BUH ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG MẤT VỮNG KHỚP ĐỘI – TRỤC CHO BỆNH NHÂN BẰNG KỸ THUẬT MỔ BẮT VÍT CỐ ĐỊNH C1 – C2 PHÍA SAU

BUH ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG MẤT VỮNG KHỚP ĐỘI – TRỤC

BẰNG KỸ THUẬT MỔ BẮT VÍT CỐ ĐỊNH C1 – C2 PHÍA SAU

Mất vững khớp đội trục thường không có triệu chứng cụ thể nhưng có thể gây đau cổ mơ hồ, đau đầu vùng chẩm, hoặc đôi khi gây chèn ép tủy cổ không liên tục ở các mức độ khác nhau như rối loạn dáng đi, nặng hơn là bại yếu tứ chi, rối loạn cơ tròn… thậm chí là tử vong do chèn ép hành tủy gây suy hô hấp. Vừa qua, BUH đã điều trị thành công ca mất vững khớp đội – trục (C1 – C2) nhờ áp dụng kỹ thuật cố định C1, C2 bằng nẹp vít phía sau (Harm’s technique) cho bệnh nhân B.V.M (59 tuổi, Đắk Lắk). Hiện tại, người bệnh phục hồi tốt, đi lại được và cải thiện đến 70% chức năng vận động.

— TÌNH TRẠNG: Bệnh nhân B.V.M (59 tuổi), vào viện trong tình trạng yếu tứ chi, đi không vững. Qua thăm khám và chẩn đoán X-quang thường quy và chụp cộng hưởng từ (MRI) để đánh giá tính toàn vẹn của dây chằng thì phát hiện tổn thương tủy cổ do mất vững khớp đội – trục.

Việc tổn thương đến tủy do mất vững khớp đội – trục có thể gây tử vong cao từ 13% đến 60%. Chính vì vậy, bất kể bệnh nhân nào có các yếu tố nguy cơ mất vững khớp đội – trục đều cần được kiểm tra và can thiệp phẫu thuật cấp cứu.

Có 3 phương pháp cố định C1 – C2 phía sau:

Buộc vòng cung sau, vít qua khớp C1 – C2: 

Ưu điểm đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên phương pháp này chỉ cố định tốt với chuyển động cúi và ưỡn, với chuyển động xoay sẽ gây mất vững; tỷ lệ không liền xương, khớp giả cao (khoảng 30%).

Hình minh họa kỹ thuật buộc vòng cung sau. Vít được đặt dưới vòm sau C1, vòng quanh mỏm gai C2, sau đó được kết hợp bằng cách đặt xương mào chậu có rãnh ở giữa để gắn vào phiến C2 và mỏm gai.

Vít qua khớp cố định vững chắc ở tất cả chuyển động

Phương pháp này giảm 61,4% vận động cúi ưỡn, giảm đến 82,7% vận động nghiêng và giảm 94,8% vận động xoay. Tuy nhiên, kỹ thuật này rất khó áp dụng cho các trường hợp mất vững đội – trục di lệch lớn, nếu không sửa chữa được các biến dạng bằng phương pháp nắn chỉnh ngoài. Ngoài ra, kỹ thuật này có thể gây tổn thương tủy và động mạch đốt sống ( tỷ lệ khoảng 2,5 – 4,3%).

Hình minh họa kỹ thuật Vít qua khớp cố định C1- C2

Cố định C1, C2 bằng nẹp vít phía sau (Vít khối bên C1 và vít qua cuống C2 – Phương pháp Harm’s technique)

Đây là phương pháp mang lại khả năng vững chắc về mặt cơ sinh học tốt do tăng diện tiếp xúc của xương và vít đồng thời có cánh tay đòn lực dài. Kỹ thuật được thực hiện bằng cách đặt vít vào hai khối bên C1 và cuống đốt hoặc eo của C2. Đặc biệt, vít khối bên C1  vít qua cuống C2 giúp chuyển động xoay tốt tùy thể trạng của từng bệnh nhân.

Hình minh họa vít khối bên C1 được kết nối qua vít cuống C2 bằng nẹp vít phía sau

— ĐIỀU TRỊ: Trường hợp bệnh nhân B.V.M là một ca bệnh phức tạp, BN đã lớn tuổi, loãng xương, thêm những tổn thương ở tủy cổ và động mạch đốt sống. Để hạn chế rủi ro, tăng khả năng hồi phục, các bác sĩ chuyên khoa Ngoại thần kinh – Khoa Ngoại tổng hợp BUH đã hội chẩn và quyết định mổ bắt vít cố định khớp đội – trục bằng phương pháp cố định C1, C2 bằng nẹp vít phía sau, lấy xương mào chạy tự thân để hàn đốt C1 & C2 phía sau. Ca phẫu thuật kéo dài khoảng 2 tiếng và thành công tốt đẹp.

So với các kỹ thuật nêu trên, kỹ thuật cố định C1, C2 bằng nẹp vít phía sau có nhiều ưu điểm vượt trội:

  • Không cần nắn chỉnh kín trước mổ. Quá trình nắn chỉnh được thực hiện trực tiếp trong phẫu thuật.
  • Vít vào xương dài hơn, mỗi đốt (C1, C2) được cố định bằng 2 vít 2 bên nên mức độ cố định vững chắc hơn.
  • Hiệu quả nắn chỉnh rõ rệt.
  • Tỷ lệ liền xương cao.
  • Hạn chế biến chứng gây tổn thương động mạch đốt sống nhờ việc quan sát trực tiếp vị trí đặt vít vào C1

Hệ thống nẹp vít cố định trong mổ.

Hình ảnh chụp CT TRƯỚC và SAU mổ

— KẾT QUẢ: Sau khi mổ, BN đã phục hồi tốt cả về cơ khớp tứ chi và tinh thần, hiện đã đi lại được và cải thiện đến 70% khả năng vận động.

Hình ảnh chụp CT sau khi bắt vít C1-C2 phía sau

Bệnh nhân cải thiện đến 70% sức khỏe sau ca mổ

 

 BSCK1. Nguyễn Văn Tấn – Phó Trưởng Khoa Ngoại tổng hợp BUH cho biết: “Cố định C1-C2 bằng ốc khối bên C1 – ốc chân cung C2 và hàn sau C1-C2 bằng ghép mào chậu tự thân là kỹ thuật điều trị tối ưu cho các trường hợp mất vững khớp đội – trục. Để thực hiện được đòi hỏi phẫu thuật viên có tay nghề cao, được đào tạo bài bản, phối hợp nhịp nhàng với các bác sĩ gây mê cùng trang thiết bị hiện đại hỗ trợ. Hiện nay, BUH đã áp dụng thường quy kỹ thuật này trong điều trị các trường hợp mất vững khớp đội – trục do các nguyên nhân khác nhau: Chấn thương, viêm khớp dạng thấp, lao… mang lại kết quả tốt, giúp người bệnh an tâm điều trị y tế ngay tại địa phương.”

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng liên hệ:

HOTLINE 1900 1147

NỘI SOI CỘT SỐNG ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM TẠI BUH AN TOÀN – MAU PHỤC HỒI – ÍT XÂM LẤN

NỘI SOI CỘT SỐNG ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM TẠI BUH

AN TOÀN – MAU PHỤC HỒI – ÍT XÂM LẤN

Nhờ ứng dụng hiệu quả kỹ thuật nội soi cột sống, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã điều trị thành công nhiều ca bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống, giúp người bệnh sớm phục hồi và giảm tối đa các nguy cơ biến chứng trong phẫu thuật.

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Thoát vị đĩa đệm là hiện tượng một hoặc nhiều đĩa đệm nằm giữa các đốt sống bị tổn thương, trượt ra khỏi vị trí ban đầu gây chèn ép lên tủy sống và các dây thần kinh trong ống sống, khiến người bệnh có cảm giác đau lưng, đau lan xuống chân, đau tăng dần khi đứng, đi lại, hắt hơi…

Thoát vị đĩa đệm cột sống là bệnh lý thường gặp, chiếm đến 80% nguyên nhân gây đau lưng.

Tùy thuộc vào vị trí dây thần kinh bị đĩa đệm chèn ép mà mỗi bệnh nhân sẽ có những dấu hiệu và biến chứng khác nhau. Nếu đĩa đệm chèn ép các dây thần kinh ngay tại vùng thắt lưng và không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ, teo dần các chi, thậm chí là mất khả năng đi lại.

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống bằng phẫu thuật nội soi

Phẫu thuật nội soi là một kỹ thuật điều trị mới, thông qua vết mổ có kích thước rất nhỏ (khoảng 1cm) và hệ thống ống nhỏ kết hợp với ống nội soi để hình dung phẫu trường. Trước đây, phẫu thuật nội soi thường được dùng để điều trị các vùng khác của cơ thể (như đường tiêu hóa). Nhưng nhờ những tiến bộ trong quang học, hình dung mô và hình ảnh cột sống, phẫu thuật nội soi cột sống đã được ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh lý liên quan đến cơ xương khớp, điển hình là thoát vị đĩa đệm.

Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống, tuy nhiên phương pháp nội soi đang là ưu thế trong ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại với nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với các phương pháp phẫu thuật cột sống truyền thống:

  • Ít xâm lấn, vết mổ nhỏ chỉ khoảng 1cm, hạn chế nhiễm trùng.
  • Ít tàn phá cơ, không chảy máu.
  • Hậu phẫu người bệnh ít đau hơn và phục hồi nhanh hơn, đi lại bình thường ngay sau khi hồi tỉnh .
  • Ngoài ra, phương pháp này còn giúp duy trì phạm vi di chuyển bình thường của cột sống, tiên lượng người bệnh có thể xuất viện sau 1 ngày phẫu thuật.

Phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị đĩa đệm là phương pháp hiện đại, an toàn, ít xâm lấn

Theo BSCKI. Nguyễn Văn Tấn – Phó Trưởng Khoa Ngoại Tổng Hợp, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột: “Hiện nay, tỷ lệ điều trị thành công các bệnh lý về cột sống, đặc biệt là phẫu thuật nội soi thoát vị đĩa đệm đã được nâng cao đáng kể. Đây là thành quả của sự kết hợp giữa kỹ thuật Y học cùng các trang thiết bị hiện đại hỗ trợ. Nhờ đó, phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị đĩa đệm đã hạn chế được tổn thương các mô lành xung quanh, giúp người bệnh sớm sinh hoạt trở lại, chỉ 1 ngày sau mổ.”

Gần đây, BUH tiếp nhận nhiều trường hợp có biểu hiện đau thắt lưng, tê bì lan xuống chân, cảm giác đau nhiều ở lưng và chân khi đứng làm việc đã kéo dài nhiều năm. Qua thăm khám và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng, các bác sĩ nhận định đây đều là những trường hợp bị thoát vị đĩa đệm cột sống. Đáng chú ý, bệnh nhân đang có xu hướng ngày càng trẻ hóa. Trước đây, những người bị thoát vị đĩa đệm thường ở độ tuổi trên 40, nhưng gần đây hầu hết đều ở trong độ tuổi lao động trẻ ( từ 18 tuổi), gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống hằng ngày.

Thấu hiểu tâm lý sợ đau và biến chứng sau khi mổ hở theo phương pháp truyền thống, BUH đã áp dụng kỹ thuật phẫu thuật nội soi cột sống ít xâm lấn, phối hợp chặt chẽ với các chuyên khoa khác như Khoa Xét nghiệm, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Gây mê hồi sức … giúp chẩn đoán chính xác bệnh lý và tối ưu hóa hiệu quả điều trị cho người bệnh.

Với thời gian mổ chỉ khoảng 30-60 phút, ít tàn phá cơ, không chảy máu, người bệnh có thể hồi phục vận động sớm và yên tâm tận hưởng cuộc sống trọn vẹn hơn.

Việc phối hợp chặt chẽ với các chuyên khoa trong phẫu thuật nội soi cột sống giúp chẩn đoán chính xác bệnh lý và tối ưu hóa hiệu quả.

Sở hữu đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm trong điều trị các bệnh lý cột sống & thần kinh, cùng trang thiết bị hiện đại, hệ thống kiểm soát chất lượng đạt chuẩn, Đơn vị Ngoại Thần Kinh – Khoa Ngoại tổng hợp BUH đã điều trị thành công 10 ca thoát vị đĩa đệm bằng phương pháp nội soi đến thời điểm hiện đại. Các bệnh nhân đều đã phục hồi tốt và hết các triệu chứng đau của bệnh lên tới 90% ngay sau khi phẫu thuật xong.

 

Bệnh nhân sau mổ nội soi cột sống có thể đi lại nhẹ nhàng ngay sau khi hồi tỉnh

Phòng ngừa thoát vị đĩa đệm bằng cách nào?

Mọi người cần rèn luyện thể chất và có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý để có một cột sống vững chắc ngay từ trẻ: 

  • Ngồi làm việc giữ thẳng lưng, tránh ngồi lâu một chỗ mà không vận động
  • Tránh cúi người hoặc khiêng vác quá sức gây chấn thương cột sống.
  • Không hút thuốc, không dùng chất kích thích, hạn chế rượu bia
  • Kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần.

Các bác sĩ Khoa Ngoại Tổng Hợp, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột khuyến cáo: “Nếu có các triệu chứng của thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng như: đau lưng kéo dài, đau lan tê mông, đùi, chân, có thể kèm theo yếu chân, đi lại khó khăn … người bệnh cần nhanh chóng đến khám tại các cơ sở có chuyên khoa cột sống để được chẩn đoán và điều trị phù hợp”.

Đơn vị Ngoại Thần Kinh – Khoa Ngoại tổng hợp BUH là chuyên khoa về điều trị, thăm khám bằng phương pháp phẫu thuật liên quan đến hệ thần kinh thông qua sử dụng thiết bị phẫu thuật Y khoa hiện đại như: máy khoan cắt tốc độ cao, kính vi phẫu thuật dùng trong sọ não và cột sống, giúp phẫu thuật nhanh và an toàn, mang lại sức khỏe và sự yên tâm cho bệnh nhân. Bệnh viện được đầu tư và trang bị đồng bộ các máy móc, trang thiết bị hiện đại như: máy chụp cộng hưởng từ MRI 1.5 Tesla; máy chụp cắt lớp vi tính CT 128 lát cắt;… để có thể phát hiện sớm các tổn thương và điều trị hiệu quả các bệnh lý về sọ não và cột sống.

Để được tư vấn trực tiếp và miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng liên hệ HOTLINE 1900 1147

 

 

BUH ĐIỀU TRỊ KỊP THỜI CHO BỆNH NHÂN MẮC BỆNH “RỖNG TỦY” BỆNH LÝ THẦN KINH “HIẾM GẶP”

BUH ĐIỀU TRỊ KỊP THỜI CHO BỆNH NHÂN MẮC BỆNH “RỖNG TỦY”

BỆNH LÝ THẦN KINH “HIẾM GẶP”

Vừa qua, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột kịp thời cấp cứu và điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh hiếm gặp là bệnh rỗng tủy sống do dị dạng chiari type I. Đây là bệnh lý thần kinh tủy sống hiếm gặp, có tỷ lệ mắc 1/1000 người với các triệu chứng khó nhận biết trong rối loạn vận động, cảm giác và dinh dưỡng.

Bệnh nhân N.N.Đ.T (15 tuổi, TP. Buôn Ma Thuột) nhập viện cấp cứu trong tình trạng đau mỏi, yếu tứ chi. Gia đình bệnh nhân cho biết, trước khi nhập viện bệnh nhân bị tê mỏi từ vai xuống lưng rồi ra tay, gia đình đã dùng dầu xoa bóp nhưng không hết, sau đó bệnh nhân có dấu hiệu bị bại cánh tay không thể cử động, đi đứng không vững. Sau khi được các bác sĩ Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột tiếp nhận, thực hiện phương pháp thăm khám và chụp MRI cổ. Kết quả chẩn đoán, bệnh nhân mắc bệnh rỗng tủy sống do dị dạng Chiari type I. 

  Hình ảnh chụp MRI trước mổ

Nhận định đây là tình huống khẩn cấp, các bác sĩ đã nhanh chóng phẫu thuật giải áp chẩm cổ, cắt cung sau C1 (cột sống cổ C1). Phẫu thuật nhằm tái tạo dòng chảy dịch não tủy bình thường xung quanh và phía sau tiểu não, ngăn chặn bệnh tiến triển nặng xuống 2 chân gây liệt, thậm chí có nguy cơ đột tử cho bệnh nhân. Ca phẫu thuật diễn tiến thuận lợi, bệnh nhân dần ổn định và tự đi lại được. Sau khi xuất viện sẽ tiếp tục theo dõi điều trị vật lý trị liệu và hồi phục dần sau 6 tháng.

Hình ảnh MRI sau khi phẫu thuật

Trao đổi với gia đình, mẹ bệnh nhân. N.N.Đ.T chia sẻ “Trước đây thấy con cũng hay té, lần nào đi đá banh là té ngã lần đó, sau trò chuyện với bác sĩ điều trị thì mới biết yếu tay và chân cũng là một trong những dấu hiệu của bệnh rỗng tủy nhưng gia đình không biết, không ai ngờ cháu mắc bệnh hiếm nguy hiểm.”

Các vết thương do té ngã trong sinh hoạt của bệnh nhân

Rỗng tủy sống có thể do nhiều nguyên nhân, dị dạng Chiari là nguyên nhân hàng đầu. Trong quá trình phát triển bào thai, phần bên dưới của tiểu não nhô ra từ phần đáy của đầu, đâm vào phần cổ của ống tủy sống gây cản trở sự lưu thông của dòng chảy dịch não tủy bình thường, do tiểu não làm tắc nghẽn ở lỗ chẩm hình thành khoang hoặc nang trong tủy sống. Theo thời gian khoang dịch mở rộng, nó có thể thay thế hoặc làm tổn thương các sợi thần kinh trong tủy sống. Một loạt các triệu chứng có thể xảy ra, tùy thuộc vào kích thước và vị trí của rỗng tủy sống.

Nhiều người bị dị dạng Chiari loại I không có triệu chứng. Tuy nhiên, bất cứ triệu chứng nào sau đây đều có thể xảy ra, đơn độc hoặc kết hợp với nhau. Một số triệu chứng có liên quan đến sự phát triển của ống tủy (khoang dịch não tủy trong tủy sống).

  • Đau đầu và cổ nặng.
  • Đau đầu vùng chẩm và cảm thấy tồi tệ hơn khi ho, hắt hơi, hoặc căng thẳng.
  • Mất cảm giác đau và cảm giác nhiệt độ của thân trên và cánh tay (do rỗng tủy).
  • Yếu tay và cánh tay (do rỗng tủy).
  • Ngã quỵ do yếu cơ.
  • Liệt cứng.
  • Chóng mặt.
  • Vấn đề thăng bằng.
  • Nhìn đôi hoặc nhìn thấy mờ.
  • Quá mẫn với ánh sáng chói.

Theo BS.CKI. Nguyễn Văn Tấn – Phó Trưởng Khoa Ngoại Tổng Hợp, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột cho biết Rỗng tủy là một căn bệnh hiếm gặp và nguy hiểm. Bệnh kéo dài có thể dẫn tới tàn tật ở các bộ phận bị ảnh hưởng. Khi hốc rỗng tủy lan tới não (bệnh rỗng tủy não) sẽ gây ra những rối loạn nặng, đe dọa tính mạng bệnh nhân. Vậy nên mọi người nên thường xuyên kiểm tra sức khỏe định kỳ và không nên bỏ qua bất cứ dấu hiệu bất thường nào về sức khỏe để có thể phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh lý có thể gặp phải.”

Ekip Bác sĩ Khoa Ngoại BUH chúc mừng bệnh nhân hồi phục sau phẫu thuật

Đơn vị Ngoại Thần Kinh – Khoa Ngoại tổng hợp BUH là chuyên khoa về điều trị, thăm khám bằng phương pháp phẫu thuật liên quan đến hệ thần kinh thông qua sử dụng thiết bị phẫu thuật Y khoa hiện đại như: máy khoan cắt tốc độ cao, kính vi phẫu thuật dùng trong sọ não và cột sống, giúp phẫu thuật nhanh và an toàn, mang lại sức khỏe và sự yên tâm cho bệnh nhân. Bệnh viện được đầu tư và trang bị đồng bộ các máy móc, trang thiết bị, hiện đại như: máy chụp cộng hưởng từ MRI 1.5 Tesla; máy chụp cắt lớp vi tính CT 128 lát cắt;… để có thể phát hiện sớm các tổn thương và điều trị hiệu quả các bệnh lý về sọ não và cột sống.

BUH PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG “THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM” – BỆNH LÝ XƯƠNG KHỚP GÂY ĐAU NHỨC DAI DẲNG CHO BỆNH NHÂN

Thoát vị đĩa đệm là bệnh lý phổ biến ở độ tuổi từ 30-60, gây ra các cơn đau nhức cột sống, tê bì tay chân kéo dài, thậm chí có thể khiến người bệnh bại liệt vĩnh viễn. Do đó, việc chẩn đoán chính xác các nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm là cực kỳ cấp thiết để điều trị bệnh dứt điểm, tránh các tổn thương lâu dài và khó hồi phục.

Vừa qua, Đơn vị Ngoại thần kinh – Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã có 2 ca phẫu thuật thành công cho bệnh nhân lớn tuổi mắc thoát vị đĩa đệm. Hiện tại bệnh nhân đã phục hồi các chức năng vận động và sinh hoạt bình thường, tinh thần cũng vui vẻ trở lại. 

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Thoát vị đĩa đệm là bệnh lý xương khớp diễn ra khi nhân nhầy ở đĩa đệm cột sống tách ra khỏi vị trí ban đầu trong vòng sợi, dẫn tới chèn ép vào ống sống hay các rễ dây thần kinh, khiến người bệnh tê bì tay chân, đau nhức cột sống kéo dài …

Phần lớn người bệnh mắc chứng thoát vị đĩa đệm ở cột sống thắt lưng và thoát vị đĩa đệm ở cổ vì đây là những vị trí chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ thói quen sinh hoạt sai cách thường ngày.

 

Thoát vị đĩa đệm chèn ép dây thần kinh và gây ra các cơn đau nhức

Khi bị thoát vị đĩa đệm ở đốt sống cổ, vùng cổ và vai gáy sẽ bắt đầu đau nhói, sau đó lan dần xuống cánh tay và cả bàn tay. Tệ hơn, lúc di chuyển hay nằm ngồi, bệnh nhân còn có cảm giác đau tức ngực.

Với trường hợp thoát vị đĩa đệm ở vùng cột sống thắt lưng, cơn đau có thể lan dần xuống cả vùng hông và đùi, thậm chí là xuống bàn chân dẫn đến đau buốt khó chịu, ăn ngủ không yên.

Do đó, nếu không phát hiện và điều trị đúng cách, người bị thoát vị đĩa đệm có thể bị teo cơ, liệt chi và vĩnh viễn khó đi lại.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Một số nguyên nhân chính gây thoát vị đĩa đệm:

– Tuổi tác là nguyên nhân mà hầu hết các bệnh nhân thoát vị đĩa đệm gặp phải. Vì khi quá trình lão hóa xảy ra, cột sống không còn linh hoạt, vòng sụn bên ngoài bắt đầu xơ hóa, lượng nước và tính đàn hồi bên trong nhân nhầy cũng giảm đi, nên người lớn tuổi càng dễ mắc bệnh

– Vận động, làm việc quá sức hoặc sai tư thế, khiến đĩa đệm và cột sống bị tổn thương

– Thừa cân làm cột sống lưng sẽ dần yếu đi khi gánh chịu áp lực trọng lượng lớn của cơ thể

– Chấn thương do tai nạn: Khi bị tác động lực mạnh từ bên ngoài như té ngã, chơi thể thao, … đĩa đệm có thể bị tổn thương và thay đổi cấu trúc.

– Một số nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm khác như: yếu tố di truyền, lạm dụng chất kích thích, bia rượu, chế độ ăn uống không lành mạnh…

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm

Dấu hiệu ban đầu của thoát vị đĩa đệm thường là cảm giác đau nhẹ tại nhiều vị trí trên cột sống. Nhưng lâu ngày, cơn đau có thể tiến triển dữ dội hơn và lan dần lên các cơ xương khớp khác, bao gồm:

– Đau đột ngột ở vùng cổ, sau đó lan âm ỉ ra vùng vai gáy, chân tay. Sau vài tuần hoặc vài tháng, người bệnh đi lại sẽ khó khăn hơn.

– Tê bì vùng thắt lưng, vùng cổ và lan dần xuống mông, đùi, cẳng và gót chân, gây cảm giác râm ran như bị kiến bò trong người.

– Đau hơn khi đổi tư thế: xoay cổ, ưỡn cổ, nằm nghiêng, ho, hắt hơi hoặc đại tiện.

– Đau đầu hoặc chóng mặt đột ngột.

– Yếu cơ, bại liệt: xuất hiện khi tình trạng thoát vị đĩa đệm trở nên nghiêm trọng và chèn ép tủy sống, khiến chân và tay yếu đi, không thể đứng vững hay cầm, nắm chắc; cơ đùi hay bắp chân rung lên mỗi khi vận động quá sức.

Đơn vị Ngoại thần kinh BUH phẫu thuật thành công cho bệnh nhân mắc thoát vị đĩa đệm

Trong thời gian vừa qua, BUH tiếp nhận rất nhiều ca bệnh thoát vị đĩa đệm ở người lớn tuổi với tình trạng tê bì hai chân, đi lại khó khăn không thuyên giảm. Hầu hết bệnh nhân đều đã sống chung với triệu chứng bệnh suốt nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm không khỏi chỉ vì tin các bài thuốc đắp lá “thần thánh” với mức phí hàng chục triệu đồng. Nghiêm trọng hơn, nhiều bệnh nhân đến BUH với tình trạng da bỏng, phồng đỏ lan dần khắp người.

Cô An là một trường hợp thoát vị đĩa đệm lan xuống vùng chân. 04 tháng trước đó, cô có nghe người quen giới thiệu các bài thuốc lá đặc trị xương khớp nên bỏ mấy chục triệu để đắp lá chữa thoát vị đĩa đệm tại Thanh Hóa, nhưng bệnh tình vẫn không tiến triển.

Trường hợp tương tự là bác Hòa với tình trang đau nhức, tê bì chân tay tái đi tái lại đã 6 năm nay. Bác chia sẻ bản thân đã thử các loại thuốc gia truyền, đắp thảo dược không rõ nguồn gốc nên chỉ giảm cơn đau tức thời, hôm sau bệnh tình vẫn tiếp diễn. Vậy nên, cả 2 bác đều quyết định đến BUH với mong mỏi chấm dứt hẳn bệnh. “Giá như bác đến thẳng bệnh viện uy tín mà thăm khám thì chẳng phải chịu đau đớn suốt mấy năm trời, tốn hơn mấy chục triệu mà chẳng hề thuyên giảm” – bác Hòa hối tiếc chia sẻ.

Sau khi được bác sĩ chuyên Khoa Ngoại Thần Kinh BUH thăm khám, chẩn đoán và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp với phương pháp ngoại khoa của y học hiện đại để điều trị bệnh triệt để, ca phẫu thuật thoát vị đĩa đệm của 2 bác đã diễn ra thành công tốt đẹp.

“Từ khi vào đây chỉ 10 ngày, thấy bệnh viện ngày nào cũng có ca, mà ca nào liên quan đến xương khớp, thoát vị đĩa đệm như bác đều thành công cả” – Cô An xúc động chia sẻ

“Chân thành cảm ơn các bác sĩ đã tận tình chăm sóc cho bác trong suốt quá trình điều trị và phẫu thuật. Bác đã đi lại vô tư, tinh thần cũng thoải mái hơn rất nhiều.”

( *Tên bệnh nhân đã được thay đổi trong bài viết)

Nên làm gì khi bị thoát vị đĩa đệm?

BSCK1. Nguyễn Văn Tấn – Phó Trưởng Khoa Ngoại tổng hợp BUH chia sẻ: “Khi có các bệnh lý liên quan đến cột sống, người bệnh nên đến các cơ sở y tế có chuyên khoa để thăm khám, điều trị đúng, tránh tự tiện sử dụng các loại thuốc không rõ nguồn gốc mà để lại di chứng nặng nề cho cơ thể. Vì dịch phồng khi đắp lá thuốc không phải là nhân đĩa đệm được hút ra như quảng cáo, đó thực ra chỉ là dịch huyết tương khi da bị phỏng.”

Hậu quả khi lạm dụng bài thuốc đắp lá lâu ngày

Đơn vị Ngoại Thần Kinh – Khoa Ngoại tổng hợp BUH là chuyên khoa về điều trị, thăm khám bằng phương pháp phẫu thuật liên quan đến hệ thần kinh thông qua sử dụng thiết bị phẫu thuật Y khoa hiện đại như: máy khoan cắt tốc độ cao, kính vi phẫu thuật dùng trong sọ não và cột sống, giúp phẫu thuật nhanh và an toàn, mang lại sức khỏe và sự yên tâm cho bệnh nhân. Bệnh viện được đầu tư và trang bị đồng bộ các máy móc, trang thiết bị, hiện đại như: máy chụp cộng hưởng từ MRI 1.5 Tesla; máy chụp cắt lớp vi tính CT 128 lát cắt;… để có thể phát hiện sớm các tổn thương và điều trị hiệu quả các bệnh lý về sọ não và cột sống.

Lưu ý: Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

 

LẦN ĐẦU TIÊN TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN: BUH CẤP CỨU “NGOẠN MỤC” CA ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO GIỜ THỨ 7

Mỗi năm nước ta có khoảng 200.000 trường hợp bị đột quỵ với tỷ lệ tử vong từ 10-20%, trong đó khoảng 85% là do đột quỵ nhồi máu não. Đây là tình trạng động mạch não bị thuyên tắc một phần, hoặc hoàn toàn dẫn tới việc lưu lượng máu cung cấp tới não bị giảm đột ngột. Theo thống kê, cứ 4 ca bị đột quỵ chỉ có 1 ca là bệnh nhân có thể độc lập đi lại. “Time is Brain” ~ “Thời gian là não” – Cứ mỗi giây phút trôi qua không được cấp cứu tái thông mạch máu, tế bào não – vốn không có nguồn dự trữ oxy – sẽ dần tổn thương và có thể vĩnh viễn không hồi phục chỉ sau 5-7 phút. Vì vậy, việc nhận biết sớm các triệu chứng của đột quỵ; đưa bệnh nhân đến các cơ sở đủ năng lực để xử trí cấp cứu kịp thời sẽ mang tính chất quyết định đến tính mạng và khả năng phục hồi sau này của bệnh nhân.

BUH cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não giờ thứ 7

Chiều ngày 15/06/2023, BUH tiếp nhận bệnh nhân N.V.Đ (Nam, 67 tuổi, Krông Nô – Đắk Nông) trong tình trạng cấp cứu nhồi máu não giờ thứ 7. Bệnh nhân đến trong tình trạng liệt và mất cảm giác hoàn toàn nửa người bên phải, nói khó, tri giác giảm. Ê kíp Đột quỵ não của Bệnh viện gồm: ThS.BS. Nguyễn Văn Điền – Cố vấn chuyên môn và các bác sĩ can thiệp BUH đã nhanh chóng tiếp nhận người bệnh, đánh giá nhanh và ngay lập tức khởi động quy trình cấp cứu. Các bác sĩ đã tiến hành chụp động mạch não, xác định vị trí tắc tại đoạn M1 động mạch não giữa bên trái. Bệnh nhân ngay lập tức được thực hiện kỹ thuật hút – kéo huyết khối tái thông mạch não qua da. Đây là trường hợp nhồi máu não được cứu sống bằng kỹ thuật hiện đại này, ngay tại khu vực Tây Nguyên.

Vợ của bệnh nhân N.V.Đ chia sẻ: “Trưa ngày 15/06/2023, chồng tôi đi đám cưới bạn, trong lúc đang ăn thì anh bỗng nhiên thấy nóng bừng người và bắt đầu nghiêng người về bên phải không gượng dậy được, miệng bắt đầu méo đi và liệt một bên người. Gia đình nhanh chóng đưa anh tới cơ sở y tế để cấp cứu. Nhận định các dấu hiệu của đột quỵ, các bác sĩ tư vấn cho gia đình nên chuyển lên tuyến trên tại TP.HCM để điều trị. Rất may mắn gia đình tôi biết được thông tin tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột có các Bác sĩ hoàn toàn đủ năng lực để điều trị tốt các trường hợp này. Sau khi nhập viện, rất nhanh chóng các bác sĩ đã cấp cứu cho chồng tôi. Sau 12 tiếng chồng tôi đã có thể nói và cử động tay chân được, tôi và gia đình rất mừng và thực sự cảm kích”

Theo thông tin từ ekip điều trị, bệnh nhân trước khi tới BUH đã được cấp cứu bằng phương pháp dùng tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch trong giờ “vàng” (giờ thứ 4). Tuy nhiên, sau đó, nhận thấy lâm sàng bệnh nhân không cải thiện, các bác sĩ đã quyết định chuyển viện để can thiệp mạch não. Nhập viện tại BUH vào giờ thứ 7, các bác sĩ Khoa Cấp cứu và Khoa Tim Mạch đã phối hợp hội chẩn, tiến hành chụp cộng hưởng từ (MRI) để đánh giá và nhận thấy vùng nhồi máu diện rất rộng, tổn thương huyết khối vẫn chưa biến mất, động mạch não giữa bên trái đoạn M1 vẫn còn trong tình trạng tắc nghẽn. Ngay lập tức bệnh nhân được các bác sĩ tiến hành hút huyết khối qua da bằng dụng cụ React kết hợp sử dụng stent kéo huyết khối Solitaire X.

TRƯỚC: Hình ảnh DSA cho thấy động mạch máu não giữa trái đoạn M1 tắc hoàn toàn do huyết khối

SAU: Tái thông mạch máu não hoàn toàn sau khi hút – kéo huyết khối

Hình ảnh những cục huyết khối sau khi được hút ra bên ngoài

Toàn bộ quy trình chẩn đoán và cấp cứu bệnh nhân đều được thực hiện đúng theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa Kỳ/Hội Đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA) và Bộ Y Tế. Nhờ vậy bệnh nhân đã được điều trị kịp thời và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nguy kịch. Ngay sau khi thực hiện, cơ lực bệnh nhân ngay lập tức có dấu hiệu cải thiện và sau gần 24h, cơ lực đã hồi phục 4/5, hình ảnh CT đánh giá lại không thấy chuyển dạng xuất huyết.

Bác sĩ thăm khám bệnh nhân sau can thiệp

ThS.BS. Thái Bình Dương – Phụ trách Khoa Nội Tim Mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột thông tin thêm: “Trong cấp cứu đột quỵ, thời gian chính là não, chính là mạng sống của bệnh nhân. Đột quỵ thường có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào nên nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến những di chứng không thể phục hồi, tạo gánh nặng về kinh tế cho cả gia đình và xã hội. Vậy nên, người dân cần chủ động tìm hiểu thông tin về các dấu hiệu đột quỵ và đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế có đủ năng lực xử trí. Nếu được cấp cứu trong khung giờ vàng, bệnh nhân sẽ có cơ hội phục hồi hoàn toàn ngay sau khi can thiệp.”

Theo khuyến cáo, một số dấu hiệu nhận biết nguy cơ bị đột quỵ theo dấu hiệu F.A.S.T như sau:

  • Méo miệng (Face): Biểu hiện rõ khi bệnh nhân cười, nhe răng.
  • Yếu, liệt tay (Arm) hoặc chân: Đánh giá bệnh nhân có yếu hay liệt một bên hay không bằng cách yêu cầu bệnh nhân đưa hai tay lên cao.
  • Ngôn ngữ bất thường (Speech): Đề nghị bệnh nhân lặp lại một cụm từ đơn giản. Xem bệnh nhân có hiểu không? Có lặp lại được không? Nhận xét giọng nói có bị khó nghe không.
  • Thời gian khởi phát đột ngột (Time): Khi xuất hiện những triệu chứng trên, người bệnh cần giữ nguyên tư thế và không được hoạt động, sau đó nhanh chóng gọi cấp cứu hoặc đưa bệnh nhân đến bệnh viện có điều trị đột quỵ. Người bệnh cần ghi nhớ thời điểm phát bệnh để thông báo với nhân viên y tế.

Hiện tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã tiếp nhận và đã điều trị hiệu quả cho bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não, đồng thời sự phối hợp giữa các khoa chuyên môn và đội ngũ bác sĩ, chuyên gia dày dặn kinh nghiệm đã giúp quá trình cấp cứu bệnh nhân được diễn ra nhanh chóng, giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm do bệnh gây ra.

BUH PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG “HỘI CHỨNG CHÙM ĐUÔI NGỰA” – BỆNH LÝ GÂY LIỆT 2 CHÂN VÀ BÍ ĐẠI TIỂU TIỆN CHO BỆNH NHÂN

BUH PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG “HỘI CHỨNG CHÙM ĐUÔI NGỰA” – BỆNH LÝ GÂY LIỆT 2 CHÂN VÀ BÍ ĐẠI TIỂU TIỆN CHO BỆNH NHÂN

Hội chứng chùm đuôi ngựa (Cauda equina syndrome – CES) là cấp cứu ngoại thần kinh hiếm gặp nhưng rất nghiêm trọng do sự chèn ép vào rễ các dây thần kinh (cauda equina) ở đáy tủy sống trong ống sống. Triệu chứng của bệnh lý này thường là tình trạng đau lưng dữ đội, tê liệt hai chân, đại tiểu tiện không tự chủ, rối loạn sinh dục. Việc bệnh nhân cần được chẩn đoán nhanh là rất cần thiết để được điều trị kịp thời, tránh các tổn thương lâu dài và khó hồi phục. Vừa qua, Đơn vị Ngoại thần kinh – Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột đã phẫu thuật cấp cứu thành công cho bệnh nhân nữ (35tuổi) mắc bệnh lý hội chứng chùm đuôi ngựa. Hiện tại bệnh nhân đã phục hồi các chức năng vận động, tự chủ đại tiểu tiện và được xuất viện tiếp tục theo dõi điều trị tại nhà.

Hội chứng chùm đuôi ngựa là gì?

Hội chứng chùm đuôi ngựa (Cauda equina syndrome – CES) là cấp cứu ngoại thần kinh hiếm gặp nhưng rất nghiêm trọng do sự chèn ép vào rễ các dây thần kinh (Cauda equina) ở đáy tủy sống trong ống sống. Triệu chứng của bệnh lý này thường là tình trạng đau lưng dữ đội, tê liệt hai chân, đại tiểu tiện không tự chủ, rối loạn sinh dục. Việc bệnh nhân cần được chẩn đoán nhanh là rất cần thiết để được điều trị kịp thời, tránh các tổn thương lâu dài và khó hồi phục. 

Cauda Equina là một tập hợp các dây thần kinh hình thành ở đáy tủy sống (vẫn nằm trong ống sống) ở mức xấp xỉ L1 (đốt sống thắt lưng đầu tiên). Các dây thần kinh cung cấp các cơ và cảm giác cho chân cũng như kiểm soát bàng quang và trực tràng. Vì có hình dạng như đuôi ngựa nên được gọi với tên “chùm đuôi ngựa”.

Minh họa hội chứng chùm đuôi ngựa (nguồn: wnyurology.com)

Nguyên nhân gây ra hội chứng chùm đuôi ngựa

Một số nguyên nhân gây ra hội chứng chùm đuôi ngựa như:

  • Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng: đây là nguyên nhân thường gặp nhất của CES. Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng chèn ép vào các rễ thần kinh trong chùm đuôi ngựa có thể khởi phát từ từ do thoái hóa hoặc đột ngột tùy nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm.
  • Các khối u hoặc tổn thương cột sống.
  • Nhiễm trùng tại cột sống.
  • Hẹp ống sống bẩm sinh hoặc mắc phải do chấn thương.
  • Chấn thương trực tiếp cột sống thắt lưng (té ngã, tai nạn,..).
  • Bất thường bẩm sinh như dị dạng động tĩnh mạch cột sống.
  • Xuất huyết tủy sống.
  • Các biến chứng sau phẫu thuật cột sống thắt lưng hoặc gây tê tủy sống.

Điều quan trọng là phải xác định nguy cơ CES càng sớm càng tốt vì điều này mang lại cơ hội tốt nhất để giảm thiểu các biến chứng lâu dài, có thể là không thể hồi phục cho người bệnh.

Triệu chứng của hội chứng chùm đuôi ngựa

Tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh triệu chứng của hội chứng chùm đuôi ngựa có thể đột ngột hoặc khởi phát từ từ tăng dần, bao gồm:

  • Đau thắt lưng dữ dội, kém đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường.
  • Yếu liệt cơ, rối loạn hay mất cảm giác kèm theo cảm giác đau một hay cả hai chân.
  • Có khả năng mất cảm giác vùng chậu.
  • Rối loạn chức năng bàng quang như bí tiểu, tiểu khó…
  • Đại tiểu tiện mất tự chủ.
  • Rối loạn cảm giác của bàng quang hay trực tràng.
  • Rối loạn chức năng sinh dục.
  • Mất phản xạ tại chân.

Đơn vị Ngoại thần kinh BUH phẫu thuật thành công cho bệnh nhân mắc hội chứng chùm đuôi ngựa

Vừa qua, bệnh nhân nữ V.T.T (34 tuổi) đến cấp cứu tại BUH với tình trạng liệt hai chi dưới không đi lại được, bí tiểu cấp ở ngày thứ 5. 

Nghi ngờ bệnh nhân có các dấu hiệu bệnh lý liên quan tới cột sống, sau khi xem xét các kết quả chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng chùm đuôi ngựa do thoát vị đĩa đệm gây chèn ép tủy ngang đoạn L4-5. Các bác sĩ Ngoại thần kinh BUH quyết định tiến hành phẫu thuật giải ép tủy, thay nhân đệm, bắt vít chân cung cố định cho bệnh nhân.

Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, hậu phẫu không có biến chứng gì xảy ra. Sau đó, bệnh nhân được điều trị và châm cứu bằng phương pháp y học cổ truyền, xuất viện sau 14 ngày. Tình trạng xuất viện với cơ lực 2 chân được phục hồi 5/5, tổn thương thần kinh cơ vòng hậu môn đã phục hồi, còn cơ vòng đường tiểu chưa phục hồi ngay, cần điều trị y học cổ truyền để hồi phục hoàn toàn các triệu chứng tổn thương thần kinh thứ phát.

Tuy nhiên, sau 7 ngày tiếp tục châm cứu và phối hợp cùng các phương pháp y học cổ truyền nhưng kết quả vẫn không cải thiện, BN vẫn bí tiểu và tiểu qua ống thông. Ngay sau đó,  BN được tư vấn nhập viện trở lại để xử trí, các Bác sĩ đã hội chẩn với chuyên khoa Ngoại – Niệu và thống nhất phẫu thuật mở bàng quang ra da (nghĩa là đặt ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài, giải phóng đường tiểu dưới). Sau 22 ngày, bệnh nhân đã phục hồi đường tiểu dưới và nhập viện rút ống thông trên bàng quang. Hiện tại, bệnh nhân đã tự chủ vấn đề tiểu tiện hoàn toàn toàn.

Bệnh nhân xúc động chia sẻ:“Chỉ 3 ngày sau phẫu thuật tôi đã tập đi lại dần được, sức khỏe hiện nay cũng đã ổn định, đi tiểu đã bình thường. Tôi rất cảm ơn đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng đã điều trị và chăm sóc tận tình trong suốt quá trình nằm viện”

BSCKI. Nguyễn Văn Tấn – Phó Trưởng Khoa Ngoại tổng hợp BUH chia sẻ về hội chứng chùm đuôi ngựa và khuyến nghị như sau: “Hội chứng chùm đuôi ngựa kéo dài có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đời sống cá nhân, gánh nặng kinh tế. Phẫu thuật trong vòng 48 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng của hội chứng chùm đuôi ngựa sẽ  giúp cải thiện đáng kể các khiếm khuyết cảm giác, vận động hai chi dưới và chức năng bàng quang, trực tràng. Bệnh nhân khi có các triệu chứng và dấu hiệu như đau thắt lưng, rối loạn chức năng đại tiểu tiện nên đến cơ sở y tế có chuyên khoa ngoại thần kinh càng nhanh càng tốt được thăm khám, xác định nguyên nhân giúp giảm nguy cơ rối loạn chức năng thần kinh lâu dài và cải thiện cơ hội phục hồi cho bệnh nhân.”

Đơn vị Ngoại Thần Kinh – Khoa Ngoại tổng hợp BUH là chuyên khoa về điều trị, thăm khám bằng phương pháp phẫu thuật liên quan đến hệ thần kinh thông qua sử dụng thiết bị phẫu thuật Y khoa hiện đại như: máy khoan cắt tốc độ cao, kính vi phẫu thuật dùng trong sọ não và cột sống, giúp phẫu thuật nhanh và an toàn, mang lại sức khỏe và sự yên tâm cho bệnh nhân. Bệnh viện được đầu tư và trang bị đồng bộ các máy móc, trang thiết bị tiên tiến, hiện đại như: máy chụp cộng hưởng từ MRI 1.5 Tesla; máy chụp cắt lớp vi tính CT 128 lát cắt;… để có thể phát hiện sớm các tổn thương và điều trị hiệu quả các bệnh lý về sọ não và cột sống.

Lưu ý: Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

PHẪU THUẬT GHÉP KHUYẾT SỌ TRONG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

PHẪU THUẬT GHÉP KHUYẾT SỌ TRONG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Phẫu thuật ghép khuyết sọ trong chấn thương sọ não nhằm mục đích sửa chữa một khuyết hổng xương sọ sau chấn thương sọ não hoặc phẫu thuật mở sọ giải áp. Hiện nay có hai phương pháp chính để tạo hình khuyết hổng xương sọ là ghép sọ tự thân hoặc ghép sọ bằng các vật liệu nhân tạo như xi măng sinh học, vật liệu carbon hoặc lưới Titanium,… Tại Đơn vị Ngoại thần kinh – Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Buôn Ma Thuột đã và đang triển khai phẫu thuật ghép khuyết sọ với đội ngũ Bác sĩ chuyên môn cao và đầy đủ trang thiết bị hiện đại hỗ trợ.

1. Phẫu thuật ghép khuyết sọ trong chấn thương sọ não

Phẫu thuật ghép khuyết sọ trong chấn thương sọ não nhằm mục đích sửa chữa một khuyết hổng xương sọ sau chấn thương sọ não hoặc phẫu thuật mở sọ giải áp. Hiện nay có hai phương pháp chính để tạo hình khuyết hổng xương sọ là ghép sọ tự thân hoặc ghép sọ bằng các vật liệu nhân tạo như xi măng sinh học, vật liệu carbon hoặc lưới Titanium …

Bệnh nhân bị khuyết xương sọ có thể gặp tình trạng chóng mặt, đau nhức đầu, có thể dẫn đến liệt, ý thức bị suy giảm, rối loạn cơ vòng. Phần não nằm dưới cùng khuyết xương sọ cũng dễ bị tổn thương. Một số trường hợp xương sọ bị lõm còn gây nên tình trạng thần kinh chậm phát triển và chứng động kinh ở người bệnh.

Ngoài vấn đề về sức khỏe người khuyết sọ còn cảm thấy mất tự tin trong giao tiếp, mặc cảm vì hình dáng bên ngoài do việc khiếm khuyết hộp sọ gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

Hình ảnh bệnh nhân khuyết sọ trước & sau khi ghép khuyết sọ

2. Các phương pháp trong phẫu thuật ghép khuyết sọ

Hiện nay có hai phương pháp chính để tạo hình khuyết hổng xương sọ là ghép sọ tự thân hoặc ghép sọ bằng các vật liệu nhân tạo:

  • Phương pháp ghép sọ tự thân

Phẫu thuật ghép khuyết sọ tự thân là phương pháp thường được sử dụng sau các phẫu thuật giải áp điều trị phù não do chấn thương, sau phẫu thuật u não. Phương pháp này mang lại hiệu quả lâu dài cho người bệnh, chống chỉ định với là những bệnh nhân đang mắc nhiều bệnh nền, bệnh nhân có vấn đề về tâm thần cũng như vùng khuyết xương sọ bị viêm nhiễm nặng.

Xương tự thân dùng để ghép có thể là xương mào chậu, bản ngoài xương sọ hoặc xương sườn, được lấy để ghép vào vùng khuyết xương sọ, sau đó đặt dẫn lưu trong các trường hợp cần thiết. Hoặc cũng có thể tạo hình xương sọ bằng chính mảnh sọ cắt ra lúc phẫu thuật giải áp. Mảnh sọ được cắt ra và chuyển đến các ngân hàng mô, bảo quản và tiệt trùng với tia gamma, giữ ở nhiệt độ -85°C. Theo khuyến cáo phẫu thuật nên được ghép lại từ 3-9 tháng sau phẫu thuật mở sọ đầu để tránh nguy cơ viêm rò, tiêu sập xương sọ do phản ứng đào thải của cơ thể.

Một số biến chứng có thể gặp phải sau khi tạo hình xương sọ bằng xương tự thân đó là chảy máu vết thương, tụ máu dưới da, nhiễm trùng vết mổ, viêm não, viêm màng não, hoại tử vùng da đầu, hoại tử mảnh ghép…Những biến chứng này được xử trí bằng cách bù tuần hoàn, cầm máu, băng ép, cấy dịch vết thương để làm kháng sinh đồ, điều trị nhiễm trùng và viêm não màng não theo kháng sinh đồ. Ngoài ra có thể phẫu thuật lấy mảnh ghép ra lại và tiến hành tạo hình bảo vệ màng cứng bằng cách ghép sọ bằng chất liệu nhân tạo. 

  • Phương pháp ghép sọ bằng chất liệu nhân tạo

Ghép sọ nhân tạo được chỉ định trong trường hợp: Chấn thương sọ não kín gây lún sọ; Vết thương sọ não hở gây vỡ vụn, vỡ nát xương sọ; Viêm rò mảnh sọ tự thân sau phẫu thuật ghép sọ thì đầu; Viêm tiêu mảnh ghép xương sọ.

Hiện nay vật liệu nhân tạo thường được sử dụng để tạo hình xương sọ như lưới titan vá sọ, xi măng nhân tạo, carbon… 

  • Vá sọ bằng vật liệu xi măng (là loại xi măng sinh học trong y khoa), sau khi trộn lên và tạo hình thì trong vòng 7 phút sẽ đông cứng khối xi măng đó. Như vậy sẽ cho hình ảnh của 1 khối chắc chắn, bảo quản được tổ chức mô bên dưới. Nếu tạo hình không khéo thì hộp sọ sẽ không được tròn trịa, cong vênh và khi đặt vào vị trí khuyết sẽ không hợp. Đứng về góc độ thẩm mỹ sẽ không được như ý, đây là lý do tạo hình ghép khuyết sọ 3D đã ra đời và hỗ trợ phương diện thẩm mỹ khi thực hiện tạo hình. 
  • Sử dụng miếng ghép nhân tạo bằng titan để ghép khuyết sọ, thời gian tạo hình không bị giới hạn, có thể sử dụng miếng sọ đó uốn nắn sao cho như ý và cố định vào hộp sọ của người bệnh. Phương pháp này đảm bảo được tính thẩm mỹ cao cho người bệnh.

Để có được miếng ghép xương sọ nhân tạo có kích thước và hình dáng phù hợp với phần khuyết của bệnh nhân, các bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp ghép sọ 3D. Bước đầu, bệnh nhân sẽ được chụp cắt lớp vi tính sọ não để có được hình ảnh 3D của vùng khuyết xương sọ, sau đó các thông tin này sẽ được sử dụng trong giai đoạn dựng hình 3D để cho ra được ổ khuyết sọ. Tùy theo hình dáng của sọ, người ta sẽ đúc 1 phần nắp sọ bằng xi măng hoặc bằng titan vừa khít với diện khuyết của bệnh nhân. Lúc đó bác sĩ sẽ mở phần dưới da và đặt nắp sọ vào và đảm bảo được tính thẩm mỹ.

3. Phẫu thuật ghép khuyết sọ tại Đơn vị Ngoại thần kinh BUH

Lưới titanium 3D uốn sẵn sử dụng trong ghép khuyết sọ

Ghép sọ bằng vật liệu nhân tạo là một trong những bước tiến hiện đại trong phẫu thuật ghép khuyết sọ, sự ra đời của các mảnh ghép xương sọ nhân tạo góp phần to lớn đến khả năng thành công của phẫu thuật tạo hình xương sọ, giúp được nhiều bệnh nhân khuyết xương sọ trong việc giải quyết các vấn đề về sức khỏe và mang lại giá trị thẩm mỹ cao cho bệnh nhân. Tuy nhiên để lựa chọn phương pháp hiệu quả và phù hợp nhất trong các trường hợp cần ghép khuyết sọ, các Bác sĩ ngoại thần kinh sẽ cân nhắc theo từng tình trạng bệnh lý của người bệnh.

Phẫu thuật ghép khuyết sọ là một kỹ thuật phức tạp, người bệnh cần lựa chọn cơ sở y tế có đủ điều kiện để thực hiện, đặc biệt cần được thực hiện bởi các bác sĩ có trình độ cao, cơ sở vật chất hiện đại đảm bảo hiệu quả lâu dài cho người bệnh.

Các Bác sĩ BUH đang tiến hành phẫu thuật ghép khuyết sọ

Ghép sọ tự thân và ghép sọ nhân tạo là hai phương pháp đang được áp dụng thường quy tại Đơn vị Ngoại thần kinh – Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột nhằm khôi phục phần xương sọ bị khuyết cho người bệnh. Với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên viên, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm tay nghề trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị tại Bệnh viện.

DẤU HIỆU CẢNH BÁO BỆNH U MÀNG NÃO VÀ LỜI KHUYÊN CỦA BÁC SĨ CHUYÊN KHOA NGOẠI THẦN KINH BUH

U màng não, thường là một khối u phát triển chậm hình thành từ màng não, các lớp màng bao quanh não và tủy sống. Các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí và xảy ra do khối u xâm lấn vào mô gần đó. Nhiều trường hợp không bao giờ tạo ra các triệu chứng. Thỉnh thoảng bị co giật, mất trí nhớ, nói khó, vấn đề về thị lực, yếu một phía hoặc mất kiểm soát bàng quang có thể xảy ra. Chúng được hình thành từ một số loại tế bào khác nhau bao gồm các tế bào của màng nhện. Chẩn đoán thường là bằng hình ảnh học như CT Scan hoặc MRI não. Hầu hết các trường hợp dẫn đến các triệu chứng có thể được chữa khỏi bằng phẫu thuật. 

Có khoảng 80% bệnh nhân cắt bỏ khối u hoàn toàn sẽ có cơ hội khỏi bệnh. Để phát hiện sớm và điều trị kịp thời tránh biến chứng về sau các Bác sĩ Khoa ngoại thần kinh BUH đã chỉ ra những dấu hiệu nhận biết sớm và phương pháp điều trị hiệu quả u màng não. 

U màng não có nguy hiểm không

Phần lớn u màng não là lành tính và hầu như không có triệu chứng ở giai đoạn sớm. Sau nhiều năm diễn biến lâm sàng u phát triển với kích thước lớn và kèm theo các triệu chứng như: đau đầu kéo dài, buồn nôn, tính cách thay đổi, suy giảm trí nhớ, khó ngủ, động kinh co giật…Tuy nhiên các triệu chứng này còn phụ thuộc vào vị trí và kích thước của khối u. 

Đối với u màng não có kích thước lớn ở vị trí đặc biệt sẽ gây ra thiếu sót chức năng cho dây thần kinh nặng và đe dọa đến tính mạng. 

Theo một số tài liệu nghiên cứu cho thấy, u màng não chiếm khoảng 34% là u não nguyên phát và 2-3% là u màng não ác tính di căn và có tỉ lệ tái phát tại chỗ, u màng não có thể dẫn đến di căn chiếm khoảng 10 – 20%, vì vậy sau khi điều trị u màng não người bệnh cần phải thăm khám thường xuyên để được các bác sĩ theo dõi điều trị kịp thời.

Các dấu hiệu nghi ngờ bệnh u màng não

Các bác sĩ Chuyên Khoa ngoại thần kinh BUH cho biết: Phần lớn người bị u màng não không có triệu chứng cho đến khi u đã phát triển đến kích thước lớn, tuy nhiên có một số biểu hiện nghi ngờ bệnh u màng não như sau:

  • Đau đầu.
  • Gặp vấn đề về thị giác và thính giác: mờ mắt, ù tai…
  • Buồn nôn hoặc nôn.
  • Động kinh.
  • Tính cách và hành vi thay đổi.
  • Yếu cơ.
  • Suy giảm trí nhớ.
  • Mất ngủ

Để phát hiện sớm và điều trị kịp thời cần phải thăm khám sức khỏe định kỳ, tầm soát u màng não thông qua chụp CT và MRI tránh biến chứng do u màng não để lại về sau. 

Cách tầm soát bệnh sớm và phương pháp điều trị

Theo các bác sĩ Chuyên Khoa ngoại thần kinh BUH, hiện tại chưa có biện pháp phòng ngừa u màng não đặc hiệu mà chỉ có thể khoanh vùng đối tượng giúp mọi người có thể chủ động hơn trong việc khám sức khỏe định kỳ. Các đối tượng cần chú ý như: nữ giới, người có tiền sử bị ung thư vú, rối loạn kinh nguyệt,  người từ độ tuổi  40 – 60 tuổi…Ngoài ra cần có chế độ sinh hoạt lành mạnh, tập luyện thể dục hàng ngày, khi có biểu hiện u màng não cần đến ngay cơ sở y tế có điều kiện để được điều trị sớm nhất có thể.

Các bác sĩ Khoa Ngoại BUH Phẫu thuật loại bỏ u màng não cho bệnh nhân

Phương pháp điều trị u màng não hiện nay được Chuyên Khoa ngoại thần kinh BUH áp dụng là phẫu thuật đối với khối u lớn. Phẫu thuật là phương pháp chính để loại bỏ khối u và bảo tồn mô khỏe mạnh xung quanh, phương pháp này mang lại hiệu quả tốt đối với u lành tính, giúp loại bỏ hoàn toàn khối u. Tuy nhiên đối với u màng não ác tính cần thực hiện biện pháp xạ trị sau phẫu thuật để điều trị, đây là phương pháp dùng tia X chất lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư và các tế bào não bất thường. 

BUH phẫu thuật  điều trị thành công  ca bệnh u màng não

Bệnh nhân Đ.T T.H, 25 tuổi nhập viện ngày 09/04 tại BUH trong tình trạng đau đầu thời gian dài kèm theo ù tai và mờ mắt. Các bác sĩ tiến hành thăm khám, chỉ định chụp CT thì phát hiện khối u não, để xác định rõ hơn tình trạng, bệnh nhân tiếp tục được chỉ định chụp MRI. Sau khi xem xét các kết quả hình ảnh, bệnh nhân được chẩn đoán bị u màng não. 

Hình ảnh chụp U màng não của bệnh nhân Đ.T T.H trước và sau mổ bằng thiết bị chụp CT scan và MRI 

Các bác sĩ đã nhanh chóng tiến hành phẫu thuật lấy u cho bệnh nhân, do u xâm lấn từ lâu với kích thước lớn nên sau khi phẫu thuật bệnh nhân sẽ mất 3 – 6 tháng để hồi phục hoàn thiện các chức năng. Hiện tại tình trạng bệnh nhân ổn định, hết ù tai, chức năng thị giác cải thiện tốt. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân được làm giải phẫu bệnh để xác định u lành tính hay ác tính. Trong trường hợp u ác bệnh sẽ tái phát bệnh nhân sẽ được bác sĩ hướng tới điều trị xạ trị. Nếu u lành tính bệnh nhân sẽ được xuất viện sớm và theo dõi kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm để đảm bảo tình trạng sức khỏe.

Bác sĩ kiểm tra sức khỏe cho bệnh nhân sau mổ u màng não

Với trang thiết bị hiện đại, các bác sĩ có trình độ chuyên môn cao luôn hỗ trợ thăm khám tận tình cho người bệnh, đặc biệt sự phối hợp giữa các khoa chức năng đã mang lại hiệu quả chẩn đoán chính xác giúp bác sĩ có phương án điều trị tốt nhất cho người bệnh giúp người bệnh tiết kiệm thời gian và chi phí điều trị. 

Tình trạng bệnh nhân ổn định, hết ù tai, chức năng thị giác cải thiện tốt

Khoa Ngoại Thần Kinh Bệnh Viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột là chuyên khoa về điều trị, thăm khám bằng phương pháp phẫu thuật liên quan đến hệ thần kinh thông qua sử dụng thiết bị phẫu thuật Y khoa hiện đại dùng trong sọ não và cột sống, giúp phẫu thuật nhanh và an toàn, mang lại sức khỏe và sự yên tâm cho bệnh nhân.