đây là một phương pháp an toàn, không xâm lấn, ít gây khó chịu, ít độc hại và không gây tai biến cho người thực hiện

Hô hấp ký đo chức năng thông khí bằng cách: Nhân viên Y tế sẽ sử dụng thiết bị phế dung kế, thiết bị này có một ống thở có gắn với máy tính và người thực hiện sẽ thở vào ống này và đo được các thể tích khí cần thiết. 

Thực hiện đo chức năng thông khí tại BUH

Khi nào cần thực hiện phương pháp hô hấp ký

Theo các bác sĩ Khoa Nội tổng hợp BUH cho biết, đo chức năng thông khí được chỉ định trong tất cả các bệnh liên quan đến hô hấp như: 

  • Chẩn đoán và theo dõi kết quả điều trị các bệnh lý về hô hấp: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, giãn phế quản, xơ phổi,…
  • Đánh giá các bệnh nghi ngờ do đường hô hấp: Đau ngực, khó thở, hút thuốc lá, người làm việc trong môi trường khói bụi,…
  • Đánh giá mức độ ảnh hưởng chức năng thông khí phổi của 1 số bệnh lý có tổn thương đường hô hấp.
  • Đánh giá nguy cơ trước khi gây mê phẫu thuật
  • Đánh giá tình trạng hô hấp trước khi làm nghiệm pháp gắng sức.
  • Điều tra cộng đồng về dịch tễ học.
  • Khám sức khỏe định kỳ cho công nhân làm việc trong môi trường nhiều khói bụi.
  • Test phục hồi phế quản, kỹ thuật này giúp chẩn đoán xác định hen và chẩn đoán phân biệt hen với bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.

Để đạt kết quả chẩn đoán chính xác, bệnh nhân cần tuân thủ theo đúng hướng dẫn của Bác sĩ và nhân viên Y tế.

Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột là một trong những khoa khám, sàng lọc và điều trị chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực như nội tiêu hóa – gan mật; nội tiết; nội thần kinh; truyền nhiễm và lão học. Với đội ngũ Bác sĩ, Điều dưỡng giàu kinh nghiệm có trình độ chuyên môn cao, sở hữu cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại thực hiện khám và tầm soát hầu hết các bệnh lý, đáp ứng nhu cầu khám bệnh nội khoa ở mọi lứa tuổi. Ngoài ra Khoa có sự kết hợp chặt chẽ với các khoa chuyên môn trong Bệnh viện đã mang đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người bệnh.