Tuyển dụng Điều dưỡng Da liễu

Tuyển dụng Điều dưỡng Da liễu

Vị trí tuyển dụng: Điều dưỡng Da liễu
Số lượng: 03
Đơn vị: Đơn vị da liễu & thẩm mỹ
MÔ TẢ CÔNG VIỆC: 

– Phụ trách công tác chính: phụ bác sĩ thăm khám, hướng dẫn bệnh nhân …
– Học việc về chăm sóc da, phụ bác sĩ điều trị.
– Có thể linh động xoay vòng ca làm việc khi Đơn vị có lượng khách/bệnh nhân đông theo sự phân công của Điều dưỡng trưởng và Bác sĩ trưởng đơn vị.
– Thực hiện một số công tác khác như tham gia phát tờ rơi của đơn vị, tham gia các buổi hội thảo…

YÊU CẦU
Trình độ chuyên môn:
– Tốt nghiệp cao đẳng Điều Dưỡng Đa Khoa
Yêu cầu khác:
Ưu tiên:
– Có chứng chỉ hành nghề
– Ngoại hình ưa nhìn
– Ưu tiên ứng viên có da đẹp
– Thành thạo tin học văn phòng
ĐIỀU KIỆN ĐĂNG KÍ DỰ TUYỂN
– Người có đủ điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển
1. Có lý lịch rõ ràng;
2. Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp ;
3. Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
4. Đủ sức khoẻ, năng lực hành vi dân sự để thực hiện nhiệm vụ công việc;
5. Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển;
6. Không trong thời gian: bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.HỒ SƠ ỨNG TUYỂN– Bản tự khai download mẫu đính kèm: BẢN TỰ KHAI
– Sơ yếu lý lịch tự thuật và chứng minh nhân dân/ căn cước công dân (bản sao được chấp nhận- khuyến khích nộp bản sao y công chứng)
– Các văn bằng, bảng điểm kết quả học tập, các chứng chỉ, chứng nhận chuyên ngành liên quan theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, thành tích đạt được trong quá trình công tác và học tập (bản photo đối với trực tiếp hoặc qua đường bưu điện/ bản scan hoặc chụp đối với hồ sơ nộp trực tuyến)THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM TUYỂN DỤNG– Thời gian nhận hồ sơ: Nhận hồ sơ liên tục từ 08h00 – 17h00, từ thứ 2 đến thứ T7 hàng tuần, đến hết ngày 31/12/2025 (Hồ sơ nộp trước sẽ được xét tuyển trước).– Phương thức nộp hồ sơ:
1,  Nộp trực tiếp hoặc thông qua đường bưu điện: Phòng Tổ chức Hành chính Quản trị – Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, số 298 Hà Huy Tập, phường Tân An, TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk.

2, Nộp trực tuyến : hr@benhvienbmt.com.

– Thông tin liên hệ trong giờ hành chính:
Ms. Trang – Nhân viên Nhân sự. Điện thoại: 0262 3765 999 – Nhánh 1

– Lưu ý khác:

+ Hồ sơ nộp dự tuyển không hoàn trả lại.

+ Trường hợp phát hiện hành vi gian lận trong kê khai Bản tự khai hoặc ứng viên sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không đúng quy định, hoặc bất kỳ gian lận nào liên quan trong quá trình tuyển dụng, Hội đồng tuyển dụng sẽ loại hồ sơ tại bất kỳ vòng tuyển dụng đang xét, bao gồm hủy kết quả trúng tuyển đồng thời lưu giữ thông tin hồ sơ không hợp lệ trên hệ thống tuyển dụng của bệnh viện.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH LẬU

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH LẬU

Bệnh lậu là gì? Rủi ro khi mắc lậu ở nam và nữ là gì? Trong bài viết dưới đây của ThS.BS Phạm Thành Trung – bác sĩ Đơn vị Da liễu & Thẩm mỹ da BUH sẽ cung cấp cho người đọc thông tin cơ bản và khái quát nhất về loại bệnh dễ gặp phải nhất trong nhóm bệnh lý lây qua đường tình dục chỉ sau sùi mào gà.

 

Ths. Bs Phạm Thành Trung (1) 

(1) Đơn Vị Da Liễu Và Thẩm Mỹ Da – Bệnh Viện Đại Học Y Dược Buôn Ma Thuột 

 

Bệnh lậu là căn bệnh khá phổ biến trong nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục cho cả nam và nữ. Với tính chất lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục, bệnh có thể biểu hiện ở vùng sinh dục, hầu họng,..bệnh không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất mà còn gây ảnh hưởng tới trạng thái tinh thần đồng thời có thể có những biến chứng lâu dài lên sức khỏe người mắc. 

 

Bệnh lậu là gì?

Lậu là bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục, gây ra bởi vi khuẩn Neisseria Gonorrhoeae. N.gonorrhoeae được tìm thấy vào năm 1879, là vi khuẩn gram âm có dạng song cầu hình hạt cà phê. Bệnh lậu chủ yếu lây truyền qua đường quan hệ tình dục do vậy thường gây triệu chứng ở niệu đạo, cổ tử cung. Tuy nhiên, triệu chứng cũng có thể phát triển ở niêm mạc hầu họng, hậu môn thậm chí là ở kết mạc. 

Tỷ lệ lây truyền từ nữ sang nam khoảng 20 tới 30%, nhưng ở chiều ngược lại thì có vẻ cao hơn có thể lên tới 80%. 

(European report warns XDR gonorrhea threatens future treatment | CIDRAP (umn.edu))

Đường lây truyền bệnh lậu

  • Đường lây truyền chủ yếu là hoạt động tình dục không an toàn, bao gồm cả việc quan hệ bằng đường miệng hoặc hậu môn. Ngoài ra, còn một số con đường lây truyền vi khuẩn lậu:
  • Dùng chung đồ cá nhân: Mặc dù vi khuẩn khó tồn tại ở môi trường ngoài cơ thể, nhưng vẫn có nguy cơ lây truyền gián tiếp qua việc sử dụng chung đồ lót, khăn tắm…
  • Từ mẹ sang con: Đây là nguyên nhân chủ yếu của bệnh lậu sơ sinh. 
  • Tiếp xúc qua vết thương hở, đường truyền máu..

Yếu tố nguy cơ bệnh lậu:

  • Có nhiều bạn tình hoặc bạn tình có QHTD không an toàn. 
  • QHTD không an toàn 
  • QHTD trong trạng thái không tỉnh táo
  • Người mắc bệnh lây qua đường tình dục khác

Bệnh lậu có thời gian ủ bệnh bao lâu? 

Thời gian ủ bệnh được tính từ lúc phơi nhiễm tác nhân cho tới lúc biểu hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh, thông thường, với bệnh lậu thời gian ủ bệnh là từ 1 cho tới 14 ngày sau hành vi nguy cơ. Tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, đáp ứng miễn dịch mà mỗi người có thể có thời gian ủ bệnh khác nhau, một số trường hợp nhiễm lậu cầu không triệu chứng. 

Bệnh lậu nguy hiểm như thế nào? Những rủi ro khi mắc lậu:

Nhiễm lậu lan tỏa (DGI): là một thể hiếm gặp của bệnh lậu, nhưng là một tình trạng nguy hiểm khi vi khuẩn lậu xâm nhập vào máu và lan rộng ở các cơ quan: gây viêm màng tim, viêm  nội tâm mạc, viêm màng não…

Các bệnh lý ngoài vùng sinh dục: viêm họng do lậu, viêm kết mạc mắt do lậu, viêm khớp do lậu…

Ở phụ nữ: 

  • Viêm cổ tử cung: có thể xuất hiện đồng thời với viêm niệu đạo, với các triệu chứng từ nhẹ tới nặng như tiểu khó, ra dịch âm đạo..
  • Viêm tiểu khung: có thể bao gồm viêm vòi trứng, viêm phúc mạc vùng chậu, áp xe khung chậu.. Hậu quả có thể gây ra hiếm muộn hoặc tăng nguy cơ thai ngoài tử cung. 
  • Lây truyền cho con: Bệnh lậu có thể lây cho trẻ trong quá trình sinh nở, gây ra các triệu chứng ở mắt, khớp thậm chí là toàn thân. 

Nam giới:

  • Viêm niệu đạo cấp: đau nhức, tiết dịch, tiểu mủ là những biểu hiện đặc trưng. 
  • Viêm mào tinh: đau bìu, sưng tấy…có thể gây áp xe, điều trị không thích hợp có thể gây ra hiếm muộn. 
Kết luận:

Bệnh lậu là bệnh lây qua đường tình dục thường gặp ở đối tượng bệnh nhân quan hệ tình dục không an toàn. Nếu không điều trị phù hợp có thể để lại nhiều hậu quả, biến chứng khó lường lên sức khỏe thể chất, tinh thần thậm chí là gây ra hiếm muộn. 

Tài liệu tham khảo
  1. Sheldon R. Morris , MD, MPH, University of California San Diego
  2. US Preventive Services Task Force: Chlamydia and Gonorrhea: Screening: A review of evidence that screening tests can accurately detect chlamydia and gonorrhea

Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc hoặc cần được tư vấn nhanh về vấn đề bệnh lậu, hãy liên hệ với chúng tôi ngay tại đây: m.me/dalieuthammydabuh

VIÊM DA TIẾP XÚC ÁNH SÁNG

VIÊM DA TIẾP XÚC ÁNH SÁNG

BS.Nguyễn Thị Thu Sang

Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột

 

Viêm da tiếp xúc ánh sáng là gì?

Bệnh da do ánh sáng (viêm da tiếp xúc ánh sáng) là một bệnh da hay gặp, tổn thương lâm sàng đa dạng. Bệnh thường xuất hiện ở những người thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Bệnh thường nặng vào mùa xuân hè, thuyên giảm về mùa thu đông.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:

Ánh sáng có bước sóng ngắn dưới 400nm, gọi là tia tử ngoại, được chia làm 3 vùng:

  • Bước sóng dưới 290nm gọi là UVC, gần như 100% bị hấp thụ boiwt tầng khí quyển, nhưng nếu tầng khí quyển thủng nó sẽ tác động trực tiếp đến da gây ra những bệnh da do ánh sáng , đặc biệt là ung thư da.
  • Bước sóng từ 290-320nm: UVB, cũng bị hấp thụ 1 phần bởi tầng khí quyển. chỉ 1 lượng rất nhỏ lọt qua tác động lên da của chúng ta gây ra một số bệnh da do ánh sáng.
  • Bước sóng 320-400 nm : tia tử ngoại ( UVA), bị hấp thụ phần lớn bởi khí quyển, phần lọt qua gây bệnh da do ánh sáng. Bước sóng trên 700nm ít gây nên các bệnh da.

Phân loại độ nhạy cảm với ánh sáng:

Bệnh nhạy cảm ánh sáng nguyên phát:

  • Bệnh nguyên phát hay tự phát, thường không rõ nguyên nhân.
  • Một số biểu hiện khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
  • Phát ban đa dạng do ánh sáng
  • Phát ban da dạng vào mùa xuân
  • Viêm nang lông
  • Mề đay ánh sáng
  • Viêm da/ nhạy cảm ánh sáng mạn tính.
  • Ngứa

Viêm da ánh sáng ngoại sinh:

Bệnh liên quan đến chất cảm quang có nguồn gốc từ bên ngoài như một số thuốc và hóa chất:

  • Nhạy cảm với ánh sáng do thuốc: các loại thuốc gây nhạy cảm với ánh sáng phổ biến là thiazide, tetracycline, thuốc chống viêm không steroid ( NSAID ), phenothiazin, voriconazole, quinine, vemurafenib
  • Viêm da tiếp xúc với ánh sáng: do hóa chất quang độc như psoralens trong thực vật, rau, trái cây, nước hoa trong mỹ phẩm, hóa chất chống nắng, thuốc nhuộm và chất khử trùng
  • Pseudoporphyria: gây ra bởi thuốc và/hoặc suy thận.

Các bệnh da tiếp xúc với ánh sáng sẽ trở nên trầm trọng hơn như:

  •  Lupus ban đỏ.
  • Viêm da cơ địa
  • Bệnh darier
  • Trứng cá đỏ
  • Pemphigus thông thường
  • Pemphigus lá
  • Vảy nến
  • Viêm da dị ứng

Chẩn đoán:

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp: 

  • Vị trí: Vùng da hở, tiếp xúc với ánh sáng hoặc chất cảm quang ( cổ, mặt, chi trên, vai,…)
  • Lâm sàng: Hồng ban phù nề, ngứa, xuất hiện mụn nước, bóng nước tại chỗ.
  • Thường xuất hiện sau khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, sử dụng thuốc hay hóa chất ( nước hoa).

Điều trị : 

Tránh tiếp xúc với yếu tố như ánh sáng mặt trời, thuốc, hóa chất.

  • Mặc quần áo, mũ rộng vành, đeo găng tay khi ra nắng.
  • Bôi kem chống nắng trước khi ra ngoài trời 30 phút.
  • Thuốc đường toàn thân:
  • Chloroquine 250mg x 2 viên/ ngày.
  • Hydroxychloroquine 200mg x 2 viên/ ngày.

Chú ý: không thuốc cho phụ nữ có thai, cho con bú. Kiểm tra mặt trước khi sử dụng , cứ 4 tháng, kiểm tra mắt 1 lần.

  • Thuốc uống có caroten: phenoro liều lượng 1 viên nang/ 10kg cân nặng/ ngày x 3 tuần. Uống trong khi ăn. Sau 3 tuần dùng nửa liều điều trị ban đầu.
  • Ngoài ra còn uống vitamin PP, B, L-cystine.
  • Giảm mẫn cảm với ánh sáng.

Tài liệu tham khảo:

  • Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Các bệnh da liễu ( bộ Y tế) 2015
  • Drug-Induced Photosensitivity
  • A/Prof Amanda Oakley, Dermatologist, Hamilton, New Zealand, 1997. Updated by Prof Oakley, January 2016.
  • Vanessa Ngan, Staff Writer, 2006.

 

TÌM HIỂU VỀ BỆNH HERPES VÀ CÁCH CHỮA TRỊ HERPES SIMPLEX VIRUS (HSV)

TÌM HIỂU VỀ BỆNH HERPES VÀ CÁCH CHỮA TRỊ HERPES SIMPLEX VIRUS (HSV)

 

Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột

Nguyễn Thị Thu Sang

Bệnh Berpes (HSV) là gì?

Là một bệnh do virus phổ biến với biểu hiện phồng rộp tại chỗ. Thường gây tổn thương ở da, niêm mạc và rất hay tái phát.


Phân loại bệnh Herpes (HSV)

HSV có 2 loại đó là: HSV1 và HSV2

Sinh lý bệnh:

  • Sự lây truyền của HSV có thể xảy ra trong giai đoạn không triệu chứng. HSV-1 lây lan chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt hoặc các chất tiết khác, trong khi HSV-2 lây lan chủ yếu qua quan hệ tình dục.
  • Virus nhân lên trong tế bào tại vị trí nhiễm và sau đó di chuyển ngược dòng đến hạch thần kinh, nơi nó tiềm ẩn cho đến khi tái hoạt động. 
  • Nhiễm nguyên phát – nhiễm HSV lần đầu, không có kháng thể sẵn có với HSV-1 hoặc HSV-2. 
  • Nhiễm lần đầu – không nguyên phát: nhiễm một loại HSV ở cá thể đã có sẵn kháng thể đối với loại HSV khác. 
  • Tiềm ẩn – virus trong hạch cảm giác. 
  • Tái hoạt – virus tái hoạt động không triệu chứng hoặc có biểu hiện lâm sàng (tái phát). 
  • Sau đợt lây nhiễm ban đầu, HSV ở trạng tháu tiềm ẩn trong các dây thần kinh cung cấp cảm giác cho da. Khi tái phát, vi-rút sẽ theo dây thần kinh ln da hoặc niêm mạc, nhân lên và gây tổn thương trên lâm sàng, sau đó lại quay về trang thái tiềm ẩn, vòng tròn được lặp lại ở những bệnh nhân bị nhiễm HSV.

Sơ đồ sinh lý bệnh của bệnh Herpes

Lâm sàng:

  • Bệnh nhân có cảm giác nóng rát.
  • Xuất hiện mảng hồng ban trên có mụn nước.
  • Các mụn nước trong, nhỏ bằng đầu kim, mọc thành chùm
  • Các vị trí: Da, niêm mạc ( môi, mắt, mũi, bộ phận sinh dục)
  • Triệu chứng kèm theo: sốt, nổi hạch lân cận
  • Thời gian ủ bệnh: 2-12 ngày
  • Lây qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với người mắc bệnh.

Các giai đoạn điển hình:

  • Tiền triệu
  • Hồng ban
  • Mụn nước, loét, đóng mài
  • Khô và bong vảy

Chẩn đoán phân biêt:

  • Chốc bóng nước: mụn nước chùng, bao quanh mài
  • Herpangina: thương tổn ở vùng họng sau ưu thế hơn
  • Áp-tơ miệng: Sang thương đơn độc trên niêm mạc má không có mụn nước đi kèm.
  • Candida miệng: viêm khóe miệng với hồng ban, rãnh nứt và phù góc miệng; hoặc candida giả mạc do nấm cấp hay mạn tính, với bợn trắng trên nền niêm mạc viêm đỏ chảy máu.
  • Tay chân miệng: không đau, sang thương ở tay chân miệng.
  • Săng giang mai: sang thương đơn độc không đau không tái phát.
  • Hạ cam mềm: nhiều vết loét đau có chất tiết màu vàng– xám trên nền mô hạt

Điều trị bệnh Herpes:

Nguyên tắc điều trị: 

  • Điều trị tại chỗ
  • Điều trị nhiễm trùng (nếu có)
  • Đặc hiệu: thuốc kháng virus toàn thân để điều trị giai đoạn bệnh và điều trị phòng ngừa
  • Phòng ngừa – Giáo dục sức khoẻ

Diễn tiến và phòng ngừa:

  • Diễn tiến từ vài ngày đến vài tuần.
  • Bệnh có thể tự lành nhưng rất dễ tái phát.
  • Tránh các yếu tố nguy cơ: sốt, stress, chấn thương, nhiễm trùng, tia cực tím.
  • Giải thích về tiến triển tự nhiên của bệnh, nhấn mạnh khả năng tát phát, lây truyền virus không triệu chứng và lây truyền qua đường tình dục.
  • Tránh hoại động tình dục khi có sang thương hoặc tiền triệu và thông báo cho bạn tình về tiền căn nhiễm của bản thân. Khuyến khích dung BCS khi quan hệ với bạn tình mới hoặc chưa nhiễm
  • Lây truyền HSV có thể xảy ra trong giai đoạn không triệu chứng. Lây truyền virus không triệu chứng thường xảy ra ở HSV-2 hơn HSV-1 và ở BN nhiễm herpes sinh dục <12 tháng.
  • Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nhiễm HSV nên thông báo cho bác sĩ về tiền căn nhiễm HSV khi có thai.
  • Liệu pháp ức chế có thể cải thiện và ngăn ngừa các đợt tái phát và ngăn lây truyền không triệu chứng.

Tài liệu tham khảo:

Bài giảng Bệnh da liễu Trường đại học Y dược – TPHCM.

– Phác đồ điều trị Da liễu của Bộ Y tế 2015.

– Medscape Reference: Herpes simplex

– Medscape: Genital herpes Resource center 

– Prodigy Guidance:

Herpes simplex – oral July 2005

Herpes simplex – genital 30 November 2005

-Merck Manual Professional: Herpes viruses

TÌM HIỂU VỀ BỆNH VIÊM DA LICHEN NITIDUS

TÌM HIỂU VỀ BỆNH VIÊM DA LICHEN NITIDUS

Ths. BS Phạm Thành Trung (1)

(1) Đơn vị Da liễu & Thẩm mỹ da – Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột

Bệnh viêm da lichen nitidus là một bệnh lý lành tính tương đối hiếm gặp đặc trưng bởi những sẩn màu da kích thước 1-2mm ở tay, chân, ngực, lưng. Thường xảy ra ở người trẻ và là một quá trình viêm tự giới hạn. Hầu như không cần điều trị gì cho bệnh này hoặc chỉ điều trị triệu chứng ngứa nếu có. 

Bài viết trình bày các nội dung :

  1. Sinh bệnh học lichen nitidus
  2. Mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh lichen nitidus
  3. Tổng kết điều trị lichen nitidus

 

Mở đầu về bệnh viêm da lichen nitidus

Lichen nitidus lần đầu được mô tả vào năm 1907 bởi tác giả Pinkus, đây là một bệnh viêm mạn tính hiếm gặp ở da với những đặc điểm lâm sàng, bệnh sử rõ ràng nhưng chưa được biết rõ về sinh bệnh học. Căn bệnh này thường xuất hiện ở trẻ em, thanh niên và không có liên quan với giới tính hoặc lứa tuổi. 

Sinh bệnh học 

Lichen nitidus là một bệnh da hiếm gặp với sinh bệnh học chưa rõ. Mặc dù một vài yếu tố di truyền đã được chứng minh có khả năng liên quan tới căn bệnh này vì một vài ca bệnh được báo cáo trong y văn có yếu tố gia đình. Có vẻ có một vài liên hệ giữa lichen phẳng và lichen nitidus do các báo cáo liên quan tới cùng một yếu tố sinh bệnh học. Tuy nhiên, sự khác biệt về mô bệnh học cho thấy rằng lichen nitidus không phải là một biến thể của lichen phẳng. Trong y văn, lichen nitidus có liên quan đồng mắc tới một số bệnh như: bệnh Crohn, Niemann-Pick, và thậm chí là liên quan với người bệnh có xăm mình. 

Đặc trưng mô bệnh học

Đặc điểm mô bệnh học của lichen nitidus rất rõ ràng với các u hạt được bao quanh bởi tế bào lympho, đại thực bào, tế bào khổng lồ Langerhans và các tế bào biểu mô đa nhân trong lớp hạ bì nhú giáp với phần mở rộng của các gờ biểu bì. Sự thâm nhiễm viêm được mô tả rõ ràng này thường kéo dài từ 4 đến 5 nhú bì trong lớp hạ bì. Lớp biểu bì mỏng đi và hình thành sự thoái hóa thủy phân các tế bào sừng cơ bản. Lichen nitidus xuất huyết có đầy đủ đặc trưng mô học của lichen nitidus kèm thêm các xuất huyết dưới biểu bì. 

 

Đặc điểm lâm sàng 

Thông thường, lichen nitidus là các sẩn dẹt ở đỉnh , có màu nâu tới nâu sậm, và thường là không triệu chứng. Đường kính từ 1 tới 2mm. Với những bệnh nhân có da tối màu, thì ngược lại, lichen có thể xuất hiện dưới dạng đốm nhạt màu hơn. Sang thương thường xuất hiện ở cổ, tay chân, ngực, bụng. Các vị trí ở niêm mạc và móng thì hiếm khi xuất hiện nhưng đã có những báo cáo ca liên quan. 

 

Khi lichen nitidus có triệu chứng, thì vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất thường là ngứa, ở mức độ nhẹ. Hiện tượng Koebner đã được báo cáo ở một số trường hợp. 

Một số biến thể đã được báo cáo của bệnh viêm da lichen nitidus bao gồm: 

  •  Hợp lưu
  • Xuất huyết
  • Đường thẳng
  • Đục lỗ
  • Quanh nang lông
  • Mạch máu
  • Toàn thân 
  • Actinic

Lichen nitidus dạng xuất huyết khá hiếm gặp, với đặc trưng là các sẩn màu nâu đỏ do xuất huyết trong tổn thương. 

Chẩn đoán

Chẩn đoán Lichen nitidus chủ yếu dựa vào lâm sàng. Việc thực hiện sinh thiết da khi thực hiện sẽ xác định chẩn đoán với các đặc điểm mô bệnh học riêng biệt như mô tả ở trên. 

Soi da ( dermoscopy) 

Có thể là một công cụ hữu ích khi chẩn đoán lichen nitidus. Khi soi da có thể thấy các vùng tròn 1-2mm nhẵn, trắng, có đường viền rõ được nhìn thấy với một bóng màu nâu phản chiếu.

Điều trị 

Bệnh nhân thường không có triệu chứng và các tổn thương thường khỏi trong vòng vài tháng đến một năm. Điều trị thường dành cho các tổn thương có triệu chứng hoặc gây rối loạn về mặt thẩm mỹ. Điều trị bao gồm:

  • Corticosteroid tại chỗ
  • Corticoid toàn thân
  • Thuốc ức chế calcineurin tại chỗ (tacrolimus)
  • Acitretin
  • Tia UVB thu hẹp
  • Quang hóa trị liệu (PUVA)
  • Thuốc đối kháng thụ thể H1
  • Astemizole
  • Liệu pháp miễn dịch dinitrochlorobenzene
  • Itraconazole
  • Isoniazid
  • Cyclosporine
  • Isotretinoin toàn thân

Trong trường hợp lichen nitidus toàn thân thì việc điều trị sẽ khó khăn hơn, các điều trị như corticosteroid toàn thân, PUVA hoặc các liệu pháp miễn dịch đã được báo cáo có hiệu quả. Ngoài ra, acitretin cũng được sử dụng điều trị trong trường hợp lichen nitidus ở lòng bàn tay, bàn chân. 

Di chứng tăng sắc tố sau viêm bởi lichen nitidus có thể tự phục hồi sau vài tháng.

TĂNG SẮC TỐ SINH LÝ Ở PHỤ NỮ MANG THAI 3 THÁNG ĐẦU

TĂNG SẮC TỐ SINH LÝ Ở PHỤ NỮ MANG THAI 3 THÁNG ĐẦU

 

BS. Nguyễn Thị Thu Sang

Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột

Đại cương về tăng sắc tố:

  • Tăng sắc tố sinh lý xảy ra ở hơn 90% phụ nữ mang thai, và thường liên quan đến tăng sắc tố ở núm vú, quầng vú và vùng sinh dục.
  • Nổi bật và phổ biến hơn ở phụ nữ có da sẫm màu (da Fitzpatrick loại 4-6) so với phụ nữ da trắng (da Fitzpatrick loại 1-2).

Cơ chế:

Tăng sắc tố sinh lý ở phụ nữ mang thai 3 tháng đầu liên quan đến hormone nhau thai, yếu tố chuyển hóa và miễn dịch.

  • Tăng sản xuất melanin là do tác động của estrogen, được tăng cường bởi progesterone.
  • Estrogen kích hoạt các thụ thể α- và β- estrogen nội bào nằm trong da, kích thích các tế bào hắc tố tăng sản xuất melanin.
  • Melanin được lắng đọng trong lớp biểu bì và được các đại thực bào ở lớp bì tiếp nhận.
  • Nhau thai cũng tạo ra các sphingolipid có hoạt tính sinh học, giúp điều chỉnh các enzyme tạo hắc tố như tyrosinase và các protein liên quan đến tyrosinase 1 và 2.

Đặc điểm lâm sàng:

  • Một dải tăng sắc tố chạy thẳng dọc xuống đường giữa bụng.
  • Tăng sắc tố sinh lý ở phụ nữ mang thai thường kéo dài từ xương mu đến rốn, nhưng có thể kéo dài hơn đến điểm thấp nhất của xương ức.
  • Màu sắc thường có màu nâu, đen xám, và sẽ tối màu hơn khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
  • Kích thước rộng khoảng 1-2 cm, và thường chạy dọc theo toàn bộ chiều dài.
  • Trong suốt thai kỳ, tình trạng tăng sắc tố có thể bị nặng hơn, to hơn.

Tăng sắc tố sinh lý trong thai kì

Chẩn đoán phân biệt:

  • Bớt cà phê sữa.
  • Tăng sắc tố sau viêm ở vùng bụng (sau chấn thương, sau viêm da cơ địa vùng bụng, sau viêm da tiếp xúc vùng bụng,…)
  • Viêm da tiết bã.

Điều trị:

  • Việc tăng sắc tố sinh lý không gây ảnh hưởng xấu đến kết quả mang thai và không cần điều trị y tế.
  • Nhưng nên phòng ngừa bằng cách hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời ở vùng bụng, vì điều này có thể làm đường trở nên đậm màu hơn.
  • Vết thâm thường sẽ mờ dần theo thời gian sau khi sinh con. Tuy nhiên vẫn có 1 số trường hợp vết thâm dai dẳng, và nó có thể xuất hiện trở lại ở những lần mang thai tiếp theo.

 

Tham khảo:

  • Soutou B, Régnier S, Nassar D, Parant O, Khosrotehrani K, Aractingi S. Dermatological manifestations associated with pregnancy. Medscape

  • Vora RV, Gupta R, Mehta MJ, Chaudhari AH, Pilani AP, Patel N. Pregnancy and skin. J Family Med Prim Care 2014; 3: 318–24. PubMed Central

  • Kar S, Krishnan A, Shivkumar PV. Pregnancy and skin. J Obstet Gynaecol India 2012; 62: 268–75. PubMed

  • Bieber AK, Martires KJ, Stein JA, Grant-Kels JM, Driscoll MS, Pomeranz MK. Pigmentation and pregnancy: knowing what is normal. Obstet Gynecol 2017; 129: 168–73. DOI: 10.1097/AOG.0000000000001806. PubMed

  • Bolognia JL, Schaffer JV, Duncan KO, Ko CJ (eds). Dermatology essentials. London: Elsevier Health Sciences, 2014.

  • Black M, Rudolph CA, Edwards L, Lynch P. Obstetric and gynecologic dermatology, 3rd edn. Oxford: Elsevier, 2008.

  • George AO, Shittu OB, Enwerem E, Wachtel M, Kuti O. The incidence of lower mid-trunk hyperpigmentation (linea nigra) is affected by sex hormone levels. J Natl Med Assoc 2005; 97: 685–88. PubMed Central

  • Kumari R, Jaisankar TJ, Thappa DM. A clinical study of skin changes in pregnancy. Indian J Dermatol Venereol Leprol 2007; 73: 141. Journal

  • Braun-Falco O, Plewig G, Wolff HH, Burgdorf WHC (eds). Braun-Falco’s dermatology, 2nd edn. Berlin/Heidelberg/New York: Springer-Verlag, 2000.

  • Okeke LI, George AO, Ogunbiyi AO, Wachtel M. Prevalence of linea nigra in patients with benign prostatic hyperplasia and prostate carcinoma. Int J Dermatol 2012; 51 Suppl 1: 41–8. DOI: 10.1111/j.1365-4632.2012.05564.x. PubMed

  • Elling SV, Powell FC. Physiological changes in the skin during pregnancy. Clin Dermatol 1997; 15: 35–43. DOI: 10.1016/S0738-081X(96)00108-3. Journal

  • Hyperpigmentation and melasma. In: Ingber A. Obstetric dermatology: a practical guide. Berlin/Heidelberg: Springer-Verlag, 2009: 7–18.

  • Davis EC, Callender VD. Postinflammatory hyperpigmentation: a review of the epidemiology, clinical features, and treatment options in skin in colour. J Clin Aesthet Dermatol 2010; 3: 20–31. PubMed Central

  • Massinde A, Ntubika S, Magoma M. Extensive hyperpigmentation during pregnancy: a case report. J Med Case Rep 2011; 5: 464. DOI: 10.1186/1752-1947-5-464. PubMed

  • Wade TR, Wade SL, Jones HE. Skin changes and diseases associated with pregnancy. Obstet & Gynecol 1978; 52: 233–42. PubMed

 

TỔNG QUAN VỀ NHIỄM NẤM CANDIDA

TỔNG QUAN VỀ NHIỄM NẤM CANDIDA

 

 Ths. Bs Phạm Thành Trung (1) 

(1) Đơn Vị Da Liễu Và Thẩm Mỹ Da – Bệnh Viện Đại Học Y Dược Buôn Ma Thuột

 

LỜI NÓI ĐẦU

Những đặc điểm bệnh nhiễm trùng do Candida sp có thể thay đổi từ tổn thương tại chỗ cho đến lan rộng tới nhiều cơ quan. Mặc dù Candida được cho là một phần của hệ sinh vật thường trú tại ruột và hệ sinh dục của con người, loài này vẫn có khả năng xâm nhập và gây bệnh khi có sự mất cân bằng trong hệ khuẩn tự nhiên. Loài Candida thường gây bệnh nhất là Candida albicans. C.albicans là vi sinh vật thường thấy ở trong khoang hầu họng, ống tiêu hóa và âm đạo của người, nhưng trong trường hợp  có thể gây ra nhiễm trùng cơ hội theo sau một sự mất cân bằng của hệ khuẩn tự nhiên, hoặc sự tổn thương của lớp bảng vệ niêm mạc hoặc là sự suy giảm miễn dịch. C.albicans có mặt như là hệ khuẩn thường trú ở 50% người bình thường. 

Vi nấm học

Candida có khoảng 200 loài. Chúng có mặt ở cả loài người, và các loài vật khác, cả chim, sâu bọ, giáp xác, cá, trong chất thải của động vật, ở cây, nấm , trong các sản phẩn có nồng độ đường cao hoặc trong sữa, đất, trong nước sạch, nước biển và kể cả trong không khí. 

Có khoảng 30 loài Candida có thể gây ra nhiễm trùng trên người. Phổ biến nhất là C.albicans, C.glabrata, C.krusei, C.parasilosis và C.trophicalis. C.parasilosis được xác nhận là một loại dị thể và có thể chia thành 3 hình thái khác nhau như là 3 loài khác biệt: C.parasilosis, C.metapsislosis và C.orthopsilosis. 

Quá trình phát triển, hình thái 

Không giống với tên gọi vi nấm lưỡng hình, hình thái học của Candida khá là giống nhau khi quan sát trong điều kiện invitro hay invivo. Candida glabrata mọc lên nhỏ, hình elip và có hạt men. Thỉnh thoảng, những chồi của C.glabrata có thể tách ra để tạo cây mới bằng cách tự cắt đứt. Một cách rõ ràng thì C.albicans, C.krusei, C.parasislosis và C.tropicalis có các chồi tế bào và thường lớn hơn so với C.glabrata, chúng cũng có thể phát triển thành nhiều nhánh, đặc biệt là khi tiếp xúc với các môi trường đặc như là mô ở người hoặc thạch cấy. 

nấm candida

C.krusei và C. parasilosis có thể coi như lưỡng hình vì chúng vừa có dạng chồi và dạng sợi giả. C.albicans và C.tropicalis có thể tạo thành dạng sợi thật (thêm vào dạng chồi và sợi giả) do vậy có thể coi là loài đa hình. 

Thông thường sự hiện diện của chồi men và sợi giả ở trong mô nhiễm thì thường liên hệ tới nhiễm candida. Tuy nhiên, một hình tái nhiễm trùng tương tự có thể xảy ra bởi một số loài nấm mốc cơ hội ( Purpureocilium lilacinum). Những nấm mốc này có thể chẩn đoán nhầm với một nhiễm Candida nếu sử dụng mô học để chẩn đoán. 

Xét nghiệm vi nấm

Candida sp được tìm thấy khi cấu trong vòng một tới hai ngày. C.glabrata thì ngoại lệ, cần nhiều ngày hơn để mọc. 

Chẩn đoán xác định phân lập vi nấm hạt men dựa vào sự kết hợp hình tái học và kiểm tra sinh lý học. Ví dụ, kết quả xác định có C.albicans có thể được thiết lập bằng quan sát trực tiếp. Trong khi nhiều phòng thí nghiệm sử dụng các phương pháp xác định truyền thống để xác định nấm men, thì một vài công cụ mới đã được sử dụng. Việc sử dụng công nghệ laser có thể xác định nấm men trong vòng một vài phút. Thêm vào nữa, hệ thống T2Candida có thể xác định Candida sp trong máu trong khoảng 4 giờ. 

Immune respone

Thành tế bào của Candida sp có thể gợi ra cả miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bảo của vật chủ trong quá trình lây nhiễm. Thêm vào nữa, proteinase ngoài màng của C.albicasns kích thích đám ứng miễn dịch tại chỗ và toàn thân. Cân bằng miễn dịch tế bào thì quan trọng cho vật chủ chống lại Candida, nhưng là một phản hồi bởi tỷ lệ lưu hành nhiễm trùng cao hơn ở những người mà hệ miễn dịch tế bào bị tổn thương, nhưng cơ chế chính xác của đáp ứng này vẫn chưa được hiểu rõ. Interleurtkin 12 xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong sự tiến triển của Th1 đáp ứng với C.albicans ở chuột; IL-12 tăng nhạy với nhiễm trùng trong đường ruột và với những nhiễm trùng tái phát. Vai trò của interferon- gamma có vẻ còn phức tạp

  • IFN-gamma ở chuột nhạy cảm với nhiễm Candida
  • Nhiễm trùng hoặc xuất hiện của IL-12 gây ra đáp ứng Th1 ở chuột liên quan với việc tạo ra IFN -gamma. 
  • IL-12 xuất hiện ở những con chuột bị nhiễm trùng hệ thống dẫn tới bệnh gây tử vong, trong khi việc thêm IFN-gamma tạo ra hiệu quả bảo vệ ở 70 phần trăm động vật. 

Mặt khác IL 10 xuất hiện khi nhiễm hệ thống mà không có ở chuột chỉ nhiễm ở đường tiêu hóa. 

nấm candida

Bạch cầu đa nhân trung tính cũng đóng vai trò trong việc chống lại Candida. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng yếu tố kích thích G-C tăng khả năng phá hủy của tế bào đa nhân trung tính với tơ giả của C.albicans, có thể có liên quan với IFN-gamma. Một nghiên cứu kiểm tra nông độ IgA tiết trong nước bọt và giảm hoạt động của tế bào bạch cầu tại ống tuyến nước bọt của người bị nhiễm Candida hầu họng so với nhóm khỏe mạnh. 

Vai trò của đáp ứng thể dịch trong việc ngăn chặn quá trình gây bệnh của nhiễm Candida vẫn chưa rõ và còn nhiều tranh cãi. Tuy nhiên các kháng thể đơn dòng và kháng thể đa dòng đã cho thấy hiệu quả trên chuột bị nhiễm Candida. Kháng thể IgG đã cho thấy có kích hoạt bổ thể thông qua cả hai con đường cổ điển và nhanh. Những phát hiện này đề nghị về việc phát triển vaccine hoặc kháng thể bảo vệ ngắn hạn. Thụ thể Toll-like chủ yếu là TLR2 và TLR4 đóng vai trò then chốt trong nhận diện C.albicans và hoạt hóa đáp ứng của hệ miễn dịch. Thêm vào nữa, thụ thể Dectin -1 trên thành tế bào vật chủ cũng có vai trò nhận diện beta-glucan của vách tế bào nấm. 

Nhiễm Candida 

  • Candida hầu họng

Là một nhiễm trùng tại chỗ thường thấy ở trẻ em, người già hoặc bệnh nhân đang điều trị kháng sinh, hóa trị hoặc xạ trị vùng đầu cổ và những người có suy giảm miễn dịch mắc phải như là AIDS. Bệnh nhân không có nước bọt hoặc điều trị glucocorticoid hít cho bệnh hen suyễn cũng có nguy cơ. 

Triệu chứng thường thấy là cảm giác ngứa vùng miệng, mất vị giác và thỉnh thoảng bị đau khi ăn và nuốt. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không có triệu chứng, khi mà bệnh nhân đeo rang giả thì thường bị đau khi cố gắng mang hàm giả vào. Những bệnh nhân sử dụng ức chế miễn dịch thì thường có nhiễm Candida ở nắp thanh môn. 

Chẩn đoán được hướng tới khi có hiện diện của mảng trắng ở niêm mạc miệng, lưỡi, khẩu cái hoặc là ở hầu hay ở dưới răng giả với những mảng phù đỏ. 

Candida hầu họng

Chẩn đoán được xác định bằng cách cạo sang thương và soi nhuộm gram hoặc KOH. Chồi nấm men có hay không sợi nấm giả thì có thể được tìm thấy. 

Candida hầu họng

Nhiễm Candida vùng sinh dục

Là một trong những thể nhiễm candida thường gặp nhất. Tình trạng này thường gắn với sự tăng nồng độ estrogen như là uống thuốc tránh thai đường uống và kháng sinh. Kháng sinh, glucocorticoids, đái tháo đường, nhiễm HIV, sử dụng dụng cụ tránh thai là yếu tố nguy cơ. 

Chẩn đoán lâm sàng nhiễm Candida vùng sinh dục thường là ngứa và khí hư. Khám lâm sàng thường thấy cổ tử cung sưng, đỏ và âm đạo khí hư. Một vài bệnh nhân nhiễm nguyên phát Candida glabrata có ít khí hư và chỉ có đỏ ở âm đạo khi khám. 

Chẩn đoán nhiễm nấm âm đạo do candida thường chỉ cần dựa trên lâm sàng, nhưng xác định dễ dàng bằng quan sát chồi nấm men khi chuẩn bị với KOH. 

Nhiễm Candida vùng sinh dục

Nhiễm Candida da niêm mạn tính

Nhiễm candida da niêm mạn tính là một hội chứng hiếm và thường diễn ra trong giai đoạn còn nhỏ. Biểu hiện lâm sàng ở những bệnh nhân này có thể trầm trọng, tái diễn, nấm móng, nhiễm sinh dục và sang thương da mạn tính. Những sang thương da có thể có dày sừng, mài xuất hiện ở mặt, da đầu và cánh tay.

Nhiễm Candida da niêm mạn tính 

Nhiễm Candida máu – Nhiễm trùng xâm lấn do candida

Sự hiện diện của nấm Candida trong máu. Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch và những bệnh nhân ở trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt có nguy cơ cao nhất của nhiễm candida máu. 

Triệu chứng lâm sàng đa dạng rất nhiều từ sốt nhẹ tới đầy đủ các triệu chứng của sốc nhiễm trùng như các nhiễm trùng nghiêm trọng khác. Bằng chứng lâm sàng cho sự xuất hiện của Candida trong máu bao gồm sang thương mắt đặc hiệu, sang thương da ít phổ biến hơn, absceses vùng cơ. Sang thương da có vẻ xuất hiện bất ngờ như 1 chùm mụn mủ không đau trên nền hồng ban, có thể xuất hiện bất cứ chỗ nào trên cơ thể. Sang thương da có thể xuất hiện như 1 nốt mủ nhỏ có thể dễ dàng bỏ qua cho đến những sẩn mủ có thể từ vài centimetters đường kính và có thể xuất hiện ở vùng trung tâm.

Nhiễm Candida máu

Thêm vào những thay đổi ở vùng màng thì dấu hiện suy đa cơ quan có thể xảy ra. Một số nghiên cứu cho thấy sự lan rộng của các vi abscess xuất hiện ở thận, gan, tim, lách phổi và não. 

Nhiễm Candida máu

Nhiễm Candida máu

Vi sinh vật thường trú ở hệ tiêu hóa

Các loài Candida là một phần của hệ vi sinh vật thường trú trong ống tiêu hóa. Phân lập được Candida trong những sản phẩm thải như phân thì không có ý nghĩa là có nhiễm trùng đang diễn ra. Do vậy, sẽ không cần điều trị.

Tổng kết

Các loài Candida là những vi nấm thường thấy trong toàn bộ hệ sinh thái ở cả động vật và thực vật. Trong hơn 200 chủng Candida thì có khoảng 30 chủng Candida gây bệnh trên người. 

Những đặc điểm lâm sàng khi nhiễm nấm có thể dao động từ nhiễm khu trú tại màng nhầy cho tới nhiễm trùng lan tỏa tới toàn bộ hệ cơ quan. Mặc dù Candida vẫn được xem là một loài vi sinh vật thường trú ở hệ tiêu hóa người, nhưng chúng vẫn có khả năng xâm lấn và gây bệnh khi sự cân bằng vi sinh bị mất. 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Naglik JR, Challacombe SJ, Hube B. Candida albicans secreted aspartyl proteinases in virulence and pathogenesis. Microbiol Mol Biol Rev 2003; 67:400.
  2. Brandt ME, Lockhart SR. Recent Taxonomic Developments with Candida and Other Opportunistic Yeasts. Curr Fungal Infect Rep 2012; 6:170.
  3. Barnett JA, Payne RW, Yarrow D. Yeasts: Characteristics and Identification, 2nd ed, Cambridge University Press, Cambridge 1990.
  4. Meyer AS, Payne RW, Yarrow D. Candida Berkhout. In: The Yeasts: A Taxonomic Study, 4th ed, Kurtzman CP, Fell JW (Eds), Elsevier, New York 1998. p.454.

VIÊM NIỆU ĐẠO KHÔNG DO LẬU

VIÊM NIỆU ĐẠO KHÔNG DO LẬU

Nguyễn Thị Thu Sang

BV Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột

I. Nguyên nhân gây bệnh viêm niệu đạo:

  • Phổ biến nhất là Chlamydia Trachomatis.
  • Ureaplasma Urealyticum.
  • Mycoplasma genitalium
  • Trùng roi Trichomonas vaginalis.
  • Nấm Candida albicans
  • Herpes simplex virus….

viêm niệu đạo

Triệu chứng lâm sàng:

Thời gian ủ bệnh từ 7-27 ngày.

Lâm sàng:

  • Triệu chứng chủ quan là tiểu buốt, tiểu rắt, cảm giác bỏng rát khi đi tiểu hoặc ngứa dọc niệu đạo. 
  • Tiết dịch hoặc mủ ít ở niệu đạo, thường ra ít dịch/mủ loãng buổi sáng.
  • Nhiều bệnh nhân bị viêm niệu đạo không do lậu hoàn toàn không có biểu hiện lâm sàng.
  • Biểu hiện ở nữ: tiểu rát nhẹ, ngứa đường tiểu, kèm tiết dịch hoặc mủ, mủ nhầy ở âm đạo.

Cận lâm sàng:

  • Nhuộm Gram tìm lậu cầu: lấy mủ làm xét nghiệm thấy nhiều bạch cầu, nhưng không có song cầu khuẩn gram (-) nội và ngoại tế bào bạch cầu đa nhân trung tính, nghĩ đến viêm niệu đạo không do lậu.
  • Chỉ số bạch cầu đa nhân trong dịch niệu đạo ≥ 5 bạch cầu /vi trường có độ phóng đại 1000 lần. Hoặc có ≥ 10 bạch cầu đa nhân trong nước tiểu đầu dòng với độ phóng đại 1000 lần.

III. Chẩn đoán phân biệt:

  • Lậu
  • Giang mai 
  • Nấm C.albicans: soi tươi dịch thấy tế bào hạt men hoặc sợi tơ nấm giả.
  • Với trùng roi T. vaginalis : soi tươi tiết chất sẽ thấy trùng roi.

Biến chứng:

  • Gặp cả 2 phái do không điều trị hoặc điều trị không đúng.
  • Ở nam: viêm mào tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, viêm trực tràng, hội chứng Reiter (gồm có viêm niệu đạo, viêm kết mạc mắt, viêm khớp và dày sừng lậu (dát hóa lậu) (Keratoderma blennorrhagicum) (là các thương tổn đặc trưng ở da và niêm mạc liên quan đến nhiễm Chlamydia Trachomatis)….
  • Ở nữ: viêm tuyến Bartholin, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm vòi trứng…

Điều trị:

Nguyên tắc điều trị:

  • Điều trị nguyên nhân gây bệnh.
  • Điều trị cả bạn tình.
  • Không quan hệ tình dục trong thời gian điều trị.
  • Người bệnh cần được khám lại nếu triệu chứng còn tồn tại hoặc tái phát.

Điều trị:

  • Azithromycin 1g uống  liều duy nhất
  • Hoặc Doxycycline 100 mg uống 2 lần/ ngày trong 7 ngày.

viêm niệu đạo

Các phác đồ thay thế: 

  • Erythromycin cơ bản (basic) 500mg uống 4 lần/ngày trong 7 ngày
  • hoặc Levofloxacin 500 mg uống mỗi ngày 1 lần trong 7 ngày
  • Hoặc Ofloxacin 300mg uống 2 lần/ngày trong 7 ngày
Với người có thai:
  •   Khuyến cáo
  • Azithromycin 1g (u)  liều duy nhất
  • Các phác đồ thay thế
  • Amoxicillin 500 mg (u) x 3 lần/ngày x 7 ngày
  •  Erythromycin cơ bản (u) 500 mg x 4 lần/ngày x 7ng
  •  Erythromycin cơ bản 250 mg (u) x 4 lần/ngày x 14 ngày

Phòng bệnh:

  • Bài trừ nạn mãi dâm   
  • Không quan hệ tình dục với người bị bệnh.
  • Thực hiện quan hệ tình dục an toàn: bao cao su,…
  • Không sử dụng chung các dụng cụ vệ sinh như chậu tắm, khăn…và áo quần.
  • Nếu có quan hệ với người nghi ngờ, thì nên theo dõi trong 7 ngày, nếu có tiểu gắt, có mủ, cần khám bệnh để điều trị sớm, không tự ý dùng kháng sinh.
  • Chuyển lên tuyến chuyên khoa để điều trị nếu phát hiện có biến chứng nặng.

HPV VÀ VACCINE PHÒNG NGỪA HPV

HPV VÀ VACCINE PHÒNG NGỪA HPV

Ths. BS Phạm Thành Trung (1)

(1) Đơn vị Da liễu & Thẩm mỹ da – Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ VIRUS HPV

MỞ ĐẦU 

Nhiễm virus HPV (Human papillomavirus) phổ biến trên toàn thế giới, tác động đến mọi lứa tuổi và có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Đa số mọi người đều có ít nhất một lần bị nhiễm virus này trong suốt cuộc đời, tuy nhiên, độ nặng và thời gian mắc của bệnh sẽ phụ thuộc vào đáp ứng miễn dịch chống tại những tế bào nhiễm virus.

Hình ảnh lâm sàng của bệnh gây bởi virus này cũng phụ thuộc vào phân nhóm virus và vị trí nhiễm. Trong khi mụn cóc ở da và niêm mạc thì lành tính và gây ra bởi nhiều type khác nhau tùy thuộc vị trí nhiễm, thì những tổn thương tiền ác tính hoặc ung thư xâm lấn tại niêm mạc hậu môn hoặc hầu họng lại liên quan với những type khác – nhóm HPV nguy cơ cao.

Hiện nay đã có một số vaccine với các nhóm HPV nguy cơ cao và nguy cơ thấp thường gặp. Hiệu quả phòng ngừa của các vaccine này như thế nào sẽ được trình bày trong bài chuyên đề dưới đây.

 

Số thứ tự Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
1 PV Papilomavirus  
2 HPV Human Papilomavirus  
3 HR High risk Nguy cơ cao
4 CIN Cervical Intraepithelial rNeoplasia  
5 MSM Man have sex with man  
6 CDC Control disease center  

 

I. Tổng quan về HPV và vaccine

Papillomavirus hợp thành một nhóm lớn các virus tương tự, phân loại dựa vào vật chủ của chúng. Papillomaviruses (PV) lây nhiễm tế bào keratinocytes lớp đáy của biểu mô niêm mạc và da của cả các loài động vật (bò sát, chim, thú có túi …) và con người.

PV là một loại virus có vật liệu di truyền là một chuỗi DNA xoắn kép không có vỏ capsid. Virus này nhỏ hơn nhiều về cả kích thước lẫn chiều dài của vật liệu di truyền so với những loại virus phổ biến khác gây nhiễm trùng trên da như virus Herpex simplex.

Dựa trên các chuỗi nucleotide của protein capsid chính L1, PV được phân thành 53 chi, trong đó chỉ có 5 chi là các PV lây nhiễm cho người (HPV). Hiện nay, có hơn 200 loại HPV khác nhau đã được liệt kê bởi Trung tâm Tham chiếu HPV Quốc tế, và con số này vẫn tiếp tục tăng lên.

Các loại HPV được chia thành năm chi chính là: alpha, beta, gamma, mu và nu . Chi Gamma   gồm phần lớn các loại HPV đã biết, với 99 loại, theo sau là các chi alpha ( n = 65) và beta ( n = 54), còn các chi mu và nu chỉ bao gồm 3 và 1 loại.

Dựa trên dữ liệu dịch tễ học và sinh học, một nhóm nhỏ gồm 12 loại HPV niêm mạc được phân loại trong chi Alphapapillomavirus (alpha HPV), ví dụ, HPV16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58 và 59 , được gọi là các loại HPV nguy cơ cao (HR). Các loại HR HPV là tác nhân căn nguyên của một số bệnh ung thư, chẳng hạn như cổ tử cung, âm đạo, âm hộ, hậu môn, dương vật và một tập hợp các bệnh ung thư đầu và cổ, đặc biệt là ung thư vòm họng. Các chi alpha cũng bao gồm các loại HPV nguy cơ thấp (LR) gây ra các tổn thương lành tính. HPV6 và 11, các loại LR HPV được nghiên cứu nhiều nhất, gây ra mụn cóc sinh dục lành tính, những loại HPV này cũng được tìm thấy trong bệnh u nhú đường hô hấp tái phát ở trẻ em. Các chi alpha cũng bao gồm một số loại HPV da (HPV2, 3, 7, 10, 27, 28 và 57) gây ra mụn cóc.

Nhiễm trùng gây ra bởi HPV xảy ra khắp nơi trên thế giới và ở bất kỳ lứa tuổi nào. Những nốt mụn cóc lành tính trên da thường xuất hiện trong suốt thời kì trẻ nhỏ tới khoảng năm 20 tuổi, có khoảng 30 đến 70% trẻ em ở tuổi đến trường có mụn cóc ở da. Nhưng với mụn cóc sinh dục, loại mụn cóc này lây qua hoạt động tiếp xúc tình dục thì thường xuất hiện vào giai đoạn sớm của tuổi trưởng thành, nếu xuất hiện ở trẻ em thường cần quan tâm tới vấn đề lạm dụng tình dục.

Việc lây lan của virus có thể qua tiếp xúc trực tiếp hoặc mảnh virus, phần thoát ra từ bề mặt thượng bì vì tế bào sừng bung ra, có thể xuất hiện trong môi trường trong một khoảng thời gian không rõ và sau đó, dẫn tới việc nhiễm cho một người khác. Thậm chí, sau khi nhiễm thì cũng cần nhiều tháng để xuất hiện những nốt mụn cóc có thể thấy được. Sau khi nhiễm, thì virus có thể lan theo bề mặt từ vùng da này đến vùng da khác.

Sự bảo vệ cơ thể chống lại một nhiễm trùng mới là nhờ kháng thể trung hòa. Vaccines kháng HPV, được sản xuất từ capsid L1 thu thập từ mảnh virus, dẫn tới đáp ứng miễn dịch chống lại virus. Trong quá trình nhiễm tự nhiên, đáp ứng huyết thanh này cũng xảy ra, nhưng trong trường hợp này, kháng thể kháng HPV không có hiệu quả trong việc giải quyết những thương tổn đã được tạo ra. Sự thải trừ virus từ mô nhiễm sẽ phụ thuộc vào đáp ứng miễn dịch tế bào, và vì vậy nên không có một liệu pháp vaccine phù hợp và hiệu quả. Hầu hết mụn cóc ở trẻ em sẽ biết mất trong vòng 2 năm, nhưng một số ít người mụn cóc có thể lan ra và xuất hiện kéo dài.

II. Sự xâm nhập và vòng đời của HPV

1. Cấu trúc bộ gen virus HPV

Bộ gen HPV được sắp xếp thành 3 vùng chính: (1) khu vực kiểm soát dài (LCR), còn được gọi là khu vực điều tiết ngược dòng, nằm giữa khung đọc mở (ORF) L1 và E6 , có chứa bộ khởi động sớm và yếu tố điều hòa liên quan đến đọc mã và sao chép DNA của virus; (2) khu vực mã hóa sớm, mã hóa các protein E1, E2, E4, E5, E6 và E7 liên quan đến sự biểu hiện, sao chép và tồn tại của gen virus; và (3) vùng muộn, mã hóa các protein cấu trúc (L1 và L2). 

Kiểu cấu trúc này xuất hiện ở tất cả các loại HPV. Tuy nhiên, chỉ có bốn khung đọc mở (ORF) (các loại E1, E2, L1 và L2) là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu nhằm đảm bảo cho sự nhân lên và phát tán của virus và có mặt trong tất cả các PV đã biết . Một số chi và loại HPV nhất định thiếu ORF như là các loại HPV thuộc về beta, gamma và mu thiếu ORF E5 và ba loại HPV gamma (HPV 101, 103 và 108) thiếu cả ORF E5 và E6 . Các loại LR HPV (tức là HPV 6 và 11) mã hóa cho hai loại protein giống E5 là E5γ và E5δ . Các loại HPV beta và gamma có đặc thù là chứa LCR ngắn hơn so với các thành viên của các chi khác.

Cấu trúc alpha HPV và beta HPV

Hình 1. Cấu trúc alpha HPV và beta HPV

2. Sự xâm nhập và vòng đời của HPV

Các mảnh virus chạm lớp màng đáy của thượng bì thông qua các vết thương vi mô hoặc vi vết nứt hoặc các nang lông để lây nhiễm cho các tế bào sừng ở màng đáy hoặc các tế bào biểu mô gốc. Sự xâm nhập của virus vào tế bào có sự liên quan mật thiết tới sự tăng sinh của các tế bào biểu mô.

Đầu tiên, virus liên kết với chuỗi Heparan sulfate của proteoglycan (HSPGs) nằm trên màng tế bào hoặc chất nền ngoại bào, thông qua protein capsid L1, làm thay đổi cấu trúc capsid dẫn đến bộc lộ L2.

 Sự gắn kết của HPV với thụ thể thứ cấp cho phép tiếp tục các quá trình nội hóa. Khi đã vào trong tế bào, virus cần tiếp cận bộ máy sao chép bên trong nhân. Protein L2 là thành phần cần thiết đảm bảo hiệu quả việc chuyển bộ gen của virus vào nhân và duy trì liên quan với DNA của virus bằng cách vận chuyển túi chứa phức hợp L2 – DNA virus trong nhân. Việc vận chuyển này diễn ra vào kì sớm của nguyên phân.

Sự xâm nhập của HPV

Hình 2: Sự xâm nhập của HPV

Chu kỳ sao chép của HPV gắn liền với sự biệt hóa của biểu mô bị nhiễm bệnh và bắt đầu với bước đầu tiên, gọi là sao chép cơ sở, bao gồm việc duy trì một số lượng bản sao không đổi. Sự sao chép DNA của virus phụ thuộc vào bộ máy sao chép DNA của vật chủ và được hỗ trợ bởi các protein virut đầu tiên là E1 và E2. Khi xâm nhập hạt nhân, sự sao chép DNA của virut được bắt đầu bằng việc gắn E2 trên các vị trí đặc hiệu nằm trên LCR, cần thiết cho việc gắn kết của helicase E1 để thực hiện quá trình tái bản virus. Sau bước ban đầu nhằm đảm bảo số lượng bản sao của bộ gen thấp, giai đoạn duy trì được bắt đầu. Giai đoạn này gồm việc tạo các điều kiện để duy trì số lượng bộ gen virus trong nhân của các tế bào đáy như là một bộ gen ngoại bào để gây ra nhiễm trùng dai dẳng. Bộ gen của virus cần được phân tách chính xác trong suốt quá trình phân chia tế bào thông qua việc gắn bộ gen của virus vào nhiễm sắc thể của tế bào chủ.

Khi các tế bào biệt hóa trong các lớp thượng bì, các tế bào bị nhiễm bắt đầu tái bản với sự tạo ra các thành phần tiền thân virus. Các tế bào chưa bị nhiễm rời lớp đáy để biệt hóa, thì thoát khỏi chu trình và ngừng sao chép DNA. Do việc khuếch đại bộ gen virus cần điều kiện là sự tăng sinh tế bào và nhờ đó tái bản DNA, do vậy virus đã tạo ra các chiến lược để ngăn chặn các chu kỳ tế bào bắt giữ tín hiệu apotosis. Ngoài E1, E2 thì các oncoprotein E6, E7 cũng cần thiết để duy trì sự ổn định của HPV bằng cách bất hoạt các protein ức chế khối u, dẫn tới việc sản xuất các protein virus E1, E2 ở mức cao. E4 và E5 góp phần nhân rộng hiệu quả sản xuất virus.

PHẦN 2: VACCINE HPV

III. Hiệu quả của Vaccine

Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả của vaccine chống lại các loại virus trong các vaccine tương ứng (HPV 16/18 hay HPV 16/18/6/11). Lợi ích thực sự của việc tiêm phòng chỉ có thể được quan sát thông qua tác động và hiệu quả trong đời thực sau khi việc tiêm chủng đưa vào chương trình y tế công cộng. Để có thể đánh giá một cách có giá trị thì cần có sự quan sát và giám sát tốt về những thay đổi trong các nhóm tuổi đủ điều kiện sử dụng vaccine cũng như kết quả bệnh. Trong quá trình này sẽ gặp một số thách thức như là: không thể nuôi cấy virus bằng phương pháp thông thường, nhiễm HPV không được quan tâm hay không có nhiều biểu hiện lâm sàng ở hầu hết các nước. Ngoài ra, thời gian nhiễm trùng tới khi biểu hiện bệnh khá đa dạng, có thể chỉ vài tuần – vài tháng (mụn cóc sinh dục) đến nhiều năm (tổn thương tiền ung) thậm chí nhiều chục năm (ung thư) và tác động của tiêm chủng với từng bệnh khác nhau. Theo dõi tác động của vaccine cũng khó khăn, đặc biệt là một số điểm cuối như tổn thương tiền ung thư cần có chương tình sàng lọc tiền ung mạnh mẽ. Hiệu quả của tiêm chủng được xác định bằng cách quan sát trong quần thể sau khi một chương trình tiêm chủng bắt đầu và so sánh kết quả ở những người được tiêm chủng với những người không được tiêm chủng.

Hiệu quả của vaccine đối với nhiễm HPV

Úc là một trong những quốc gia đầu tiên thực hiện tiêm chủng HPV toàn dân do chính phủ tài trợ, bắt đầu từ năm 2007, thực hiện tại các trường hợp với 3 liều vaccine HPV tứ giá với dân số mục tiêu là nữ giới trong độ tuổi 12 -13 tuổi, theo sau đó mở rộng với những người từ 12 đến 26 tuổi. Năm 2013, chương trình được mở rộng cho nam giới từ 12 -13 tuổi gồm cả chương trình tiêm trủng theo sau để bắt kịp với những người từ 14-15 tuổi. Nhìn chung, chương trình đã đem lại tỷ lệ bao phủ vaccine cao, đặc biệt với dân số đích là nữ giới trong trường học với tỷ lẹ hơn 70% đã tiêm đủ 3 liều. Các nhà khoa học Úc đã báo cáo việc giảm tỷ lệ nhiễm virus HPV ở những người tiêm vaccine bằng 86% ( độ tuổi 18 -24, nhận đủ 3 liều) và giảm 76% cho những người tiem 1 hoặc 2 liều. Nói chung, Tabrizi và cộng sự nhận thấy rằng tỷ lệ nhiễm HPV nhóm được tiêm vaccine có tỷ lệ giảm mạnh nhất tương ứng vưới nhóm tuổi có độ bao phủ vaccine cao nhất, ngay cả với dân số trong độ tuổi chưa được tiêm chủng, điều này có ý nghĩa trong miễn dịch cộng đồng. Hơn nữa, tại Úc đã cho thấy có sự miễn dịch cộng đồng ở cả nam giới do kết quả của chương trình tiêm chủng cho nữ. 

Các quốc gia khác đã đạt được mức độ bao phủ cao với việc tiêm vaccine HPV nhị giá hoặc tứ giá cũng cho thấy sự giảm nhanh chóng các trường hợp nhiễm HPV. Như Scotland, chương trình tiêm chủng cũng nhắm tới các bé gái 12 -13 tuổi, tỷ lệ bao phủ của vaccine HPV nhị giá còn cao hơn lên đến 90%.

Hiệu quả của vaccine đối với mụn cóc sinh dục

Mụn cóc sinh dục là một tình trạng phổ biến, ảnh hưởng đến 10% dân số nữ dưới 45 tuổi và thường phát triển từ 2 đến 3 tháng sau khi nhiễm các kiểu gen HPV nguy cơ thấp, chủ yếu là HPV 6 và 11. Úc là nước đầu tiên đưa ra báo cáo về giảm mụn cóc ở bộ phận sinh dục nhờ vaccine tứ giá giúp giảm 92% mụn cóc sinh dục liên quan đến HPV. Điều thú vị là các quan sát từ việc sử dụng sớm vaccine HPV nhị giá cũng ghi nhận việc giảm mụn cóc. Người ta cho rằng phản ứng này có thể do tiêm vaccine đã dẫn đến phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào có khả năng bảo vệ vừa phải chống lại một số loại HPV nguy cơ thấp. 

Kể từ khi bắt đầu chương trình tiêm vaccine HPV tứ giá, đã có sự giảm đáng kể các báo cáo về mụn cóc sinh dục ở các nước có chương trình. Ở Bỉ, một nghiên cứu ghi nhận mức giảm mụn cóc sinh dục là 8,1% trong dân số chung và mức giảm cao nhất là ở nhóm nam và nữ 16 đến 22 tuổi. Một nghiên cứu đã nhấn mạnh hiệu quả lớn nhất của tiêm vaccine chống mụn cóc sinh dục là khi liều đầu tiên ở tuổi trẻ và ít tác dụng hơn ở tuổi lớn. 

Hiệu quả của vaccine đối với bất thường mô học ở cổ tử cung

Mụn cóc sinh dục có thời gian ủ bệnh ngắn, do đó là bệnh đầu tiên ghi nhận giảm tỷ lệ mắc nhờ tiêm chủng. Kết quả thứ hai có thể thấy được sự giảm tỷ lệ mắc là loạn sản cổ tử cung, có thời gian ủ bệnh trung gian (tuổi từ 26 – 30 tuổi). Một lần nữa, điều này được báo cáo tại Úc, các chương trình tiêm chủng HPV quốc gia của Úc đã dẫn đến sự giảm 34% tỷ lệ viêm cấp độ thấp và 47 % trong bệnh lý viêm lộ tuyến cổ tử cung mức độ cao và ung thư biểu mô tuyến tại chỗ, mức giảm lớn nhất là nhóm tuổi được tiêm chủng. Phụ nữ dưới 20 tuổi có tỷ lệ giảm từ 10,9 / 1000 phụ nữ được sàng lọc xuống còn 5,0 / 1000 trong khoảng thời gian 10 năm và tỷ lệ hiện mắc ở phụ nữ từ 20 đến 24 tuổi giảm từ 21,5 / 1000 xuống còn 13,5 / 1000 khoảng thời gian tương tự. Trong nhóm trên 30 tuổi, tỷ lệ mắc CIN biệt hóa cao đã tiếp tục tăng chậm. Sự sụt giảm tương tự đã được quan sát thấy ở Scotland và Đan Mạch. 

Hiệu quả của vaccine đối với ung thư cổ tử cung

Hiện tại, còn quá sớm để chứng minh bệnh lâm sàng hoặc giảm bệnh dựa trên dân số đối với ung thư cổ tử cung. Dựa trên thử nghiệm PATRICIA (Thử nghiệm Papilloma chống ung thư ở người trưởng thành trẻ tuổi) của vaccin HPV nhị giá, người ta ước tính rằng với tỷ lệ bao phủ vaccine 50%, có thể giảm tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới là 246.086 trường hợp hàng năm nhưng tỷ lệ bao phủ 90%, có thể có tới 438.955 trường hợp được bảo vệ. 

Tỷ lệ mắc ung thư không liên quan đến cổ tử cung nhìn chung là thấp và đỉnh điểm ở độ tuổi muộn hơn so với ung thư cổ tử cung . Do đó, cần nhiều thời gian hơn và các nghiên cứu hiệu quả dựa trên dân số lớn với các bệnh ung thư khác nhau vì các điểm cuối sẽ được yêu cầu trước khi tác động có thể được xác định. Có những bộ dữ liệu ban đầu hiện đang xem xét tác động của việc sử dụng vaccine HPV và ảnh hưởng đối với nhiễm trùng hậu môn dai dẳng và viêm lộ tuyến nội mô .

IV. Sử dụng vaccine HPV trong thực hành lâm sàng

Độ tuổi tiêm vaccine HPV

Miễn dịch được tạo ra bằng vaccine HPV cần kéo dài trong vài thập kỉ để đảm bảo rằng nhiễm trùng không xảy ra khi những người trẻ hoạt động tình dục và nhờ đó ngăn ngừa bệnh tật trong thời gian dài hơn. Mặc dù chỉ có một số nghiên cứu đã cho thấy các kháng thể trung hòa có thể được phát hiện 10 năm sau khi tiêm chủng, người ta tin rằng phản ứng kháng thể tạo ra bởi vaccine là đủ mạnh và kéo dài và chỉ cần một hiệu giá kháng thể nhỏ là đủ để bảo vệ.

Trong 10 năm qua đã có những thay đổi trong hành vi tình dục chẳng hạn như tuổi trung bình của việc lần đầu quan hệ, tăng phơi nhiễm từ sự gia tăng số lượng bạn tình và lựa chọn định hướng bạn tình. 

Nam và nữ trong khoảng độ tuổi 11-12 tuổi đều nên được tiêm vaccine. Tổng cộng cần tiêm 3 mũi, mũi thứ hai cách mũi đầu tiên 1 tháng, mũi thứ ba cách mũi đầu tiên 6 tháng. 

Nên tiêm vaccine cho nam giới đến 21 tuổi và nữ giới đến 26 tuổi nếu chưa tiêm đầy đủ khi còn nhỏ. Nếu còn thiếu mũi tiêm thì tiếp tục tiêm các mũi tiếp sau theo lịch. 

Với nam có quan hệ đồng giới và các trường hợp suy giảm miễn dịch ở cả nam và nữ cũng cần tiêm chủng cho đến năm 26 tuổi nếu họ chưa được tiêm ngừa trước đây. 

Có nên tiêm vaccine cho nữ hơn 26 tuổi và các đối tượng đồng tính nam?

Việc tiêm vaccine HPV cho phụ nữ >26 tuổi sẽ không phù hợp về mặt chi phí và điều này phù hợp với chính sách và thực tiễn hiện hành. Ngược lại, việc tiêm vaccine cho nam dị tính cho thấy kết quả hỗn hợp: có giá trị về mặt chi phí, đề xuất cho việc có hiệu quả ở đối tượng MSM. Việc tiêm vaccine HPV cho đối tượng MSM nên là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu trên toàn thế giới, không giống như nam dị tính được hưởng lợi từ chương trình tiêm chủng HPV cho nữ. Hơn nữa, nam MSM có nguy cơ cao hơn nam dị tính với lây nhiễm HPV ở mục cóc hậu môn trực tràng nói riêng và ung thư hậu môn nói riêng.

Tính an toàn của chương trình tiêm chủng HPV

Mối quan tâm về tính an toàn vaccine là một vấn đề thường được chú ý. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), thông qua Hệ thống báo cáo về tác dụng phụ của vaccine, chỉ phân loại 7% các tác dụng phụ nghiêm trọng từ hơn 90 triệu liều vắc-xin HPV. CDC không tìm thấy mối liên quan nhân quả giữa vắc-xin HPV và suy buồng trứng, hội chứng Guillain-Barré hoặc hội chứng nhịp tim nhanh cố định tư thế. Nhìn chung, vaccine HPV có hệ số an toàn tốt, nhưng việc theo dõi liên tục sẽ được yêu cầu vì vaccine HPV cửu giá đã được giới thiệu. 

Kết luận

Vaccine HPV đã được chứng minh là có hiệu quả tạo miễn dịch cộng đồng khi có độ bao phủ đủ rộng với một số bệnh như mụn cóc sinh dục, các rối loạn mô học cổ tử cung, tỷ lệ nhiễm HPV chung ở dân số. Vaccine nên được tiêm sớm ở độ tuổi 12-13 tuổi đối với cả trẻ trai và trẻ gái, càng sớm càng tốt trước 26 tuổi. 

 

Tài liệu tham khảo
  1. Lai-yang Lee1 and Suzanne M. Garland – Human papillomavirus vaccination: the population impact
  2. CDC – Nhiễm Trùng HPV Sinh Dục – Tờ Thông Tin của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC)
  3. Jane C.Sterling – Human papilomavirus infection. Fizpatrick’s Dematology 9th Edition.
  4. Tarit Gheit – Mucosal and Cutaneous Human Papillomavirus Infections and Cancer Biology