BUH PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG “THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM” – BỆNH LÝ XƯƠNG KHỚP GÂY ĐAU NHỨC DAI DẲNG CHO BỆNH NHÂN

Thoát vị đĩa đệm là bệnh lý phổ biến ở độ tuổi từ 30-60, gây ra các cơn đau nhức cột sống, tê bì tay chân kéo dài, thậm chí có thể khiến người bệnh bại liệt vĩnh viễn. Do đó, việc chẩn đoán chính xác các nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm là cực kỳ cấp thiết để điều trị bệnh dứt điểm, tránh các tổn thương lâu dài và khó hồi phục.

Vừa qua, Đơn vị Ngoại thần kinh – Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã có 2 ca phẫu thuật thành công cho bệnh nhân lớn tuổi mắc thoát vị đĩa đệm. Hiện tại bệnh nhân đã phục hồi các chức năng vận động và sinh hoạt bình thường, tinh thần cũng vui vẻ trở lại. 

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Thoát vị đĩa đệm là bệnh lý xương khớp diễn ra khi nhân nhầy ở đĩa đệm cột sống tách ra khỏi vị trí ban đầu trong vòng sợi, dẫn tới chèn ép vào ống sống hay các rễ dây thần kinh, khiến người bệnh tê bì tay chân, đau nhức cột sống kéo dài …

Phần lớn người bệnh mắc chứng thoát vị đĩa đệm ở cột sống thắt lưng và thoát vị đĩa đệm ở cổ vì đây là những vị trí chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ thói quen sinh hoạt sai cách thường ngày.

 

Thoát vị đĩa đệm chèn ép dây thần kinh và gây ra các cơn đau nhức

Khi bị thoát vị đĩa đệm ở đốt sống cổ, vùng cổ và vai gáy sẽ bắt đầu đau nhói, sau đó lan dần xuống cánh tay và cả bàn tay. Tệ hơn, lúc di chuyển hay nằm ngồi, bệnh nhân còn có cảm giác đau tức ngực.

Với trường hợp thoát vị đĩa đệm ở vùng cột sống thắt lưng, cơn đau có thể lan dần xuống cả vùng hông và đùi, thậm chí là xuống bàn chân dẫn đến đau buốt khó chịu, ăn ngủ không yên.

Do đó, nếu không phát hiện và điều trị đúng cách, người bị thoát vị đĩa đệm có thể bị teo cơ, liệt chi và vĩnh viễn khó đi lại.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Một số nguyên nhân chính gây thoát vị đĩa đệm:

– Tuổi tác là nguyên nhân mà hầu hết các bệnh nhân thoát vị đĩa đệm gặp phải. Vì khi quá trình lão hóa xảy ra, cột sống không còn linh hoạt, vòng sụn bên ngoài bắt đầu xơ hóa, lượng nước và tính đàn hồi bên trong nhân nhầy cũng giảm đi, nên người lớn tuổi càng dễ mắc bệnh

– Vận động, làm việc quá sức hoặc sai tư thế, khiến đĩa đệm và cột sống bị tổn thương

– Thừa cân làm cột sống lưng sẽ dần yếu đi khi gánh chịu áp lực trọng lượng lớn của cơ thể

– Chấn thương do tai nạn: Khi bị tác động lực mạnh từ bên ngoài như té ngã, chơi thể thao, … đĩa đệm có thể bị tổn thương và thay đổi cấu trúc.

– Một số nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm khác như: yếu tố di truyền, lạm dụng chất kích thích, bia rượu, chế độ ăn uống không lành mạnh…

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm

Dấu hiệu ban đầu của thoát vị đĩa đệm thường là cảm giác đau nhẹ tại nhiều vị trí trên cột sống. Nhưng lâu ngày, cơn đau có thể tiến triển dữ dội hơn và lan dần lên các cơ xương khớp khác, bao gồm:

– Đau đột ngột ở vùng cổ, sau đó lan âm ỉ ra vùng vai gáy, chân tay. Sau vài tuần hoặc vài tháng, người bệnh đi lại sẽ khó khăn hơn.

– Tê bì vùng thắt lưng, vùng cổ và lan dần xuống mông, đùi, cẳng và gót chân, gây cảm giác râm ran như bị kiến bò trong người.

– Đau hơn khi đổi tư thế: xoay cổ, ưỡn cổ, nằm nghiêng, ho, hắt hơi hoặc đại tiện.

– Đau đầu hoặc chóng mặt đột ngột.

– Yếu cơ, bại liệt: xuất hiện khi tình trạng thoát vị đĩa đệm trở nên nghiêm trọng và chèn ép tủy sống, khiến chân và tay yếu đi, không thể đứng vững hay cầm, nắm chắc; cơ đùi hay bắp chân rung lên mỗi khi vận động quá sức.

Đơn vị Ngoại thần kinh BUH phẫu thuật thành công cho bệnh nhân mắc thoát vị đĩa đệm

Trong thời gian vừa qua, BUH tiếp nhận rất nhiều ca bệnh thoát vị đĩa đệm ở người lớn tuổi với tình trạng tê bì hai chân, đi lại khó khăn không thuyên giảm. Hầu hết bệnh nhân đều đã sống chung với triệu chứng bệnh suốt nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm không khỏi chỉ vì tin các bài thuốc đắp lá “thần thánh” với mức phí hàng chục triệu đồng. Nghiêm trọng hơn, nhiều bệnh nhân đến BUH với tình trạng da bỏng, phồng đỏ lan dần khắp người.

Cô An là một trường hợp thoát vị đĩa đệm lan xuống vùng chân. 04 tháng trước đó, cô có nghe người quen giới thiệu các bài thuốc lá đặc trị xương khớp nên bỏ mấy chục triệu để đắp lá chữa thoát vị đĩa đệm tại Thanh Hóa, nhưng bệnh tình vẫn không tiến triển.

Trường hợp tương tự là bác Hòa với tình trang đau nhức, tê bì chân tay tái đi tái lại đã 6 năm nay. Bác chia sẻ bản thân đã thử các loại thuốc gia truyền, đắp thảo dược không rõ nguồn gốc nên chỉ giảm cơn đau tức thời, hôm sau bệnh tình vẫn tiếp diễn. Vậy nên, cả 2 bác đều quyết định đến BUH với mong mỏi chấm dứt hẳn bệnh. “Giá như bác đến thẳng bệnh viện uy tín mà thăm khám thì chẳng phải chịu đau đớn suốt mấy năm trời, tốn hơn mấy chục triệu mà chẳng hề thuyên giảm” – bác Hòa hối tiếc chia sẻ.

Sau khi được bác sĩ chuyên Khoa Ngoại Thần Kinh BUH thăm khám, chẩn đoán và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp với phương pháp ngoại khoa của y học hiện đại để điều trị bệnh triệt để, ca phẫu thuật thoát vị đĩa đệm của 2 bác đã diễn ra thành công tốt đẹp.

“Từ khi vào đây chỉ 10 ngày, thấy bệnh viện ngày nào cũng có ca, mà ca nào liên quan đến xương khớp, thoát vị đĩa đệm như bác đều thành công cả” – Cô An xúc động chia sẻ

“Chân thành cảm ơn các bác sĩ đã tận tình chăm sóc cho bác trong suốt quá trình điều trị và phẫu thuật. Bác đã đi lại vô tư, tinh thần cũng thoải mái hơn rất nhiều.”

( *Tên bệnh nhân đã được thay đổi trong bài viết)

Nên làm gì khi bị thoát vị đĩa đệm?

BSCK1. Nguyễn Văn Tấn – Phó Trưởng Khoa Ngoại tổng hợp BUH chia sẻ: “Khi có các bệnh lý liên quan đến cột sống, người bệnh nên đến các cơ sở y tế có chuyên khoa để thăm khám, điều trị đúng, tránh tự tiện sử dụng các loại thuốc không rõ nguồn gốc mà để lại di chứng nặng nề cho cơ thể. Vì dịch phồng khi đắp lá thuốc không phải là nhân đĩa đệm được hút ra như quảng cáo, đó thực ra chỉ là dịch huyết tương khi da bị phỏng.”

Hậu quả khi lạm dụng bài thuốc đắp lá lâu ngày

Đơn vị Ngoại Thần Kinh – Khoa Ngoại tổng hợp BUH là chuyên khoa về điều trị, thăm khám bằng phương pháp phẫu thuật liên quan đến hệ thần kinh thông qua sử dụng thiết bị phẫu thuật Y khoa hiện đại như: máy khoan cắt tốc độ cao, kính vi phẫu thuật dùng trong sọ não và cột sống, giúp phẫu thuật nhanh và an toàn, mang lại sức khỏe và sự yên tâm cho bệnh nhân. Bệnh viện được đầu tư và trang bị đồng bộ các máy móc, trang thiết bị, hiện đại như: máy chụp cộng hưởng từ MRI 1.5 Tesla; máy chụp cắt lớp vi tính CT 128 lát cắt;… để có thể phát hiện sớm các tổn thương và điều trị hiệu quả các bệnh lý về sọ não và cột sống.

Lưu ý: Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

 

BUH PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG CA CẮT GAN LỚN DO UNG THƯ GAN

BUH PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG CA CẮT GAN LỚN DO UNG THƯ GAN

Vừa qua, các bác sĩ Khoa Ngoại Tổng Hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) đã phẫu thuật cắt bỏ thành công khối u gan cho bệnh nhân nam 67 tuổi. Khối u có kích thước lớn 87x87mm ở hạ phân thùy VII,VIII gan phải. Phẫu thuật này là kỹ thuật phức tạp, chuyên sâu cao đòi hỏi phẫu thuật viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng để loại bỏ hoàn toàn khối u ra khỏi cơ thể, đảm bảo chức năng gan sau phẫu thuật, hạn chế tối đa sự mất máu và tổn thương các thành phần xung quanh gan. Hiện này, các bác sĩ BUH đã và đang triển khai tốt kỹ thuật này, góp phần nâng cao chất lượng điều trị cho các bệnh nhân ung thư tại khu vực, tiết kiệm chi phí, hạn chế việc bệnh nhân phải di chuyển lên tuyến trên.

Phát hiện ung thư gan khi khám sức khỏe định kỳ

Bệnh nhân L.B.T (nam, 67 tuổi) là một trong những trường hợp phát hiện khối u trong gan khi khám sức khỏe định kỳ tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột. Sau khi được thăm khám, thực hiện các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh, các bác sĩ đã phát hiện ra bệnh nhân có khối u lớn ở gan phải. Bệnh nhân được tiến hành kiểm tra chuyên sâu hơn qua chụp cắt lớp vi tính (CT) cho thấy có phần nhu mô hạ phân thùy VII,VIII tổn thương đậm độ thấp, không đồng nhất, kích thước 87x87mm. Sau khi hội chẩn, các bác sĩ chỉ định bệnh nhân tiến hành phẫu thuật loại bỏ khối u gan.

Khối u gan (mũi tên) trên hình CT Scan bụng của người bệnh

Ca phẫu thuật của bệnh nhân được tiên lượng là khó và phức tạp do thể tích gan cần cắt lớn, trên nền bệnh lý đái tháo đường tuýp 2 kèm theo thể trạng lớn tuổi. Đối với các phẫu thuật cắt gan lớn thường sẽ có 2 khó khăn và nguy cơ chính là: tăng tưới máu của khối u (làm chảy máu nhiều khi bóc tách) và xơ gan kèm theo (chiếm 80%). Tuy nhiên đối với trường hợp của bệnh nhân này, phẫu thuật cắt bỏ là phương pháp điều trị tối ưu để hạn chế các biến chứng xấu tới sức khỏe, thậm chí là tử vong. Tất cả các nguy cơ có thể diễn ra trong quá trình phẫu thuật đều được bác sĩ giải thích cặn kẽ với bệnh nhân và gia đình. Ca phẫu thuật diễn tiến thuận lợi, ekip các bác sĩ Khoa Ngoại tổng hợp cùng các bác sĩ Khoa Gây mê hồi sức đã phối hợp nhịp nhàng loại bỏ u gan thành công cho bệnh nhân sau gần 5 tiếng phẫu thuật.

Khối u gan (mũi tên) trong quá trình phẫu thuật
Khối u gan được cắt bỏ sau phẫu thuật

Sau phẫu thuật, sức khỏe bệnh nhân ổn định và phục hồi tốt. BN L.B.T cho biết: “Trước đây tôi vẫn khỏe mạnh bình thường, chỉ thỉnh thoảng có những con đau tức ngực thoáng qua nên không đi khám. Khi đi khám sức khỏe tổng quát ở Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột mới phát hiện ra có khối u lớn ở gan. Đây cũng là điều may mắn vì các bác sĩ phát hiện ra và có phương pháp điều trị kịp thời. Hiện tại sau mổ tôi cảm thấy sức khỏe đã tốt hơn, không đau nhiều, ăn uống và đi lại dần được rồi.”

Tầm soát và điều trị ung thư gan tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột

Thống kê của Globocan 2020 cho thấy, tỷ lệ mắc mới ung thư gan tại Việt Nam là 26.418 người mỗi năm, chiếm 14,5% tổng số ung thư. Ung thư gan có số ca tử vong dẫn đầu với 25.272, chiếm 21% tổng số ca tử vong do ung thư, gấp 3,8 lần tổng số ca tử vong do tai nạn giao thông năm 2020 (6.700 ca). Ung thư gan 77% gặp ở nam giới, có thể ở bất cứ lứa tuổi nào.

Ung thư gan ở những giai đoạn đầu thường không có nhiều dấu hiệu nhận biết, bệnh tiến triển thầm lặng, khi phát hiện thì đã ở giai đoạn muộn. Ở giai đoạn sớm của ung thư có thể gặp các triệu chứng của viêm gan mạn tính hoặc xơ gan tiến triển như: Chán ăn; Đau tức vùng hạ sườn phải; Trướng bụng; Vàng da, củng mạc mắt,… 

Trường hợp khối u tại gan khi phát triển kích thước lớn mà không được loại bỏ kịp thời khối u sẽ lấn các mô lân cận, mạch máu và gây tổn thương, hoặc có biến chứng vỡ nang, xuất huyết trong u. Phẫu thuật cắt gan chỉ định đối với khối u gan đơn độc hoặc nhiều khối nhưng khu trú, khối u chưa xâm lấn các mạch máu lớn như tĩnh mạch chủ dưới, thân chung tĩnh mạch cửa, chưa di căn xa (phổi, não, xương…)

BSCK2. Phạm Quang Tĩnh – Trưởng Khoa Ngoại Tổng hợp BUH cho biết: “Trong trường hợp các khối u phát triển với kích thước lớn, phẫu thuật cắt gan là lựa chọn điều trị triệt để ung thư gan. Phẫu thuật này là kỹ thuật có độ khó, chuyên sâu cao đòi hỏi phẫu thuật viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng để loại bỏ hoàn toàn khối u ra khỏi cơ thể, đảm bảo chức năng gan sau phẫu thuật, hạn chế tối đa sự mất máu và tổn thương các thành phần xung quanh gan. Hiện này, các bác sĩ BUH đã và đang triển khai tốt kỹ thuật này, góp phần nâng cao chất lượng điều trị cho các bệnh nhân ung thư tại khu vực, tiết kiệm chi phí, hạn chế bệnh nhân di chuyển lên tuyến trên.”

Bệnh nhân hồi phục tốt sau phẫu thuật

Theo các khuyến cáo, cách tốt nhất để phòng ngừa, phát hiện ung thư gan là khám sức khỏe định kỳ siêu âm gan 6 tháng/lần, đặc biệt là những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao như xơ gan, viêm gan mạn tính do rượu, viêm gan virus B, C,…. Ngoài ra nên tiêm đầy đủ vacxin phòng viêm gan B, tránh tiếp xúc với các hóa chất độc hại dễ làm tổn thương gan để giảm nguy cơ mắc bệnh.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột được trang bị đầy đủ và đồng bộ các trang thiết bị xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh hiện đại như: Chụp X-Quang gan; chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI)… phục vụ cho việc thăm khám và chẩn đoán các bệnh lý về GAN. Các bác sĩ luôn nỗ lực trong việc học tập, nâng cao tay nghề để áp dụng các phương pháp điều trị mới nhằm đem lại hiệu quả điều trị tối ưu cho bệnh nhân ung thư nói chung, ung thư gan nói riêng tại khu vực.

LẦN ĐẦU TIÊN TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN: BUH CẤP CỨU “NGOẠN MỤC” CA ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO GIỜ THỨ 7

Mỗi năm nước ta có khoảng 200.000 trường hợp bị đột quỵ với tỷ lệ tử vong từ 10-20%, trong đó khoảng 85% là do đột quỵ nhồi máu não. Đây là tình trạng động mạch não bị thuyên tắc một phần, hoặc hoàn toàn dẫn tới việc lưu lượng máu cung cấp tới não bị giảm đột ngột. Theo thống kê, cứ 4 ca bị đột quỵ chỉ có 1 ca là bệnh nhân có thể độc lập đi lại. “Time is Brain” ~ “Thời gian là não” – Cứ mỗi giây phút trôi qua không được cấp cứu tái thông mạch máu, tế bào não – vốn không có nguồn dự trữ oxy – sẽ dần tổn thương và có thể vĩnh viễn không hồi phục chỉ sau 5-7 phút. Vì vậy, việc nhận biết sớm các triệu chứng của đột quỵ; đưa bệnh nhân đến các cơ sở đủ năng lực để xử trí cấp cứu kịp thời sẽ mang tính chất quyết định đến tính mạng và khả năng phục hồi sau này của bệnh nhân.

BUH cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não giờ thứ 7

Chiều ngày 15/06/2023, BUH tiếp nhận bệnh nhân N.V.Đ (Nam, 67 tuổi, Krông Nô – Đắk Nông) trong tình trạng cấp cứu nhồi máu não giờ thứ 7. Bệnh nhân đến trong tình trạng liệt và mất cảm giác hoàn toàn nửa người bên phải, nói khó, tri giác giảm. Ê kíp Đột quỵ não của Bệnh viện gồm: ThS.BS. Nguyễn Văn Điền – Cố vấn chuyên môn và các bác sĩ can thiệp BUH đã nhanh chóng tiếp nhận người bệnh, đánh giá nhanh và ngay lập tức khởi động quy trình cấp cứu. Các bác sĩ đã tiến hành chụp động mạch não, xác định vị trí tắc tại đoạn M1 động mạch não giữa bên trái. Bệnh nhân ngay lập tức được thực hiện kỹ thuật hút – kéo huyết khối tái thông mạch não qua da. Đây là trường hợp nhồi máu não được cứu sống bằng kỹ thuật hiện đại này, ngay tại khu vực Tây Nguyên.

Vợ của bệnh nhân N.V.Đ chia sẻ: “Trưa ngày 15/06/2023, chồng tôi đi đám cưới bạn, trong lúc đang ăn thì anh bỗng nhiên thấy nóng bừng người và bắt đầu nghiêng người về bên phải không gượng dậy được, miệng bắt đầu méo đi và liệt một bên người. Gia đình nhanh chóng đưa anh tới cơ sở y tế để cấp cứu. Nhận định các dấu hiệu của đột quỵ, các bác sĩ tư vấn cho gia đình nên chuyển lên tuyến trên tại TP.HCM để điều trị. Rất may mắn gia đình tôi biết được thông tin tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột có các Bác sĩ hoàn toàn đủ năng lực để điều trị tốt các trường hợp này. Sau khi nhập viện, rất nhanh chóng các bác sĩ đã cấp cứu cho chồng tôi. Sau 12 tiếng chồng tôi đã có thể nói và cử động tay chân được, tôi và gia đình rất mừng và thực sự cảm kích”

Theo thông tin từ ekip điều trị, bệnh nhân trước khi tới BUH đã được cấp cứu bằng phương pháp dùng tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch trong giờ “vàng” (giờ thứ 4). Tuy nhiên, sau đó, nhận thấy lâm sàng bệnh nhân không cải thiện, các bác sĩ đã quyết định chuyển viện để can thiệp mạch não. Nhập viện tại BUH vào giờ thứ 7, các bác sĩ Khoa Cấp cứu và Khoa Tim Mạch đã phối hợp hội chẩn, tiến hành chụp cộng hưởng từ (MRI) để đánh giá và nhận thấy vùng nhồi máu diện rất rộng, tổn thương huyết khối vẫn chưa biến mất, động mạch não giữa bên trái đoạn M1 vẫn còn trong tình trạng tắc nghẽn. Ngay lập tức bệnh nhân được các bác sĩ tiến hành hút huyết khối qua da bằng dụng cụ React kết hợp sử dụng stent kéo huyết khối Solitaire X.

TRƯỚC: Hình ảnh DSA cho thấy động mạch máu não giữa trái đoạn M1 tắc hoàn toàn do huyết khối

SAU: Tái thông mạch máu não hoàn toàn sau khi hút – kéo huyết khối

Hình ảnh những cục huyết khối sau khi được hút ra bên ngoài

Toàn bộ quy trình chẩn đoán và cấp cứu bệnh nhân đều được thực hiện đúng theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa Kỳ/Hội Đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA) và Bộ Y Tế. Nhờ vậy bệnh nhân đã được điều trị kịp thời và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nguy kịch. Ngay sau khi thực hiện, cơ lực bệnh nhân ngay lập tức có dấu hiệu cải thiện và sau gần 24h, cơ lực đã hồi phục 4/5, hình ảnh CT đánh giá lại không thấy chuyển dạng xuất huyết.

Bác sĩ thăm khám bệnh nhân sau can thiệp

ThS.BS. Thái Bình Dương – Phụ trách Khoa Nội Tim Mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột thông tin thêm: “Trong cấp cứu đột quỵ, thời gian chính là não, chính là mạng sống của bệnh nhân. Đột quỵ thường có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào nên nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến những di chứng không thể phục hồi, tạo gánh nặng về kinh tế cho cả gia đình và xã hội. Vậy nên, người dân cần chủ động tìm hiểu thông tin về các dấu hiệu đột quỵ và đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế có đủ năng lực xử trí. Nếu được cấp cứu trong khung giờ vàng, bệnh nhân sẽ có cơ hội phục hồi hoàn toàn ngay sau khi can thiệp.”

Theo khuyến cáo, một số dấu hiệu nhận biết nguy cơ bị đột quỵ theo dấu hiệu F.A.S.T như sau:

  • Méo miệng (Face): Biểu hiện rõ khi bệnh nhân cười, nhe răng.
  • Yếu, liệt tay (Arm) hoặc chân: Đánh giá bệnh nhân có yếu hay liệt một bên hay không bằng cách yêu cầu bệnh nhân đưa hai tay lên cao.
  • Ngôn ngữ bất thường (Speech): Đề nghị bệnh nhân lặp lại một cụm từ đơn giản. Xem bệnh nhân có hiểu không? Có lặp lại được không? Nhận xét giọng nói có bị khó nghe không.
  • Thời gian khởi phát đột ngột (Time): Khi xuất hiện những triệu chứng trên, người bệnh cần giữ nguyên tư thế và không được hoạt động, sau đó nhanh chóng gọi cấp cứu hoặc đưa bệnh nhân đến bệnh viện có điều trị đột quỵ. Người bệnh cần ghi nhớ thời điểm phát bệnh để thông báo với nhân viên y tế.

Hiện tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã tiếp nhận và đã điều trị hiệu quả cho bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não, đồng thời sự phối hợp giữa các khoa chuyên môn và đội ngũ bác sĩ, chuyên gia dày dặn kinh nghiệm đã giúp quá trình cấp cứu bệnh nhân được diễn ra nhanh chóng, giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm do bệnh gây ra.

BUH triển khai Kỹ thuật dẫn lưu đường mật qua da xuyên gan (PTBD) trong xử trí vàng da tắc mật

Vàng da tắc mật là một tình trạng gây ra do tắc nghẽn dòng chảy của mật ra khỏi gan. Tắc mật kéo dài dẫn đến hoại xơ gan rối loạn chuyển hoá và thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Do vậy dẫn lưu đường mật là một chỉ định cần thiết nhằm giảm áp đường mật, giảm đau, cải thiện triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Trong các phương pháp dẫn lưu, kỹ thuật dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da (PTBD) là kỹ thuật can thiệp và xâm lấn tối thiểu dưới hướng dẫn của hình ảnh (siêu âm và C-arm/máy chụp mạch xóa nền DSA). Đây là một kỹ thuật khó trước đây thường chỉ được thực hiện ở các trung tâm lớn chuyên về Gan – Mật. Hiện nay, với sự nỗ lực học hỏi, Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã triển khai thành công kỹ thuật PTBD trong giải áp đường mật.

PTBD được thực hiện trên những nhóm bệnh nhân sau:

  • Vàng da tắc mật do sỏi mà không điều trị được qua nội soi hoặc nội soi thất bại hoặc không có chỉ định nội soi.
  • Điều trị các biến chứng nhiễm trùng đường mật do sỏi hay do viêm hẹp, khối u.
  • Điều trị giảm tắc mật trước phẫu thuật điều trị nguyên nhân.

Vừa qua, các bác sĩ Khoa Ngoại tổng hợp BUH đã thực hiện thành công dẫn lưu đường mật qua da xuyên gan để điều trị tắc mật cho bệnh nhân nữ. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng vàng da, ngứa khắp người, không ăn uống được. Khai thác bệnh sử bệnh nhân đã phẫu thuật ung thư buồng trứng được một năm. Qua kiểm tra tình trạng hiện tại, các Bác sĩ phát hiện khối u đã di căn vào rốn gan không còn chỉ định phẫu thuật. Trong trường hợp này, sử dụng PTBD là phương pháp can thiệp hiệu quả để giải quyết tình trạng tắc mật, vì nếu để lâu sẽ dẫn đến xơ gan rối loạn chuyển hoá và BN nguy cơ cao có thể tử vong. 

z4428815802223_a87ff0e3be133877ad764a361b96f340

Theo BSCK2. Lê Đình Linh Khoa Ngoại tổng hợp BUH cho biết: Dẫn lưu đường mật qua da xuyên gan (PTBD) là kỹ thuật can thiệp tối thiểu có tỉ lệ thành công cao, an toàn và hiệu quả trong cải thiện triệu chứng của tắc mật ác tính. Hiện tại kỹ thuật này đã được triển khai tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, điều này giúp bệnh nhân được can thiệp kịp thời mà không phải chuyển lên các Bệnh viện tuyến trên, đặc biệt gia tăng cơ hội sống trong các trường hợp cấp cứu như nhiễm trùng đường mật cấp tính hay shock nhiễm trùng do tắc mật.”

Khoa Ngoại tổng hợp BUH là một trong những chuyên khoa trọng điểm sở hữu đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn cao và không ngừng cập nhập các kỹ thuật trong điều trị bệnh. Đến nay, Khoa đã làm chủ và triển khai được nhiều kỹ thuật khó, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong khu vực Tây Nguyên được thụ hưởng dịch vụ y tế chất lượng, tiết kiệm chi phí.

ĐAU SAU MỔ KHÔNG CÒN LÀ NỖI LO LẮNG!

ĐAU SAU MỔ KHÔNG CÒN LÀ NỖI LO LẮNG!

Đau sau mổ là tình trạng đau cấp hoặc mạn tính do tổn thương mô và thần kinh ở các tổ chức bị can thiệp, phản ứng viêm và các cơ quan lân cận bị ảnh hưởng bởi tác động của cuộc phẫu thuật. Trên 80% người bệnh sau quá trình phẫu thuật trải qua cơn đau cấp tính và 75% những cơn đau này nằm ở mức độ đau trung bình đến đau nặng và chỉ <50% người bệnh được điều trị đau một cách phù hợp. Mức độ đau phụ thuộc vào tính chất, mức độ của phẫu thuật, kỹ thuật mổ và ngưỡng chịu đau (cảm nhận chủ quan) của người bệnh. Thông thường ở những kỹ thuật mổ can thiệp ít xâm lấn như mổ nội soi người bệnh sẽ cảm thấy đau ít hơn còn ở các trường hợp phẫu thuật hở với vết mổ lớn thường khiến bệnh nhân cảm thấy đau nhiều hơn, ảnh hưởng lớn đến khả năng hồi phục, tâm lý và cảm xúc của người bệnh. Vì vậy điều trị giảm đau sau mổ không những đóng vai trò quan trọng trong sự hồi phục cho người bệnh sau mổ mà còn mang ý nghĩa về đạo đức và tính nhân văn. 

Những tác hại do đau sau phẫu thuật

  • Hạn chế vận động, cứng khớp, teo cơ, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch
  • Rối loạn huyết động: mạch nhanh, tăng huyết áp, tăng tiêu thụ oxy, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim…
  • Lo âu, rối loạn cảm xúc, mất ngủ, trầm cảm… ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần
  • Tăng nguy cơ tai biến và biến chứng sau phẫu thuật: tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, viêm phổi, xẹp phổi, liệt ruột, nôn ói…
  • Đau mạn tính (đau kéo dài sau mổ) nếu không được điều trị đau đúng và kịp thời
  • Chậm hồi phục các chức năng khác của cơ thể
  • Tăng thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị

Tất cả những ảnh hưởng về tâm lý, sinh lý nêu trên góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong, tăng tỷ lệ mắc các tai biến biến chứng, chậm hồi phục sau mổ.

Lợi ích của giảm đau sau phẫu thuật

Với những tiến bộ y tế hiện nay, nếu được đánh giá và điều trị đúng, đau sau phẫu thuật không hề đáng sợ như trước kia. Các phương pháp giảm đau sau mổ hiện nay ngày càng được cải tiến và mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh như:

  • Giảm đau tốt, hồi phục nhanh
  • Giảm tai biến, biến chứng sau mổ
  • Tăng sự thoải mái và hài lòng cho người bệnh
  • Ra viện sớm, giảm chi phí điều trị

Các phương pháp giảm đau đang được áp dụng tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột

Lựa chọn kỹ thuật giảm đau sau mổ phụ thuộc vào mức độ đau, vị trí đau, đau khi nghỉ ngơi hay khi vận động, tiền sử và các bệnh lý có sẵn đi kèm, thời điểm tập phục hồi chức năng,… từ đó bác sĩ gây mê hồi sức sẽ đưa ra phương pháp giảm đau phù hợp, mang lại hiệu quả phục hồi cao.

Phương pháp giảm đau sau phẫu thuật tại BUH hiện tại đang áp dụng là giảm đau đa mô thức, trong đó:

  • Sử dụng nhiều thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau để có tác dụng hiệp đồng giúp giảm đau tốt hơn và giảm liều tối đa, giảm các tác dụng phụ bất lợi khi dùng 1 thuốc ở liều cao. Các thuốc này có thể dùng qua đường uống, tiêm, truyền: tĩnh mạch, tiêm bắp, PCA (bệnh nhân kiểm soát đau)
  • Các kỹ thuật gây tê vùng, gây tê thần kinh ngoại vi dưới hướng dẫn siêu âm
  • Gây tê trục thần kinh trung ương như gây ngoài màng cứng ngực, thắt lưng

Quy trình thực hiện giảm đau tại BUH

Trước phẫu thuật:

  • Bác sĩ phẫu thuật viên khám đánh giá và tư vấn các phương pháp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu.
  • Bệnh nhân sẽ được bác sĩ gây mê khám tiền mê đánh giá nguy cơ và được tư vấn về các phương pháp vô cảm trong phẫu thuật cùng các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật. Dùng thuốc dự phòng đau nếu người bệnh có nguy cơ cao

Trong phẫu thuật: 

  • Thực hiện các phương pháp vô cảm thích hợp, đảm bảo không đau đớn khi phẫu thuật.
  • Dùng các thuốc dự phòng đau, kéo dài thời gian giảm đau của các thuốc khác
  • Gây tê vùng, gây tê thần kinh ngoại vi hoặc thần kinh trung ương để giảm đau trước mổ nếu có thể
  • Theo dõi sát và đánh giá kỹ các biểu hiện đau với đội ngũ bác sĩ và kỹ thuật viên gây mê hồi sức tận tình, chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm.
  • Phòng mổ được trang bị các thiết bị hỗ trợ hiện đại để đảm bảo cuộc phẫu thuật diễn ra an toàn, ít xâm lấn. 

Sau phẫu thuật: 

  • Tiếp tục áp dụng phương pháp giảm đau đa mô thức (sử dụng các loại thuốc với nhiều cơ chế giảm đau, đường dùng khác nhau kết hợp với gây tê giảm đau).
  • Lựa chọn phương pháp giảm đau phù hợp mức độ đau và ngưỡng đau của người bệnh sau phẫu thuật.
  • Phòng hồi sức sau phẫu thuật thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh tạo điều kiện thuân lợi cho người bệnh phục hồi sớm sau phẫu thuật.

Điều trị giảm đau sau mổ đóng vai trò rất quan trọng trong thành công của cuộc mổ và sự phục hồi sớm của người bệnh, vì vậy Khoa Gây Mê Hồi Sức BUH luôn hướng đến thực hiện các phương pháp giảm đau hiện đại, tối ưu, ít tai biến nhằm mang lại hiệu quả giảm đau cao cho người bệnh. Với đội ngũ bác sĩ có nhiều kinh nghiệm, ân cần và chu đáo, các kỹ thuật giảm đau được đánh giá tính phù hợp và được thực hiện nhanh chóng giúp người bệnh yên tâm sau phẫu thuật và không còn phải lo lắng về đau sau phẫu thuật.

TÁN SỎI THẬN QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ – PHƯƠNG PHÁP CHUẨN VÀNG CHO BỆNH NHÂN CÓ SỎI THẬN LỚN, PHỨC TẠP

Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ (Mini-PCNL: Minimal invasive percutaneous nephrolitholapaxy) là một trong những phẫu thuật nội soi điều trị sỏi thận hiện đại hiện nay. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã triển khai thực hiện phương pháp Tán sỏi thận qua da một cách thường quy và đã có rất nhiều bệnh nhân được sử dụng kỹ thuật cao này để điều trị bệnh lý sỏi thận.

Nhân một trường hợp đặc biệt vừa được thực hiện kỹ thuật Tán sỏi qua da: Bệnh nhân L.V.C, 57 tuổi, đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột với tình trạng đau âm ỉ hông lưng hai bên, tiền sử đã mổ hở lấy sỏi thận hai bên cách đây 20 năm. Bệnh nhân đã đi khám tại các cơ sở y tế trong tỉnh và đều được đề xuất mổ hở lấy sỏi thận hai bên. Tuy nhiên do trước đây đã từng được mổ hở và hiểu được cảm giác đau đớn với vết mổ dài, bệnh nhân phân vân và quyết định tìm đến Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột. Sau khi thăm khám và thực hiện chụp Xquang, bệnh nhân được xác định có sỏi thận san hô phức tạp hai bên. Sau hội chẩn, bệnh nhân được các Bác Sĩ chuyên khoa ngoại tiết niệu chỉ định phẫu thuật nội tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ nhằm giải quyết triệt để sỏi thận hai bên.

Bệnh nhân được tiến hành nội soi tán sỏi thận TRÁI qua da, ngày hậu phẫu thứ nhất bệnh nhân đã đi lại, sinh hoạt bình thường. Ngày hậu phẫu thứ hai, sau khi chụp X-quang kiểm tra thì tình trạng đã sạch sỏi thận trái, bệnh nhân được rút ống dẫn lưu và cho xuất viện vào ngày hôm sau.

Sau một tháng, bệnh nhân tái khám và thực hiện nội soi tán sỏi thận PHẢI qua da. Sau khi kiểm tra đã sạch sỏi hoàn toàn hai bên, các bác sĩ đã cho bệnh nhân xuất viện. Bệnh nhân vui mừng cho biết: “Chú mổ cái này mà như không mổ, không hề có cảm giác đau đớn, sau mổ vẫn ăn uống, sinh hoạt bình thường, và đặc biệt vết mổ quá nhỏ so với ngày xưa chú mổ hở”.

Trước đây, những viên sỏi thận san hô phức tạp sẽ được chỉ định mổ mở truyền thống. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này sẽ gây đau nhiều sau mổ, vết thương mổ rộng dẫn đến lâu lành, nguy cơ nhiễm trùng cao nên kéo dài thời gian điều trị. Trong khi đó, việc áp dụng phương pháp Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ gần như khắc phục được phần lớn những hạn chế của phương pháp mổ mở truyền thống trước kia. Sau phẫu thuật, người bệnh chỉ có vết mổ nhỏ (khoảng 6mm), tình trạng sức khỏe ổn định và có thể đi lại, sinh hoạt như bình thường.

Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ là một trong những phương pháp điều trị sỏi thận hiện đại, thường được thực thực hiện tại các cơ sở y tế lớn tại Hà Nội và TP HCM. Đến hiện tại, các Bác Sĩ Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã làm chủ kỹ thuật và thực hiện thường quy kỹ thuật này. Điều này có ý nghĩa rất lớn vì đã tạo cơ hội điều trị cho nhiều bệnh nhân sỏi thận phức tạp tại địa phương, giúp người bệnh được thụ hưởng dịch vụ y tế chất lượng ngay ở tuyến tỉnh, giảm gánh nặng chi phí điều trị bệnh. Đồng thời qua đó khẳng định năng lực học tập, ứng dụng các kỹ thuật cao, chuyên sâu của đội ngũ y bác sĩ Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại  học Y Dược Buôn Ma Thuột nhằm điều trị hiệu quả các bệnh lý hiểm nghèo, phức tạp

Nhiều bệnh nhân điều trị thành công nhân tuyến giáp lành tính bằng PP đốt sóng cao tần (RFA) tại BUH

Nhân tuyến giáp là bệnh lý thường gặp của tuyến nội tiết. Bệnh lý này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong dân số, phần lớn là lành tính. Tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn gấp 5 lần nam giới, tăng lên ở người già, ước tính khoảng 50% người trên 60 tuổi có nhân tuyến giáp. Đa số bệnh nhân bị nhân tuyến giáp không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ. Với các nhân giáp lớn có thể gây ra các triệu chứng sau cho người bệnh: Khó thở, nuốt vướng, ho, khàn tiếng… Ngoài ra còn có gây mất thẩm mỹ do nhân to, làm biến dạng vùng cổ.

Trong những năm gần đây trên thế giới và các bệnh viện lớn trong nước bắt đầu ứng dụng các kỹ thuật ít xâm lấn để điều trị nhân giáp lành tính. Trong đó kỹ thuật điều trị bằng sóng cao tần (RFA) là giải pháp công nghệ cao được áp dụng phổ biến hiện nay để điều trị nhân tuyến giáp với ưu điểm vượt trội:

  •   Hiệu quả điều trị cao, an toàn.
  •   Ít xâm lấn, không đau, không để lại sẹo.
  •   Bảo tồn tối đa chức năng tuyến giáp.
  •   Chỉ cần gây tê tại chỗ quanh tuyến giáp, không cần phải gây mê từ đó bệnh nhân vẫn có thể giao tiếp với Bác sĩ trong thời gian thực hiện thủ thuật.
  •   Thời gian nằm viện ngắn, tiết kiệm chi phí điều trị.

Chỉ định điều trị bằng kỹ thuật đốt sóng cao tần:

  • Nhân tuyến giáp được xác định lành tính bằng siêu âm và sinh thiết.
  • Kích thước từ 2cm trở lên và có triệu chứng: đau, nuốt khó, khó thở, khàn tiếng, khó chịu vùng cổ.
  •  Nhân giáp lớn làm mất thẩm mỹ vùng cổ.

Hiện nay, kỹ thuật đốt sóng cao tần điều trị các bệnh lý nhân tuyến giáp được triển khai hiệu quả tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH). BUH có đầy đủ trang thiết bị hiện đại để triển khai kỹ thuật, quy trình thăm khám và thực hiện đốt sóng cao tần đều được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa giàu kinh nghiệm sẽ đem lại hiệu quả điều trị cao, hạn chế tối đa biến chứng có thể xảy ra trong và sau khi điều trị.

BUH cấp cứu thành công bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi

Ngày 21/4 vừa qua, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột vừa cấp cứu, chẩn đoán và điều trị thành công một bệnh nhân bị thuyên tắc động mạch phổi bằng phương pháp dùng thuốc tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch. Đây là trường hợp mắc thuyên tắc động mạch phổi đầu tiên được chữa trị thành công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Bệnh nhân Nguyễn Thị Loan (55 tuổi, trú tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột với triệu chứng khó thở, mệt, vã nhiều mồ hôi. Sau khi được các bác sĩ thăm khám và chẩn đoán bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi, bệnh nhân đã được chuyển ngay vào phòng cấp cứu trong tình trạng khó thở với độ bão hòa oxy máu (SpO2) là 80%, huyết áp 80/50 mmHg. Nhận định bệnh nhân sẽ rơi vào tình trạng suy hô hấp và tuần hoàn cấp, qua đánh giá tình trạng bệnh nhân còn trẻ tuổi, nguy cơ xuất huyết thấp cộng với kinh nghiệm của mình, ê kíp các y, bác sĩ Khoa nội tim mạch của Bệnh viện và ThS.BS Nguyễn Văn Điền, BSCK2. Phạm Công Nam đã khẩn trương tiến hành điều trị cho bệnh nhân bằng phương pháp tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch. Toàn bộ quy trình cấp cứu và chẩn đoán bệnh nhân đều được thực hiện đúng theo khuyến cáo của Hội Tim mạch quốc gia Việt Nam, cũng như của các Hội tim mạch quốc tế. Nhờ vậy bệnh nhân đã được điều trị đặc hiệu sớm và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nguy kịch. Sau khi tiến hành phương pháp cấp cứu cho bệnh nhân, đến nay, sức khỏe của bệnh nhân đã ổn định, hồi phục tốt, dự kiến bệnh nhân được xuất viện trong vài ngày tới. 

Chia sẻ về trường hợp của mình, bệnh nhân Nguyễn Thị Loan cho biết: Ngày 21/4 tôi bắt xe từ Đồng Nai lên Đắk Lắk để dự đám cưới. Khi xuống xe, tôi thấy người mệt mỏi, khó thở, đau ngực. Sau khi về đến nhà người thân, tôi ngất xỉu, được người nhà đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột và buộc phải tiến hành phẫu thuật gấp vì bệnh tình nguy hiểm, trong khi chi phí chữa bệnh gia đình chưa lo đủ nhưng Bệnh viện vẫn nhiệt tình cứu chữa nên tôi mới giữ được tính mạng. Đến giờ tôi hồi phục tốt, mạnh khỏe như thế này quả thật tôi rất biết ơn các y, bác sĩ của Bệnh viện. 

Theo bác sĩ Thái Bình Dương – Phụ trách Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột cho biết: khi bệnh nhân đã được chẩn đoán thuyên tắc phổi cấp thì công tác điều trị phải được tiến hành ngay lập tức 1 trong 3 phương pháp gồm tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch, tiêu sợi huyết trực tiếp qua catheter và phẫu thuật mở ngực lấy huyết khối bằng bóng fogarty. Đây là các kỹ thuật khó, hiện đại và hiện chưa có nhiều bệnh viện thực hiện được kỹ thuật này nhưng tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã thực hiện thành công 2 kỹ thuật tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch, tiêu sợi huyết trực tiếp qua catheter.

Thuyên tắc động mạch phổi là một bệnh khá phổ biến, đứng thứ 3 trong các biến cố tim mạch, sau nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Biểu hiện bằng tình trạng tắc động mạch phổi cấp do cục máu đông di chuyển từ các tĩnh mạch sâu (thường ở chi dưới) đến phổi; dẫn đến tình trạng rối loạn nặng về hô hấp – tuần hoàn. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời thì tỉ lệ tử vong do thuyên tắc phổi cấp có thể lên đến 34% (theo ESC 2019). Chẩn đoán và điều trị sớm thuyên tắc động mạch phổi có ý nghĩa lớn trong cải thiện tiên lượng bệnh nhân, tuy nhiên đây là việc không hề dễ dàng bởi các triệu chứng lâm sàng của thuyên tắc động mạch phổi rất đa dạng và hầu hết đều không đặc hiệu, có thể xuất hiện ở rất nhiều bệnh cảnh khác nhau như nhồi máu cơ tim, phản vệ, viêm phổi,… Tương tự, các xét nghiệm cận lâm sàng để phục vụ cho chẩn đoán cũng rất đa dạng và đa số đều chỉ có tác dụng loại trừ chẩn đoán, trong đó ý nghĩa nhất là các xét nghiệm D-Dimer, siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính (CT) động mạch phổi,… Do đó, để chẩn đoán sớm và chính xác thuyên tắc động mạch phổi cần dựa rất nhiều vào kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ y bác sĩ, trên cơ sở các khuyến cáo của các Hiệp hội quốc tế và Hội tim mạch quốc gia Việt Nam.

Hình chụp cắt lớp vi tính (CT) ban đầu

BS Thái Bình Dương thăm khám bệnh nhân

Tư vấn cùng các bác sĩ BUH trong chuyên đề “Các bệnh lý thường gặp ở đường tiêu hóa và ung thư đường tiêu hóa”

Tư vấn cùng các bác sĩ BUH trong chuyên đề “Các bệnh lý thường gặp ở đường tiêu hóa và ung thư đường tiêu hóa”

Trong chương trình truyền hình trực tiếp “Cùng DRT chăm sóc sức khỏe” phát sóng lúc 20h ngày 17/4 vừa qua của Đài Truyền Hình Đắk Lắk (DRT). BUH đã có dịp phối hợp thực hiện và chia sẻ về những kiến thức chăm sóc sức khỏe trong chuyên đề “Các bệnh lý thường gặp ở đường tiêu hóa và ung thư đường tiêu hóa”. 

Tham dự tư vấn trong chương trình là BSCKII. Lê Đình Linh Khoa Ngoại Tổng Hợp BUH và BSCKI.Từ Ngọc Hiếu – Đơn vị Ung Bướu Khoa, Khoa Ngoại Tổng Hợp BUH. Các bác sĩ đã có những trao đổi và chia sẻ bổ ích về chăm sóc sức khỏe đường tiêu hóa, cách phòng và điều trị ung thư đường tiêu hóa đến với khán giả màn hình nhỏ của nhà Đài. Đồng thời giải đáp thắc mắc trực tiếp những câu hỏi từ khán giả gửi về chương trình.

Ung thư đường tiêu hóa có nhiều loại khác nhau như: ung thư khoang miệng, thực quản, dạ dày, vòm họng, ruột non, trực tràng và hậu môn. Đây là căn bệnh nguy hiểm diễn ra âm thầm và hầu như không có dấu hiệu nhận biết trong thời gian dài. 

Mặc dù là căn bệnh nguy hiểm và có tỷ lệ tử vong cao, nhưng ung thư đường tiêu hóa hoàn toàn có thể chữa trị nếu bệnh được phát hiện sớm và chữa trị kịp thời. Theo thống kê của WHO, nhóm bệnh nhân phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm sẽ đạt tới 90%. Trong khi người bệnh phát hiện ở giai đoạn muộn thì chỉ khoảng 10%.

Tầm soát ung thư đường tiêu hóa là cách phát hiện sớm các dấu hiệu ung thư chính xác nhất hiện nay, từ đó các bác sĩ sẽ đưa ra được phác đồ điều trị phù hợp với từng trường hợp bệnh nhân cụ thể. Giúp kéo dài tuổi thọ cho người bệnh, thậm chí có cơ hội khỏi bệnh hoàn toàn.

BUH tin rằng những kiến thức trong chương trình sẽ giúp người dân chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình, nâng cao chất lượng sống.