ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP NGOẠI THẦN KINH & UNG BƯỚU TẠI BUH

ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP NGOẠI THẦN KINH & UNG BƯỚU TẠI BUH

ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP NGOẠI THẦN KINH
ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP NGOẠI THẦN KINH & UNG BƯỚU TẠI BUH – PHỤC HỒI VẬN ĐỘNG CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ DI CĂN

Vừa qua, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) đã tiếp nhận và điều trị thành công một trường hợp bệnh nhân nam 67 tuổi mắc ung thư tuyến tiền liệt di căn cột sống. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đau lưng dữ dội kèm tê buốt, liệt 2 chân, đau đớn này gây mất ngủ và giảm chất lượng cuộc sống trầm trọng

Qua thăm khám lâm sàng và kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI), các bác sĩ phát hiện khối u đã chèn ép chùm đuôi ngựa – nhóm các rễ thần kinh nằm ở đoạn cuối của tủy sống, có chức năng chi phối vận động và cảm giác của hai chân cũng như hoạt động tiểu tiện, đại tiện. Khi khu vực này bị chèn ép, người bệnh có nguy cơ cao bị yếu liệt chi dưới, rối loạn vận động và suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống.

Trước nguy cơ tổn thương thần kinh tiến triển nặng và có thể gây liệt hoàn toàn, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Ngoại Thần kinh và Ung bướu tại BUH đã tiến hành hội chẩn liên chuyên khoa để xây dựng phác đồ điều trị tối ưu cho người bệnh. Mục tiêu của phương án điều trị không chỉ là xử lý tổn thương do khối u gây ra mà còn hướng đến việc giảm đau, bảo tồn chức năng vận động và giúp bệnh nhân duy trì sinh hoạt hằng ngày một cách nhẹ nhàng, thoải mái nhất.

Phương án điều trị được triển khai gồm:

1. Phục hồi chức năng thần kinh

  • Phẫu thuật giải áp thần kinh: loại bỏ sự đè ép từ khối u lên các rễ thần kinh, tủy sống để giảm nguy cơ yếu liệt và hỗ trợ phục hồi vận động.
  • Cố định cột sống và gia cố thân sống bằng xi măng sinh học: giúp cột sống ổn định, hạn chế nguy cơ gãy xẹp và đảm bảo an toàn khi vận động.
  • Hướng dẫn phục hồi chức năng: điều trị y học cổ truyền, tập vận động và đi lại với khung hỗ trợ, giúp bệnh nhân dần lấy lại khả năng tự chủ trong sinh hoạt.

2. Giảm đau và chăm sóc toàn diện

  • Điều trị giảm đau đa mô thức: kết hợp thuốc giảm đau với chăm sóc hỗ trợ tại giường, giúp bệnh nhân ngủ ngon hơn và cải thiện khả năng ăn uống.
  • Hỗ trợ tâm lý: đội ngũ y bác sĩ luôn lắng nghe, động viên, giúp bệnh nhân duy trì tinh thần tích cực và yên tâm trong suốt quá trình điều trị.

3. Điều trị ung thư toàn thân

  • Phối hợp đa mô thức: sau phẫu thuật, bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và chỉ định các phương pháp điều trị phù hợp như hóa trị hoặc xạ trị nhằm kiểm soát tiến triển của ung thư di căn nhiều cơ quan và hạn chế tác động tiêu cực đến cơ thể.

Sau phẫu thuật, tình trạng của bệnh nhân cải thiện rõ rệt: cơn đau giảm dần, cơ lực hai chân phục hồi đáng kể (từ mức 2/5 lên 4/5), tinh thần và giấc ngủ cũng được cải thiện.

BSCKI. Từ Ngọc Hiếu – Bác sĩ chuyên khoa Ung bướu cho biết, việc nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư đòi hỏi cách tiếp cận điều trị toàn diện, kết hợp giữa điều trị y khoa chuyên sâu với chăm sóc giảm nhẹ, dinh dưỡng hợp lý và hỗ trợ tâm lý. Khi những yếu tố này được chăm sóc đồng bộ, bệnh nhân có thể sống tích cực hơn, tự chủ trong sinh hoạt hằng ngày và vững vàng hơn trên hành trình điều trị lâu dài.

BSCKI Nguyễn Văn Tấn – Phó Trưởng khoa Ngoại Tổng hợp BUH chia sẻ thêm: “Đối với nhiều bệnh nhân ung thư, có được một giấc ngủ ngon hay có thể tự đi lại nhẹ nhàng là những điều tưởng chừng rất bình thường nhưng lại vô cùng quý giá. Với ekip bác sĩ, việc phục hồi khả năng vận động cho người bệnh tuy không trực tiếp điều trị khối u, nhưng đó thực sự là một ca phẫu thuật giúp ‘hồi sinh’ chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.”

Với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa cùng hệ thống trang thiết bị hiện đại, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột luôn nỗ lực mang đến các giải pháp điều trị toàn diện, không chỉ tập trung vào bệnh lý mà còn chú trọng nâng cao chất lượng sống cho từng người bệnh, đồng hành cùng bệnh nhân trên hành trình phục hồi và tìm lại niềm vui sống.

CẢNH BÁO NGUY CƠ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

DÂN VĂN PHÒNG NGỒI LIÊN TỤC 7-9 TIẾNG MỖI NGÀY: CẢNH BÁO NGUY CƠ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

Nguy cơ thoát vị đĩa đệm dần trẻ hóa

Trong nhịp sống công nghiệp hiện nay, thói quen làm việc kéo dài trước màn hình máy tính, ngồi lâu, cúi người thường xuyên, bê vác hoặc duy trì một tư thế trong thời gian dài đang âm thầm tạo áp lực lớn lên cột sống. Thoát vị đĩa đệm vì thế không còn là bệnh lý của người lớn tuổi mà ngày càng trẻ hóa, đặc biệt ở nhóm lao động trẻ và dân văn phòng.

Vừa qua, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột tiếp nhận hai trường hợp điển hình về thoát vị đĩa đệm:

Hình ảnh khối thoát vị di trú trên phim cộng hưởng từ (MRI)
  • BN Đ.😭 (35 tuổi) làm thủ kho, công việc đòi hỏi đứng lâu, cúi người và bê xếp giấy tờ sai tư thế trong thời gian dài.
  • BN L.N.T (22 tuổi) làm nghề nông, thường xuyên cúi gập và mang vác nặng khiến cột sống chịu áp lực liên tục.

Cả hai người bệnh đều nhập viện trong tình trạng đau lưng kéo dài, tê lan xuống chân, ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt và khả năng lao động dù còn rất trẻ.

CHẨN ĐOÁN & ĐIỀU TRỊ:

noi-soi-thoat-vi-dia-dem
Nội soi cột sống điều trị thoát vị đĩa đệm tại BUH phương pháp ít xâm lấn

Qua thăm khám lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh, các bác sĩ xác định cả hai trường hợp bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, khối thoát vị chèn ép rễ thần kinh gây đau, tê và hạn chế vận động. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tư thế sinh hoạt, lao động sai và tình trạng quá tải kéo dài, không liên quan đến chấn thương cấp tính.

Sau khi được tư vấn đầy đủ các phương án điều trị, BN lựa chọn phẫu thuật nội soi lấy nhân đệm – một kỹ thuật hiện đại, ít xâm lấn, ít đau, thẩm mỹ, an toàn hơn so với phương pháp mổ hở truyền thống.

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM BẰNG PHƯƠNG PHÁP LẤY NHÂN ĐỆM:

Các triệu chứng do thoát vị đĩa đệm giảm rõ rệt, vết mổ chỉ còn đau nhẹ. Sau 1 ngày, người bệnh ngồi dậy đi lại như bình thường và xuất viện ngay ngày hôm sau.

KHUYẾN CÁO:

Theo BSNT. Lê Tiến Bảo – Khoa Ngoại BUH, người làm việc văn phòng không nên ngồi liên tục quá 30 phút. Việc đứng dậy vận động, thay đổi tư thế định kỳ giúp cải thiện tuần hoàn, duy trì sức khỏe tim mạch và hạn chế nguy cơ béo phì, đau cột sống, thoát vị đĩa đệm cùng nhiều bệnh lý mạn tính khác. Sau mỗi 45 phút làm việc, nên dành 5–10 phút đi lại hoặc thực hiện các động tác giãn cơ nhẹ, vừa giúp cơ thể thư giãn, vừa nâng cao hiệu quả làm việc.

Hiện nay, phẫu thuật nội soi cột sống là một trong những kỹ thuật điều trị hiện đại đang được triển khai thường quy tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột. Với ưu điểm ít xâm lấn, giảm đau sau mổ và rút ngắn thời gian hồi phục, phương pháp này đã giúp nhiều người bệnh thoát khỏi các triệu chứng do thoát vị đĩa đệm, sớm trở lại sinh hoạt và lao động bình thường.

 

NHƯỢC CƠ DO U TUYẾN ỨC – BIỂU HIỆN DỄ NHẦM LẪN VỚI SUY NHƯỢC CƠ THỂ

NHƯỢC CƠ DO U TUYẾN ỨC – BIỂU HIỆN DỄ NHẦM LẪN VỚI SUY NHƯỢC CƠ THỂ

Anh P.V.B (1989, Đắk Nông) cho biết, cách đây một tháng trước anh cảm thấy 2 mắt nặng trĩu, mệt mỏi, uể oải toàn thân. Anh nghĩ đơn giản đây chỉ là biểu hiện suy nhược cơ thể thông thường do làm việc nhiều nên không đi khám. Các triệu chứng ngày càng tăng lên, mệt mỏi tiến triển, 2 mắt nặng trĩu, khó mở và bắt đầu có biểu hiện yếu dần tứ chi, nuốt khó nên nhập viện cấp cứu tại Bệnh viên Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) vào ngày 21/03/2025

Taị BUH, bệnh nhân nhập cấp cứu khám lâm sàng với các biểu hiện: sụp mi 2 bên, đồng tử 2 mắt co dãn bình thường, yếu tứ chi, cơ lực 3 – 4/5, có tình trạng nuốt khó với đồ ăn đặc, không có biểu hiện khó thở, không suy hô hấp. Bệnh nhân được làm các xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh đều có kết quả bình thường (đường máu, điện giải đồ, chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não… Sau đó các bác sĩ cấp cứu chẩn đoán sơ bộ: Nhược cơ chưa rõ nguyên nhân.

Bệnh nhân được chuyển lên khoa Nội Tổng hợp điều trị tình trạng nhược cơ cũng như tìm nguyên nhân của bệnh. Bệnh nhân được làm các marker miễn dịch, chụp CT lồng ngực có thuốc cản quang phát hiện: khối u thất trước nghi u tuyến ức, kích thước # 32x20x31mm, tổn thương giới hạn rõ, bờ đều, không xâm lấn mạch máu và tim, không xâm lấn màng phổi, tổn thương có đậm độ mô, ngấm thuốc không đều sau tiêm.

 

 

BUH tiến hành hội chẩn liên chuyên khoa với các bác sĩ chuyên Khoa Chẩn đoán hình ảnh – TDCN, Ngoại Lồng ngực để thống nhất chẩn đoán và phương án điều trị sau 2 ngày nhập viện. Bệnh nhân được chẩn đoán nhược cơ do u tuyến ức và có chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u kết hợp điều trị nội khoa tình trạng nhược cơ sau phẫu thuật.

Sau khi đánh giá các yếu tố nguy cơ toàn diện, tư vấn cho người bệnh cùng gia đình và các bác sĩ tiến hành thực hiện phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt bỏ khối u. Với vị trí này, phẫu thuật viên cần hết sức kỹ lưỡng và khéo léo để bóc tách từ trước ra sau khối u mà không chạm đến mạch máu và các cơ quan kế cận. Ca phẫu thuật diễn ra trong 60 phút, khối u được bóc tách hoàn toàn qua nội soi lồng ngực và được lấy ra khỏi lồng ngực qua vết mổ nhỏ # 3cm, ekip phẫu thuật đã kiểm soát tốt các nguy cơ biến chứng trong cuộc mổ.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục tốt và chia sẻ: “Ngay khi mổ xong tôi đã thấy cơ thể rất nhẹ nhàng không còn nặng nề như trước, hít vào thở ra rất dễ dàng, việc ăn uống sinh hoạt đều duy trì bình thường. Tôi thấy mình rất may mắn khi được các bác sĩ phát hiện và điều trị bệnh cho mình kịp thời và thành công.” Bệnh nhân được ra viện sau phẫu thuật 3 ngày và được theo dõi tái khám theo hẹn của các bác sĩ.

 

Ts. Bs Hoàng Văn Thiệp cho biết: “U tuyến ức là một loại u hiếm. Tuy nhiên, u tuyến ức là u phổ biến nhất của trung thất trước trên và là u nguyên phát phổ biến nhất của tuyến ức. U tuyến ức thường gặp ở người trưởng thành. U tuyến ức có thể có vỏ bao hoàn toàn, nhưng cũng có thể xâm lấn vỏ bao hoặc xâm lấn vào các cấu trúc bên cạnh. Điều này sẽ làm cản trở tuần hoàn và hô hấp. Các khối u ác tính còn có khả năng di căn tới màng tim hay phổi và đe dọa tính mạng người bệnh. Khoảng 1/3 bệnh nhân u tuyến ức có biểu hiện nhược cơ: mệt mỏi, sụp mi mắt 2 bên, yếu tay chân, thậm chí có biểu hiện nặng như: nuốt nghẹn, suy hô hấp, khó thở. Vậy nên người bệnh khi có các dấu hiệu biểu hiện bất thường như đã nêu trên không nên chủ quan mà nên đi thăm khám để có thể phát hiện và can thiệp bệnh sớm.”

 

 

Tuyển dụng Bác sĩ Ngoại khoa

Tuyển dụng Bác sĩ Ngoại khoa

Vị trí tuyển dụng: Bác sĩ Ngoại khoa
Số lượng: 03
Đơn vị: Khoa Ngoại
MÔ TẢ CÔNG VIỆC: 
Khám chữa bệnh các bệnh lý thuộc Ngoại khoa.
+ Tham gia công tác trực nội trú tại khoa.
+ Thực hiện tất cả các chức năng, nhiệm vụ khác của Bác sĩ điều trị theo quy định của Bộ Y tế và Bệnh viện.
+ Thực hiện các công việc khác theo sự phân công của Lãnh đạo.
YÊU CẦU
Trình độ chuyên môn:
– Bác sĩ Y khoa (chấp nhận Bác sĩ mới ra trường đã có GPHN Ngoại khoa) hoặc tốt nghiệp Sau Đại học chuyên ngành Ngoại khoa
Yêu cầu khác:
– Ưu tiên:
+ Có kinh nghiệm khám chữa bệnh Ngoại khoa.
+ Có chứng chỉ hành nghề liên quan.
ĐIỀU KIỆN ĐĂNG KÍ DỰ TUYỂN
– Người có đủ điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển
1. Có lý lịch rõ ràng;
2. Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp ;
3. Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
4. Đủ sức khoẻ, năng lực hành vi dân sự để thực hiện nhiệm vụ công việc;
5. Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển;
6. Không trong thời gian: bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.

HỒ SƠ ỨNG TUYỂN
– Bản tự khai download mẫu đính kèm: BẢN TỰ KHAI
– Sơ yếu lý lịch tự thuật và chứng minh nhân dân/ căn cước công dân (bản sao được chấp nhận- khuyến khích nộp bản sao y công chứng)
– Các văn bằng, bảng điểm kết quả học tập, các chứng chỉ, chứng nhận chuyên ngành liên quan theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, thành tích đạt được trong quá trình công tác và học tập (bản photo đối với trực tiếp hoặc qua đường bưu điện/ bản scan hoặc chụp đối với hồ sơ nộp trực tuyến) 

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM TUYỂN DỤNG
Thời gian nhận hồ sơ: Nhận hồ sơ liên tục từ 08h00 – 17h00, từ thứ 2 đến thứ T7 hàng tuần, đến hết ngày 31/03/2027 (Hồ sơ nộp trước sẽ được xét tuyển trước).

– Phương thức nộp hồ sơ:
1. Nộp trực tiếp hoặc thông qua đường bưu điện: Phòng Tổ chức Hành chính Quản trị – Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, số 298 Hà Huy Tập, phường Tân An, Đăk Lăk.
2. Nộp trực tuyến: hr@benhvienbmt.com.

– Thông tin liên hệ trong giờ hành chính:
Ms. Trang – Nhân viên Nhân sự. Điện thoại: 0262 3765 999 – Nhánh 1

– Lưu ý khác:

+ Hồ sơ nộp dự tuyển không hoàn trả lại.

+ Trường hợp phát hiện hành vi gian lận trong kê khai Bản tự khai hoặc ứng viên sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không đúng quy định, hoặc bất kỳ gian lận nào liên quan trong quá trình tuyển dụng, Hội đồng tuyển dụng sẽ loại hồ sơ tại bất kỳ vòng tuyển dụng đang xét, bao gồm hủy kết quả trúng tuyển đồng thời lưu giữ thông tin hồ sơ không hợp lệ trên hệ thống tuyển dụng của bệnh viện.

CHẨN ĐOÁN CHÍNH XÁC VÀ ĐIỀU TRỊ TRIỆT ĐỂ BỆNH LÝ NHÃO CƠ HOÀNH

CHẨN ĐOÁN CHÍNH XÁC VÀ ĐIỀU TRỊ TRIỆT ĐỂ BỆNH LÝ NHÃO CƠ HOÀNH

Bệnh nhân N.Y (nam, 52 tuổi, Krông Năng), khám tại BUH vào ngày 8/10/2024 với triệu chứng khó thở, mệt và nặng tức ở ngực phải đã lâu tăng lên khi đi lại nhiều, vận động mạnh. Qua chụp X-quang và cắt lớp vi tính cho thấy, vòm hoành phải cao bất thường khiến các tạng trong ổ bụng (gan, thận,…) nhô cao đẩy xẹp thụ động nhu mô phổi cùng bên. Sau khi hội chẩn, bệnh nhân được chẩn đoán nhão cơ hoành phải và được chỉ định phẫu thuật mở ngực khâu phục hồi cơ hoành phải.

Trong mổ quan sát thấy cơ hoành phải kém di động, nhão toàn bộ cơ hoành bên phải, gan đội lên hoàn toàn lồng ngực phải, ngang mức khoang liên sườn 5, đè xẹp thùy dưới phổi phải, không có xơ dính. Các bác sĩ đã tiến hành khâu xếp lớp cố định cơ hoành phải gần đúng với sinh lý cơ thể.

Hiện tại bệnh nhân ổn định sức khỏe, ăn ngủ được, không khó thở, không đau ngực, phổi 2 bên thông khí tốt. Bệnh nhân chia sẻ: “Dù mới phẫu thuật được 4 ngày nhưng tôi cảm thấy rất thoải mái, không còn cảm giác mệt mỏi và nặng nề như trước.”

Cơ hoành là phần cơ hình vòm, ngăn cách giữa khoang ngực (chứa tim, phổi) và khoang bụng (chứa các cơ quan trong ổ bụng). Đây là cơ chủ yếu của hệ hô hấp, giúp con người có thể hít thở bình thường. Bệnh lý nhão cơ hoành là kết quả của sự ngừng xung động thần kinh đi xuống qua dây thần kinh hoành, làm cho cơ hoành mất trương lực và không vận động, co giãn được.

Bệnh nhão cơ hoành là bệnh lý hiếm gặp, khó phát hiện do triệu chứng dễ bị nhầm lẫn với các bệnh khác như viêm phổi, phổi biệt lập… Mặc dù đây không phải là bệnh cấp cứu nguy hiểm nhưng có thể là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh lý khác như: khó thở kéo dài dẫn đến suy hô hấp, viêm phổi, rối loạn tiêu hóa.

TS.BS Hoàng Văn Thiệp – Bác sĩ chuyên khoa Ngoại lồng ngực chia sẻ: “Đối với bệnh lý nhão cơ hoành, phẫu thuật là lựa chọn điều trị tối ưu và triệt để cho người bệnh. Trong các trường hợp chẩn đoán nhầm lẫn hoặc chỉ điều trị triệu chứng, bệnh sẽ dễ bị tái đi tái lại nhiều lần, gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng lao động và chất lượng cuộc sống.”

 

 

TẮC RUỘT DO HỘI CHỨNG RAPUNZEL – “HỘI CHỨNG ĂN TÓC”

TẮC RUỘT DO HỘI CHỨNG RAPUNZEL – “HỘI CHỨNG ĂN TÓC”

Vừa qua, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã tiếp nhận và điều trị thành công cho bệnh nhi 3 tuổi bị tắc ruột do hội chứng Rapunzel (rối loạn ăn tóc). Sau phẫu thuật, bệnh nhi ổn định, không có biến chứng sau mổ và hiện đã được xuất viện.

Hội chứng Rapunzel

Hội chứng Rapunzel là một dạng hiếm gặp của rối loạn ăn tóc hay Hội chứng nghiện giật tóc (có tên khoa học là trichotillomania, trichotillosis), trong đó người mắc có thói quen kéo và ăn tóc của chính mình. Tình trạng này có thể dẫn đến hình thành một búi tóc trong dạ dày hoặc ruột, gây ra các vấn đề tiêu hóa nghiêm trọng.

Hội chứng nghiện giật tóc là cảm giác thôi thúc một cách trói buộc ý muốn giật (đôi khi là ăn) lông, tóc của bản thân dẫn đến việc mất đáng kể lông hay tóc, lo lắng và tình trạng suy giảm về chức năng sống, hay xu hướng làm việc không tốt khi có sự hiện diện của người khác. Hội chứng nghiện giật tóc  được DSM-5 (Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Hội Tâm thần học Mỹ) xếp vào nhóm “Ám ảnh cưỡng chế và các rối loạn liên quan”. Hội chứng nghiện giật tóc ảnh hưởng tới 1–2% dân số thế giới. Bệnh gặp ở cả nam và nữ bất kỳ tuổi nào nhưng ở trẻ em hay gặp hơn, thường phát triển ngay trước hoặc trong độ tuổi thiếu niên — thường gặp  từ 10 đến 13 tuổi.. Ở độ tuổi càng lớn, bệnh gặp ở trẻ gái nhiều hơn ở trẻ trai.

Mức độ giật tóc tùy thuộc vào từng thời điểm nhưng dấu hiệu để chẩn đoán một người mắc hội chứng nghiện giật tóc bao gồm: rụng tóc, không thể kiềm chế bản thân thực hiện những hành vi tổn hại tóc gây nhiều phiền toái đáng kể. Nếu không điều trị sẽ dẫn đến một số biến chứng.

Có thể là hình ảnh về 1 người, em bé và bệnh viện

Bé gái 3 tuổi có thói quen kéo và ăn tóc của chính mình

Điều trị cho bệnh nhi tắc ruột do hội chứng Rapunzel

Bệnh nhi H.L.H (nữ, 03 tuổi, xã Ea Tiêu, Đắk Lắk) nhập khoa cấp cứu với triệu chứng đau bụng quanh rốn âm ỉ khoảng 05 ngày kèm bụng chướng, trung tiện ít, bí đại tiện 5 ngày. Bệnh nhi được đưa vào cơ sở y tế khác, chẩn đoán lồng ruột, tháo lồng bằng hơi 02 lần, nhưng tình trạng bệnh không giảm nên gia đình xin chuyển bệnh viện Đại Học Y Dược Buôn Ma Thuột. Bệnh nhi thể trạng gầy, xanh xao. Người nhà khai bệnh nhi có thói quen tự bứt tóc bản thân và ăn khoảng 3 tháng nay. 1 tháng nay, người nhà thấy bé chán ăn, gầy sụt cân có đi khám phòng khám tư nhưng không đỡ.

Bệnh nhi được các bác sĩ thăm khám và thực hiện các cận lâm sàng phát hiện thấy có khối ở vùng thượng vị kích thước # 15×10 cm, mật độ chắc di động, ấn đau tức và 03 khối nhỏ quanh rốn kích thước 2×3 cm, mật độ chắc, di động, ấn đau tức. Với bệnh cảnh lâm sàng, tiền sử của bệnh nhi và các dấu hiệu cận lâm sàng, các bác sĩ chẩn đoán trước phẫu thuật là lồng ruột non và dị vật đường tiêu hóa nghĩ do búi tóc.

Bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật: mở hỗng tràng lấy khối tóc kéo thành sợi dài từ dạ dày xuống gần hết hỗng tràng gây nên lồng ruôt nhiều đoạn hỗng tràng. Mở dạ dày lấy khối tóc kích thước 15x10x10 chiếm gần toàn bộ dạ dày và tá tràng. Sau phẫu thuật, bệnh nhi ổn định, không có biến chứng sau mổ. Bệnh nhi được chuyển khoa nhi điều trị viêm phổi, chăm sóc dinh dưỡng và hướng dẫn thăm khám chuyên khoa tâm thần để tránh tái phát.    

Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản 

Phẫu thuật lấy búi tóc trong lòng dạ dày và hành tá tràng & Búi tóc được lấy ra bên ngoài

Theo bác sĩ điều trị chính, BSCKI Hoàng Ngọc Thiên Lan – Khoa Ngoại BUH khuyến nghị: “Người thân nên quan sát kỹ lưỡng khi chăm sóc trẻ nhằm phát hiện sớm vấn đề về sức khỏe tâm lý, khi phát hiện trẻ có những dấu hiệu bất thường như ăn tóc, phụ huynh nên đưa trẻ tới các cơ sở y tế để được tư vấn, chẩn đoán và điều trị kịp thời, đồng thời tham gia cùng nhân viên y tế trong việc hỗ trợ hạn chế hành vi nuốt tóc và nâng đỡ tinh thần cho trẻ.”

Có thể là hình ảnh về 3 người và bệnh viện

Bác sĩ điều trị chính, BSCKI Hoàng Ngọc Thiên Lan – Khoa Ngoại BUH thăm khám bệnh nhân sau phẫu thuật

PHẪU THUẬT CẮT GAN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN  ĐƯỢC THỰC HIỆN THƯỜNG QUY TẠI BUH

PHẪU THUẬT CẮT GAN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN 

ĐƯỢC THỰC HIỆN THƯỜNG QUY TẠI BUH

Ung thư biểu mô tế bào gan là bệnh lý ác tính nguyên phát và phổ biến của gan ở Việt Nam và thế giới. Theo tổ chức nghiên cứu ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2020, ở Việt Nam ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư phổ biến và có số tử vong đứngđầu trong các loại ung thư. Hiện nay, phẫu thuật cắt gan là phương pháp điều trị triệt căn cho ung thư gan giai đoạn còn phẫu thuật được và đã triển khai thường quy tại BUH.

Vừa qua, Bệnh Viện Đại Học Y Dược Buôn Ma Thuột đã thực hiện thành công phẫu thuật cắt gan phân thuỳ sau gồm hạ phân thuỳ VI,VII, để điều trị khối u gan hạ phân Thuỳ VII kích thước 4cm cho BN nam (74 tuổi). Đây là kỹ thuật cắt gan khó được lựa chọn giúp bệnh nhân cắt trọn khối u gan do ung thư và bảo toàn thể tích gan còn lại đủ để đảm nhiệm chức năng cho cơ thể trên nền gan xơ F4. Những tín hiệu tích cực này tiếp tục giúp BUH được nhiều bệnh nhân và gia đình người bệnh đặt niềm tin điều trị ung thư gan ngay tại khu vực Tây Nguyên.

 — TÌNH TRẠNG

Bệnh nhân vào viện thăm khám trong tình trạng sụt cân, đau hạ sườn phải lan ra sau lưng. Trước đó, BN bị đái tháo đường 2 năm không điều trị và chưa có tiền sử viêm gan B.

— CHẨN ĐOÁN

  • Qua siêu âm phát hiện gan xơ và có khối u ở hạ phân thuỳ VII.
  • Chụp CT: xác định khối u có kích thước 46×38 mm và được chẩn đoán là ung thư gan.

 — ĐIỀU TRỊ 

Các bác sĩ đã hội chẩn, làm đầy đủ các xét nghiệm và đưa ra kế hoạch cắt phân thùy sau để điều trị ung thư gan, giúp:

  • Đảm bảo chức năng gan sau phẫu thuật
  • Hạn chế tối đa nguy cơ xuất huyết, nhiễm trùng  trong phẫu thuật 
  • Hạn chế tối thiểu tổn thương các bộ phận xung quanh gan.

— KẾT QUẢ

▪ Ca phẫu thuật diễn tiến thuận lợi, ekip các bác sĩ Khoa Ngoại tổng hợp cùng các bác sĩ Khoa Gây mê hồi sức đã phối hợp nhịp nhàng cắt gan hạ phân thùy thành công cho bệnh nhân. Sau phẫu thuật 7 ngày, bệnh nhân hồi phục tốt, da, niêm mạc hồng, vết mổ ít dịch thấm băng, ít đau, ăn uống vận động, ngủ bình thường.

Người nhà BN vui mừng chia sẻ: “Ông nhà đã khỏe hơn nhiều, tình hình hồi phục tốt và các bác sĩ, nhân viên y tế đã chăm sóc tận tình”

Phẫu thuật cắt gan nói chung trong điều trị ung thư gan là phẫu thuật lớn, phức tạp. Để thực hiện đòi hỏi bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ gây mê có chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm cùng phối hợp. Hiện nay, tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã và đang thực hiện thường quy các phẫu thuật cắt bỏ gan lớn, nhỏ trong điều trị ung thư gan mang lại hiệu quả điều trị cao cho bệnh nhân. Nhờ đó, người bệnh trong khu vực có thể lựa chọn các phương pháp điều trị hiện đại, hưởng dịch vụ khám chữa bệnh bằng BHYT với chi phí điều trị hợp lý, hạn chế di chuyển lên tuyến trên.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách Hàng vui lòng liên hệ HOTLINE 1900 1147

 

SUY GIÃN TĨNH MẠCH CHI DƯỚI – KHI NÀO CẦN ĐIỀU TRỊ?

SUY GIÃN TĨNH MẠCH CHI DƯỚI – KHI NÀO CẦN ĐIỀU TRỊ?

Suy giãn tĩnh mạch chi dưới hay còn gọi giãn tĩnh mạch chân là tình trạng suy giảm chức năng đưa máu trở về tim của hệ thống tĩnh mạch chi dưới, dẫn đến hiện tượng máu bị ứ đọng lại ở vùng chân, tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch khiến tĩnh mạch giãn ra và làm biến dạng các tổ chức mô xung quanh. Bệnh có thể gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt, thậm chí có có thể biến chứng sức khỏe nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

  1. Suy tĩnh mạch chi dưới là gì

Tĩnh mạch chi dưới bao gồm: Tĩnh mạch nông chi dưới: Tĩnh mạch hiển bé, tĩnh mạch hiển lớn; Tĩnh mạch sâu bao gồm các tĩnh mạch ở tầng chậu- đùi, khoeo chân và cẳng chân; Tĩnh mạch xuyên; Van tĩnh mạch có ở cả 3 loại tĩnh mạch trên.

Suy giãn tĩnh mạch chi dưới hay còn gọi giãn tĩnh mạch chân là tình trạng suy giảm chức năng đưa máu trở về tim của hệ thống tĩnh mạch chi dưới, dẫn đến hiện tượng máu bị ứ đọng lại ở vùng chân, tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch khiến tĩnh mạch giãn ra và làm biến dạng các tổ chức mô xung quanh.

Bình thường, máu tĩnh mạch từ chân chảy về tim theo một chiều từ dưới đi lên (ngược với chiều trọng lực khi ở tư thế đứng) là nhờ hệ thống van tĩnh mạch, lực ép của khối cơ cẳng chân, lực hút được tạo ra do hoạt động của tim và lồng ngực. Các tác động làm ảnh hưởng xấu đến cơ chế duy trì dòng máu một chiều này làm cho van một chiều không còn giữ được chức năng và tạo ra dòng máu trào ngược qua van theo trục các tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé hay tĩnh mạch sâu xuống chân. Dòng trào ngược gây tăng áp lực trong các tĩnh mạch lớn, rồi truyền qua các tĩnh mạch nhỏ làm giãn cả tĩnh mạch lớn và nhỏ. Suy tĩnh mạch có thể xảy ra ở từng vùng hoặc toàn bộ chân.

Suy tĩnh mạch chi dưới là bệnh rất thường gặp, nữ giới thường có tỷ lệ mắc cao hơn nam giới (khoảng 73% ở nữ giới và 56% ở nam giới).

  1. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ dẫn đến suy tĩnh mạch chi dưới

Nguyên nhân bệnh được xác định khởi phát do tình trạng viêm tĩnh mạch nhưng không được điều trị kịp thời, kết hợp với một số yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng bệnh tiến triển đến các giai đoạn nặng hơn.

Các yếu tố nguy cơ bao gồm:

  • Tư thế sinh hoạt, làm việc: phải đứng hay ngồi một chỗ quá lâu, ít vận động, phải mang vác nặng… tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân, làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu dần gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều.
  • Phụ nữ mang thai nhiều lần.
  • Người béo phì, táo bón kinh niên, lười thể dục, hút thuốc lá, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin…
  • Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng màu trở về tim.
  • Viêm tĩnh mạch hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch nông và sâu.
  • Khiếm khuyết van do bẩm sinh.
  • Thoái hoá van ở người cao tuổi.
  1. Các triệu chứng của bệnh lý ở từng giai đoạn

Giai đoạn đầu: Có mao mạch giãn hoặc lưới tĩnh mạch giãn với đường kính < 3mm.

  • Mỏi chân, phù nhẹ khi đứng hoặc ngồi lâu
  • Chuột rút vào buổi tối
  • Cảm giác bị kim châm, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm
  • Xuất hiện nhiều mạch máu nhỏ li ti ở chân

Giai đoạn tiến triển: Giãn tĩnh mạch với đường kính > 3mm; phù chi dưới nhưng chưa biến đổi trên da.

  • Phù chân, có thể phù ở mắt cá hay bàn chân
  • Thay đổi màu sắc da vùng cẳng chân
  • Có thể thấy các búi tĩnh mạch giãn nổi rõ trên da
  • Đau nhức chân, không hết khi nghỉ ngơi

Giai đoạn biến chứng: Biến đổi sắc tố da, chàm tĩnh mạch, xơ mỡ da; Nặng hơn là kèm vết loét

  • Viêm tĩnh mạch nông huyết khối
  • Chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch
  • Nhiễm khuẩn vết loét trong suy tĩnh mạch mạn tính.

  1. Chẩn đoán và điều trị bệnh

Chẩn đoán giãn tĩnh mạch chi dưới:

  • Khám lâm sàng: bệnh được chẩn đoán qua khai thác yếu tố nguy cơ, các triệu chứng của người bệnh. Ở người bệnh có mô dưới da mỏng, có thể nhìn và sờ thấy tĩnh mạch giãn ra và căng nhanh khi chuyển từ tư thế nằm sang đứng.
  • Siêu âm Doppler mạch máu: ghi nhận dòng trào ngược qua van tĩnh mạch với thời gian kéo dài >0.5 giây ở tĩnh mạch hiển và tĩnh mạch sâu ở cẳng chân hoặc >0.1 giây ở tĩnh mạch đùi khoeo. Siêu âm có thể xác định tổn thương của van tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé, tĩnh mạch sâu và các van tĩnh mạch xuyên để giúp lựa chọn kỹ thuật điều trị phù hợp.

Bệnh suy giãn tĩnh mạch tiến triển chậm, các triệu chứng ở giai đoạn sớm rất khó phát hiện. Vậy nên người dân nếu có các yếu tốt nguy cơ cao nên để ý đến các triệu chứng sơ khởi như: nóng đỏ chân, cảm giác tê bì hoặc nặng chân khi đứng lâu cần kịp thời đến thăm khám để được điều trị sớm, tránh để bệnh tiến triển đến các biến chứng làm giảm chất lượng cuộc sống. Siêu âm mạch chi dưới là chỉ định cận lâm sàng đầy tay nhằm chẩn đoán xác định bệnh.

Ở các giai đoạn đầu, các bác sĩ khuyến cáo nên điều trị bằng các phương pháp nội khoa kết hợp thay đổi lối sống như: nâng cao chân khi ngủ hoặc khi ngồi, mang tất áp lực, tránh đứng trong thời gian dài, giảm ân nếu thừa cân, tập thể dục để cải thiện sức mạnh của đôi chân.

Kê cao chân khi ngủ giúp cải thiện tình trạng bệnh

Nếu thay đổi lối sống không làm giảm triệu chứng bệnh, cần lựa chọn các biện pháp điều trị can thiệp khác như:

  • Tiêm xơ tĩnh mạch
  • Điều trị suy tĩnh mạch bằng sóng cao tần (RFA) hay tia laser
  • Điều trị ngoại khoa (Phẫu thuật Stripping và Phẫu thuật Chivas): Phẫu thuật Stripping là phương pháp dùng dụng cụ chuyên biệt để lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn. Phẫu thuật Chivas là phương pháp lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên. Đây là phương pháp điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới triệt để và tỉ lệ tái phát thấp.

Phẫu thuật ngoại khoa điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới triệt để, ít tái phát

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột tiếp nhận thăm khám và điều trị bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới ở các giai đoạn. Quá trình thăm khám và điều trị được thực hiện bởi TS.BS. Hoàng Văn Thiệp với hơn 40 năm kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị các bệnh mạch máu nói chung và bệnh suy tĩnh mạch chi dưới nói riêng. Rất nhiều bệnh nhân đã được phát hiện và can thiệp hiệu quả, triệt để, quay lại sinh hoạt cuộc sống bình thường.

Liên hệ tư vấn qua Hotline CSKH: 19001147

BUH THỰC HIỆN THÀNH CÔNG PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TUYẾN TIỀN LIỆT TẬN GỐC TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN

BUH THỰC HIỆN THÀNH CÔNG PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TUYẾN TIỀN LIỆT TẬN GỐC TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột vừa thực hiện thành công phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc điều trị ung thư cho bệnh nhân. 

🔹— TÌNH TRẠNG: Người bệnh là ông N.Đ.M (69 tuổi, huyện Đắk Song, Đắk Nông) đến khám tại bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột với tình trạng tiểu khó, tia tiểu yếu, cảm giác tiểu không hết đã nhiều năm nay, điều trị thuốc nhiều nơi nhưng không đỡ. 

🔹— CHẨN ĐOÁN & ĐIỀU TRỊ

Sau khi thăm khám, bác sĩ chỉ định siêu âm, xét nghiệm máu, ghi nhận chỉ số PSA (kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt) tăng cao (18.6 ng/mL). Nghi ngờ ông M. bị ung thư tuyến tiền liệt, bác sĩ tiếp tục chỉ định người bệnh chụp cộng hưởng từ bằng máy MRI 1.5 Tesla. Kết quả xác định tuyến tiền liệt có kích thước lớn 112 mL (bình thường 15-25mL), có tổn thương vùng ngoại vi nguy cơ ung thư cao, xếp loại PIRADS 4. Người bệnh ngay lập tức được nhập viện, tiến hành sinh thiết tuyến tiền liệt dưới hướng dẫn siêu âm qua ngã trực tràng, lấy 12 mẫu mô trong tuyến tiền liệt. Sau 1 tuần, kết quả giải phẫu bệnh trả về khẳng định bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến tiền liệt, giai đoạn T2a. Khi đã có đầy đủ chứng cứ bệnh, ekip phẫu thuật gồm BS CKII Phạm Quang Tĩnh, Ths. Bs. Hồ Tường Lân, BS. CKI Lê Xuân Nguyên đã tiến hành phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc để điều trị triệt căn ung thư cho bệnh nhân. Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng các khoa phòng, ekip phẫu thuật và Gây mê hồi sức, cuộc phẫu thuật đã diễn ra thành công tốt đẹp.

🔹— KẾT QUẢ

Với ưu điểm của phẫu thuật nội soi là ít đau, vết mổ nhỏ, ngay ngày hậu phẫu thứ nhất người bệnh đã có thể ăn uống và đi lại được. Sau 7 ngày chụp phim X-quang kiểm tra miệng nối bàng quang – niệu đạo lành tốt, bệnh nhân được rút sonde tiểu, người bệnh đi tiểu dễ dàng, không còn tiểu khó và không có tình trạng tiểu không soát.

Theo các chuyên gia đánh giá, phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc là một trong những phẫu thuật khó trong ngành Tiết niệu, thách thức cho phẫu thuật viên. Bởi tuyến tiền liệt nằm sâu ở vùng bụng, dưới xương mu, tập trung nhiều mạch máu, xoang tĩnh mạch. Phía sau tuyến tiền liệt là trực tràng. Do đó, phẫu thuật viên phải nhiều kinh nghiệm mới có thể xử lý các tình huống trong mổ, nhanh chóng ra quyết định xử lý các tình huống bất lợi, kiểm soát chảy máu, bảo tồn chức năng đường tiểu và chức năng sinh lý đồng thời giảm các biến chứng. Trước đây PTNS cắt tuyến tiền liệt tận gốc chỉ được thực hiện tại các bệnh viện lớn tại HN và TP HCM và một vài tỉnh lân cận. Vậy nên, việc thực hiện thành công phẫu thuật này tại BUH đã mở ra cơ hội cho người bệnh cơ hội trực tiếp điều trị tại quê nhà, không còn phải di chuyển đến các trung tâm lớn giúp giảm chi phí và thời gian điều trị.

🔹— KHUYẾN NGHỊ

Theo Tổ chức ghi nhận ung thư toàn cầu (Globocan) năm 2022, tại Việt Nam ung thư tuyến tiền liệt là một trong 5 loại ung thư phổ biến ở nam giới. Mỗi năm ghi nhận khoảng gần 6000 ca mắc mới trong đó khoảng 85% bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn. Ung thư tuyến tiền liệt thường tiến triển âm thầm trong thời gian dài, nguy cơ tăng lên ở nam giới lớn tuổi. 

Khối u tuyến tiền liệt sau khi được nội soi cắt bỏ

Hiện chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh để có biện pháp phòng ngừa. Nam giới tiểu khó, tia tiểu yếu, tiểu nhiều lần, cảm giác tiểu không hết … nên đến bệnh viện khám, điều trị kịp thời. Nam giới trên 50 tuổi nên tầm soát ung thư tuyến tiền liệt. Trường hợp trẻ tuổi nhưng gia đình, họ hàng có người thân bị ung thư tuyến tiền liệt cũng nên đi khám. Ở giai đoạn sớm, người bệnh có tiên lượng tốt, có thể điều trị triệt căn bằng phẫu thuật. Ngược lại ở  giai đoạn muộn, khối u đã xâm lấn xung quanh hoặc di căn tới các cơ quan khác, người bệnh có tiên lượng kém hơn, phải điều trị bằng thuốc ức chế nội tiết, có thể kết hợp với xạ trị, hoá trị. 

🔻 Với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, trang thiết bị được đầu tư hiện đại và đồng bộ trong chẩn đoán, điều trị. Nam giới có nguy cơ hoặc nghi ngờ ung thư tuyến tiền liệt khi đến thăm khám sẽ được siêu âm, xét nghiệm máu, chụp cộng hưởng từ và thực hiện sinh thiết tuyến tiền liệt, giải phẫu mô bệnh học tại chỗ, giúp giảm thời gian chờ đợi và di chuyển xa đến các TP lớn so với trước đây. Việc thực hiện thành công phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc đã mở ra cơ hội mới cho người bệnh điều trị kỹ thuật cao tại quê nhà, giúp giảm chi phí và thời gian điều trị.