THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP NÊN UỐNG SÁNG HAY TỐI?

THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP NÊN UỐNG SÁNG HAY TỐI?

Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp và để lại nhiều hậu quả nguy hiểm về bệnh tim mạch cho bệnh nhân. Theo thống kê có tới hàng tỷ người trên thế giới đang phải điều trị tăng huyết áp [1]. Việc sử thuốc điều trị tăng huyết áp đã có nhiều hướng dẫn/phác đồ khác nhau, tuy nhiên về thời điểm dùng thuốc thì hiện vẫn còn đang tranh cãi.

Trước đây, thuốc điều trị tăng huyết áp thường được sử dụng vào ban ngày (khi có nhiều hoạt động thể lực và có nhiều yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp hơn, hoặc sự bất tiện khi sử dụng nhóm lợi tiểu vào ban đêm…). Nhưng gần đây có khá nhiều nghiên cứu đánh giá về thời gian sử dụng thuốc điều trị THA giữa ban đêm và ban ngày với các kết quả thu được khác nhau.

Năm 2011, Ping Zhao cùng cộng sự đã công  bố  bài  phân  tích  “Evening versus morning dosing regimen drug therapy for hypertension” trên Cochrane Database Syst Rev [2], trong đó đánh giá dữ liệu với 21 thử nghiệm liên quan tới thời gian dùng thuốc điều trị THA (các thuốc chủ yếu thuộc nhóm ACEi, ARB và CCB). Kết quả thu được cho thấy, không có sự khác biệt giữa việc dùng thuốc ban ngày và đêm, ngoại trừ huyết áp trung bình trong 24h khi dùng ban đêm giảm tốt hơn ban ngày (-1.7/-1.38 mm Hg), tuy nhiên khác biệt 0.32 mm Hg không có ý nghĩa nhiều trong thực tế.

Năm 2017, nghiên cứu CHOSA [3] được tiến hành so sánh thời gian dùng thuốc điều trị THA ở những bệnh nhân mắc kèm bệnh ngưng thở khi ngủ (một trong những nguyên nhân gây ra THA). Kết quả cho thấy sử dụng thuốc vào ban ngày cho hiệu quả hạ huyết áp so với ban đêm là 1.8 mmHg (95% CI 1.1 to 2.5).

Tuy nhiên công bố trong năm 2019 của Hermida cùng cộng sự [4] đã gây ra rất nhiều tranh cãi về kết quả nghiên cứu. Nghiên cứu tiến cứu, đa trung tâm với 19000 bệnh nhân, kết quả cho thấy sử dụng thuốc vào ban đêm (bed time) làm giảm gần 50% các biến cố tim mạch [0.55 (95% CI 0.50–0.61), p < 0.001], cũng như các trường hợp tử vong liên quan tới bệnh tim mạch vành [0.44 (0.34–0.56)]. Sau kết quả này đã có nhiều phản biện về tính chính xác của nghiên cứu, có phải là thử nghiệm “ngẫu nhiên có đối chứng” không (trong nghiên cứu dùng từ “assigned,” thay vì “randomized”.

Gần đây, Hội tim mạch châu Âu (ESC) đã công bố nghiên cứu TIME vào 8/2022 về so sánh thời điểm dùng thuốc điều trị THA [5]. Nghiên cứu tiến hành với 21000 bệnh nhân với các yếu tố đánh giá chính các bệnh về tim mạch và tử vong có liên quan tới bệnh tim mạch. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về thời điểm dùng thuốc điều trị thuốc THA giữa ngày và đêm (0.95; 0.83–1.10; p=0.53). Một trong những nguyên nhân làm cho không có sự khác biệt là thời gian tác dụng của thuốc. Trước đây một số thuốc có thời gian tác dụng ngắn (captopril) vì vậy thời điểm dùng thuốc rất quan trọng, tuy nhiên hiện nay, có rất nhiều thuốc tác dụng kéo dài được sử dụng (amlodipin, lisinopril…) làm cho việc kiểm soát huyết áp trong 24h ổn định hơn.

Tóm lại, ngoại trừ một số nhóm gây ra bất tiện khi dùng ban đêm như thuốc lợi tiểu, việc sử dụng thuốc điều trị THA có thể dùng vào ban ngày hoặc đêm (tùy thuộc theo sự thuận tiện và tuân thủ của bệnh nhân).

Tài liệu tham khảo:

1. Williams B, Mancia G, Spiering W, et 2018 ESC/ESH Guidelines for the management of arterial hypertension. Eur Heart J. 2018;39:3021–3104.

2. Zhao P, Xu P, Wan C, Wang Z. Evening versus morning dosing regimen drug therapy for hypertension. Cochrane Database Syst Rev. 2011 Oct 5;2011(10):CD004184.

3. Serinel Y, Yee BJ, Grunstein RR, Wong KH, Cistulli PA, Arima H, Phillips CL. Chronotherapy for hypertension in obstructive sleep apnoea (CHOSA): a randomised, double-blind, placebo-controlled crossover trial. Thorax. 2017 Jun;72(6):550-558.

4. Ramón C Hermida, Juan J Crespo, Manuel Domínguez-Sardiña, Alfonso Otero, Ana Moyá, María T Ríos, Elvira Sineiro, María C Castiñeira, Pedro A Callejas, Lorenzo Pousa, José L Salgado, Carmen Durán, Juan J Sánchez, José R Fernández, Artemio Mojón, Diana E Ayala, for the Hygia Project Investigators, Bedtime hypertension treatment improves cardiovascular risk reduction: the Hygia Chronotherapy Trial, European Heart Journal, Volume 41, Issue 48, 21 December 2020, Pages 4565–4576

5. https://www.escaorg/The-ESC/Press-Office/Press-releases/Evening-dosing-of-blood- pressure-medication-not-better-than-morning- dosing?fbclid=IwAR057O1Y1sst9550C0ehT1ftmVrQLDn0TEHNChKEuEUZgXM3-fjRUTeeRDc

UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

Ung thư đại trực tràng thường gặp ở những người trên 50 tuổi, tuy nhiên tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng trong nhiều năm gần đây gia tăng nhanh ở giới trẻ. Theo số liệu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư đại trực tràng là ung thư phổ biến hàng thứ 5 tại Việt Nam sau ung thư gan, phổi, dạ dày, vú. Các khối u đại trực tràng ở bệnh nhân trẻ có tốc độ phát triển nhanh hơn những người lớn tuổi và thường được phát hiện ở giai đoạn muộn hơn. Tại Việt Nam, gần 15.000 ca mắc mới được chẩn đoán mỗi năm, hơn 7.000 ca tử vong vì ung thư đại trực tràng mỗi năm. Ung thư đại trực tràng có xu hướng tăng lên ở những người trẻ < 50 tuổi.

Hình ảnh đại trực tràng

1. Ung thư đại trực tràng là gì? Ung thư đại trực tràng phát triển như thế nào?

Ung thư đại trực tràng là bệnh ung thư bắt nguồn từ ruột kết hoặc trực tràng. Đây là căn bệnh ung thư phổ biến được chẩn đoán ở cả nam giới và nữ giới.

Thành đại tràng có cấu tạo gồm nhiều lớp. Các tế bào ung thư được hình thành từ các tế bào lót bên trong đại tràng (niêm mạc), phần lớn do sự phát triển của các polyp trong đại tràng. Theo thời gian khối ung thư xâm lấn dần vào thành đại trực tràng, những khối u này có thể xâm lấn qua các lớp khác nhau của đại tràng hoặc trực tràng và vào các mạch máu, cuối cùng là di chuyển đến các bộ phận khác trong cơ thể.

Ung thư đại trực tràng từ hình ảnh nội soi

2. Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng

Tiền sử gia đình bị ung thư đại tràng: Trong gia đình có người bị ung thư đại tràng làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng nếu thành viên đó có quan hệ gần nhất với người bệnh (cha mẹ, anh chị em, con cái), đặc biệt nếu nhiều thành viên trong gia đình bị bệnh hoặc nếu ung thư xuất hiện sớm (trước 45 tuổi)

Người đã từng bị ung thư đại tràng hoặc polyps: Những người đã từng bị ung thư đại tràng thì sẽ tăng nguy cơ tái phát bệnh. Những người đã bị polyp tuyến trước độ tuổi 60 thì cũng tăng nguy cơ phát triển ung thư đại tràng.

Độ tuổi: Có tới 90% bệnh nhân ung thư đại tràng có độ tuổi trên 50. Độ tuổi càng cao thì nguy cơ mắc ung thư đại tràng càng cao.

Lối sống: Một vài nhân tố lối sống có thể tăng nguy cơ ung thư đại tràng bao gồm:

  • Chế độ ăn có nhiều mỡ và thịt đỏ, hoặc thịt chế biến sẵn, ăn ít chất xơ.
  • Ít vận động.
  • Hút thuốc.
  • Lạm dụng rượu bia.
  • Béo phì.

Bệnh viêm ruột: Những người có bệnh Crohn đại tràng hoặc viêm loét đại tràng thì có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư đại tràng. Nguy cơ tăng lên phụ thuộc vào số lượng ổ viêm và thời gian mắc bệnh; nếu ruột già bị viêm toàn bộ và bị viêm loét 10 năm trở lên thì nguy cơ mắc ung thư rất cao.

3. Các triệu chứng của ung thư đại trực tràng.

Trong giai đoạn đầu, ung thư đại trực tràng có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện sau khi khối u phát triển vào các mô xung quanh. Một số triệu chứng điển hình bao gồm:

  • Thay đổi thói quen đại tiện (như tiểu chảy, táo bón).
  • Chảy máu hậu môn.
  • Đại tiện phân có máu (màu đỏ tươi/ sẫm hoặc đôi khi phân đen).
  • Đau bụng dai dẳng. 
  • Chán ăn.
  • Mệt mỏi, da nhợt nhạt hoặc vàng da.
  • Sụt cân không rõ nguyên nhân

4. Đối tượng nguy cơ nên tầm soát ung thư đại trực tràng.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, các đối tượng nguy cơ sau nên tầm soát ung thư đại trực tràng định kỳ:

  • Người từ độ tuổi 45 – 75 tuổi.
  • Tiền sử phát hiện polyp đại tràng, mắc ung thư đại trực tràng.
  • Người có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng.
  • Người có tiền sử bệnh lý viêm ruột

Đa số ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm KHÔNG CÓ triệu chứng rõ ràng. Việc tầm soát định kỳ có thể giúp phát hiện sớm ung thư đại trực tràng, giúp đem đến nhiều khả năng chữa khỏi bệnh. Trong nhiều trường hợp, việc tầm soát còn giúp ngăn ngừa ung thư đại trực tràng khi cắt bỏ một số pô-lýp hoặc khối u trước khi chúng có nguy cơ tiến triển thành ung thư. Nội soi sàng lọc đại trực tràng là phương pháp an toàn và hiệu quả để tầm soát, phát hiện và loại bỏ polyp tiền ung thư kịp thời.

  • Nếu phát hiện sớm, tỉ lệ sống hơn 5 năm lên tới 90%; 
  • Nếu phát hiện muộn, tỉ lệ sống hơn 5 năm chỉ còn dưới 10%

5. Tầm soát và điều trị ung thư tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) là một trong những cơ sở y tế hàng đầu tại khu vực Tây Nguyên, với trang thiết bị hiện đại tầm soát phát hiện sớm hầu hết các loại ung thư. 

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột được trang bị đầy đủ các phương tiện, trang thiết bị tiêu chuẩn Quốc tế: Máy X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) 3D, máy cắt lớp vi tính (CT) 128 lát cắt, máy siêu âm đàn hồi mô,… đặc biệt có xét nghiệm hóa mô miễn dịch, gen đột biến để tầm soát và điều trị ung thư cùng với đội ngũ chuyên gia, bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm.

Đơn vị Ung bướu Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột là Đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng các công nghệ Y học tiên tiến trong việc tầm soát ung thư sớm, cập nhật liên tục các phác đồ điều trị mới nhất, chăm sóc giảm nhẹ và điều trị ung thư phối hợp đa mô thức: phẫu thuật, hóa trị, điều trị trúng đích giúp tối ưu hóa thời gian và mang lại hiệu quả điều trị cao cho người bệnh.

Đơn vị luôn theo sát tận tình cho từng bệnh nhân từ lúc phát hiện, điều trị và sau điều trị. Các bác sĩ sẽ luôn đồng hành trong việc tư vấn điều trị, dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt để đem lại chất lượng điều trị cao nhất cho các bệnh nhân ung thư trong khu vực. Sự có mặt của Đơn vị ung bướu tại khu vực góp phần hạn chế việc bệnh nhân phải di chuyển lên tuyến trên, có thể điều trị trong điều kiện y tế chất lượng cao với chi phí hợp lý.

Lưu ý: Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

 

Đơn vị Ung bướu BUH triển khai đặt thường quy buồng tiêm truyền dưới da và đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm từ ngoại vi (PICC).

Đơn vị Ung bướu BUH triển khai đặt thường quy buồng tiêm truyền dưới da và đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm từ ngoại vi (PICC).

Đặt buồng tiêm truyền dưới da được chỉ định trong các bệnh cần tiêm truyền vào tĩnh mạch trung ương lâu dài, giúp nuôi dưỡng đường tĩnh mạch, giảm đau đớn cho người bệnh và nâng cao chất lượng điều trị bệnh.

1. Buồng tiêm truyền dưới da là gì?

Buồng tiêm dưới da là một hệ thống bao gồm ống thông (catheter) và buồng tiêm trong đó ống thông được đặt vào tĩnh mạch lớn (tĩnh mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch cánh tay) và buồng tiêm được cấy hoàn toàn vào mô dưới da, nơi dễ sờ thấy nhằm mục đích tạo điều kiện có thể tiếp cận với vòng tuần hoàn chung một cách thuận lợi, dễ dàng và lặp đi lặp lại nhiều lần. Buồng tiêm dưới da được chỉ định chủ yếu cho những bệnh nhân cần tiến hành hóa trị liệu. 

Có nhiều loại buồng tiêm dưới da: một buồng hoặc hai buồng, chất liệu có thể khác nhau (bằng titan, bằng titan và nhựa dẻo, hoàn toàn bằng nhựa dẻo…). Tất cả các loại buồng tiêm được cấy ghép, sử dụng và chăm sóc giống nhau.

2. Khi nào cần đặt buồng tiêm truyền dưới da?

Buồng tiêm dưới da thường được chỉ định trong các trường hợp phải truyền dịch hay thuốc vào tĩnh mạch lâu dài, trong khi các tĩnh mạch nhỏ của cơ thể không dùng được nữa như:

  • Bệnh nhân ung thư cần được truyền hóa chất lặp đi lặp lại nhiều lần và thuốc hóa trị có thể gây tổn thương tĩnh mạch hoặc tạo huyết khối.
  • Bệnh nhân đang gặp vấn đề liên quan đến hệ tiêu hóa hoặc tiên lượng không tốt, cần phải bổ sung dinh dưỡng phối hợp ở giai đoạn hậu phẫu và lâu dài sau khi tiến hành hóa trị, xạ trị.
  • Bệnh lý ung thư đã được điều trị ổn định, dự kiến cần sử dụng buồng truyền hóa chất để chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ điều trị đau với những trường hợp có tiên lượng sống trên 3 tháng;
  • Cần truyền thuốc vào tĩnh mạch trung tâm, truyền máu, truyền dịch lâu dài cho bệnh nhân trong khoảng thời gian từ 3 đến 10 năm.
  • Trẻ em hoặc người lớn cần nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn.

3. Ưu điểm của kỹ thuật đặt buồng tiêm truyền dưới da.

  • Đặt buồng tiêm dưới da dưới hướng dẫn của siêu âm sẽ đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật và tránh được những biến chứng so với đặt mù.
  • Giảm bớt số lần bệnh nhân bị đâm kim vào người do khó khăn trong việc truyền tĩnh mạch ngoại vi.
  • Hệ thống nằm hoàn toàn dưới da, lúc không cần tiếp cận, không có ống nằm ngoài cơ thể nên rất thuận tiện, ít nhiễm trùng và thẩm mỹ.
  • Buồng tiêm có thể chịu được số lần đâm rất lớn từ 1000 – 3600 lần nhưng cần phải sử dụng loại kim chuyên biệt.

4. Cách chăm sóc buồng tiêm?

Sau khi đặt buồng tiêm và vết mổ đã lành, bạn có thể trở lại các hoạt động thường ngày, như làm việc nhà, đi làm và tập thể dục. Bạn có thể bơi lội với buồng tiêm miễn là không có kim tiêm tại chỗ. Không chơi các môn thể thao tiếp xúc, như bóng đá hoặc bóng bầu dục, nhưng có thể chạy bộ.

Buồng tiêm cần được chăm sóc tối thiểu giữa các lần sử dụng vì nó nằm hoàn toàn dưới da. Không cần chăm sóc đặc biệt vùng da trên buồng tiêm. Bạn có thể rửa vùng da này như bình thường.

Buồng tiêm cần được điều dưỡng tráng rửa mỗi 4 tuần khi không sử dụng. Điều này được thực hiện nhằm đảm bảo ống thông không bị tắc nghẽn. Nếu bị tắc nghẽn, buồng tiêm có thể không hoạt động được nữa và cần phải rút ra.

5. Đơn vị Ung bướu BUH triển khai đặt thường quy buồng tiêm truyền dưới da

Tại Đơn vị Ung Bướu – Khoa Ngoại Tổng Hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) đã triển khai đặt buồng tiêm truyền dưới da cho các bệnh cần tiêm truyền vào tĩnh mạch trung ương lâu dài, giúp nuôi dưỡng đường tĩnh mạch và giảm đau đớn cho người bệnh khi điều trị.

Trước đây, bệnh nhân điều trị ung thư bằng hóa chất thường xảy ra tình trạng viêm xơ cứng mạch… do các loại thuốc hóa trị gây kích ứng da, mô và tĩnh mạch ngoại vi. Việc tiêm truyền vào tĩnh mạch lúc này lại càng khó khăn hơn. Người bệnh bị ung thư phải hoá trị nhiều đợt, mỗi đợt kéo dài nhiều giờ, hay những bệnh nhân điều trị giảm nhẹ là những đối tượng được chỉ định tiến hành đặt buồng tiêm truyền để dễ dàng, thuận lợi trong việc tiêm truyền vì chỉ cần chọc kim vào buồng tiêm dưới da này là có thể tiêm thuốc hoặc lấy máu. Việc đặt buồng tiêm truyền dưới da cho người bệnh đã và đang góp phần đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh ung thư, nâng cao chất lượng điều trị cho các bệnh nhân tại khu vực.

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

TÁCH TIỂU CẦU BẰNG MÁY TỰ ĐỘNG HIỆN ĐẠI TẠI BUH

TÁCH TIỂU CẦU BẰNG MÁY TỰ ĐỘNG HIỆN ĐẠI TẠI BUH

Tách tiểu cầu chất lượng cao cho các trường hợp diễn tiến nguy hiểm cần phải truyền tiểu cầu

Tiểu cầu là loại tế bào quan trọng trong máu, chức năng chính của tiểu cầu là thực hiện quá trình đông cầm máu. Khối tiểu cầu là một loại chế phẩm, loại thuốc rất đặc biệt được điều chế từ nhiều đơn vị máu toàn phần hoặc từ gạn tách tiểu cầu trực tiếp của một người hiến. Chế phẩm này được sử dụng cho điều trị và dự phòng các biểu hiện chảy máu do giảm số lượng và chất lượng tiểu cầu.

Một số trường hợp được Bác sĩ chỉ định truyền tiểu cầu:

– Phòng ngừa xuất huyết

– Bệnh nhân đang chảy máu hoặc chuẩn bị có phẫu thuật xâm lấn

– Rối loạn chức năng tiểu cầu

– Phòng ngừa cho bệnh nhân sốt, nhiễm trùng huyết trước đó

– Bệnh lý đông cầm máu và tiểu cầu giảm nhanh

– Bệnh nhân loạn sinh tủy hoặc suy tủy khi có xuất huyết (…)

BUH ứng dụng điều trị các trường hợp trên bằng khối tiểu cầu được gạn tách từ một người hiến bằng hệ thống máy tách tiểu cầu tự động. Máy tách thành phần máu tự động MCS+ của hãng Haemonetics là một hệ thống tự động và khép kín, thành phần máu được phân tách riêng biệt nhờ quá trình ly tâm máu với những ưu điểm vượt trội sau:

Đối với người được hiến:

– Hiệu suất thu tiểu cầu cao

– Tiểu cầu thu được từ quá trình phân tách có chức năng tiểu cầu tốt hơn so với các sản phẩm thu được từ máu toàn phần.

– Khối tiểu cầu gạn tách giúp giảm thiểu tình trạng người bệnh phơi nhiễm với nhiều loại kháng nguyên bạch cầu từ nhiều người hiến máu, hạn chế tình trạng đồng miễn dịch với bạch cầu.

Đối với người hiến:

– Sau khi phân tách, huyết tương và hồng cầu được trả lại người hiến.

– Tùy chọn bù muối để bổ sung cho lượng dung dịch mất trong quá trình hiến tặng

Vừa qua, BUH có tiếp nhận bệnh nhân H.M.T sốt ngày thứ 2, nhức mỏi, mệt nhiều. Đến ngày thứ 5 BN đã không còn sốt nữa nhưng mệt mỏi và kèm theo các triệu chứng: đau bụng thượng vị và vùng gan liên tục, chảy máu chân răng. BN được các Bác sĩ Khoa Nội Tổng Hợp chẩn đoán sốt xuất huyết dengue ngày 5 có dấu hiệu cảnh báo (chảy máu chân răng). BN nhập viện với tình trạng chỉ số tiểu cầu thấp 7.0 K/uL, men gan tăng nhẹ. 

Tại Khoa, BN được theo dõi liên tục theo phác đồ Bộ Y Tế về các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng. BN được chỉ định truyền khối tiểu cầu và các phương pháp cầm máu tại chỗ, bù nước…. Sau 4 ngày điều trị, BN đã ổn định, hết chảy máu chân răng, hết đau bụng, chỉ số tiểu cầu xu hướng tăng về mức an toàn nên được BS chỉ định xuất viện.

Tại BUH, việc điều trị cho BN đều có sự phối hợp giữa các liên chuyên khoa nhằm nhằm can thiệp kịp thời, mang lại kết quả điều trị cao nhất cho bệnh nhân. Khoa Xét Nghiệm BUH được đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ để cung cấp đầy đủ các loại xét nghiệm từ cơ bản đến chuyên sâu với đầy đủ các lĩnh vực (Huyết học – Truyền máu; Sinh Hóa – Miễn dịch; Vi sinh – Sinh học Phân tử; Giải phẫu bệnh) để phục vụ và hỗ trợ tốt nhất cho công tác khám, chữa bệnh.

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

 

Hẹp bao quy đầu: Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị

Hẹp bao quy đầu: Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị

Hẹp bao quy đầu (Phimosis) là tình trạng miệng bao quy đầu chít hẹp, không thể tuột khỏi quy đầu dương vật ngay cả khi dương vật cương cứng. Đây là tình trạng thường gặp ở hầu hết trẻ nhỏ và số ít người lớn giới tính nam. 80% trường hợp hẹp bao quy đầu có thể tự khỏi khi lớn lên và không cần xử trí trước sáu tuổi. Trong các trường hợp này, bao quy đầu được coi là bình thường hay còn gọi là hẹp bao quy đầu sinh lý. Ở tuổi lớn hơn, nếu bao quy đầu vẫn còn hẹp, tức là hẹp thật sự hay hẹp bệnh lý thì cần phải can thiệp.

Hẹp bao quy đầu là gì?

Hẹp bao quy đầu (Phimosis) là tình trạng miệng bao quy đầu chít hẹp, không thể tuột khỏi quy đầu dương vật ngay cả khi dương vật cương cứng. Gồm 2 loại:

  • Hẹp bao quy đầu sinh lý thường gặp ở trẻ nhỏ (dưới 4 tuổi): Bao quy đầu không tuột trong suốt của quá trình phát triển sinh lý bình thường. Trong trường hợp này, bác sĩ sẽ ưu tiên các biện pháp bảo tồn không xâm lấn, hướng dẫn bố mẹ lộn bao quy đầu cho trẻ mỗi khi đi tắm. Hoặc nếu không, bố mẹ có thể đưa trẻ đến cơ sở y tế chuyên khoa để bác sĩ can thiệp.
  • Hẹp bao quy đầu bệnh lý: Đây là trường hợp xảy ra do các bệnh lý như: Bệnh sừng hóa gây xơ teo bao quy đầu, viêm quy đầu bạch sản xơ hóa, sẹo do dùng sức để tuột bao quy đầu lên trước đó… Để điều trị dứt điểm cần phải đến các cơ sở y tế để Bác sĩ thăm khám.

80% trường hợp hẹp bao quy đầu có thể tự khỏi khi lớn lên và không cần xử trí trước sáu tuổi. Trong các trường hợp này, bao quy đầu được coi là bình thường hay còn gọi là hẹp bao quy đầu sinh lý. Ở tuổi lớn hơn, nếu bao quy đầu vẫn còn hẹp, tức là hẹp thật sự hay hẹp bệnh lý thì cần phải xử trí.

Các triệu chứng của hẹp bao quy đầu cần phải can thiệp

Triệu chứng nguy hiểm của hẹp bao quy đầu điển hình như: miệng bao quy đầu sẽ chít hẹp, hình dáng dương vật bất thường, làm nước tiểu ứ đọng, vệ sinh khó khăn, dễ gây viêm nhiễm quy đầu, da quy đầu, đường tiết niệu, ảnh hưởng đến thận.

  • Dấu hiệu hẹp bao quy đầu ở trẻ nhỏ còn có đặc điểm riêng biệt là bé đau đớn, khóc thét mỗi khi tiểu tiện, mỗi lần tiểu, bé phải rặn và đỏ mặt, thường xuyên nhịn tiểu, bao quy đầu sưng phồng, chảy mủ hay chảy dịch bất thường…
  • Biểu hiện hẹp bao quy đầu ở người lớn có thể khiến hình dạng dương vật biến đổi, cong, vênh phát triển bất thường, nam giới đau đớn khi quan hệ tình dục hoặc khi dương vật cương cứng, thậm chí không thể quan hệ tình dục được…  

Trong trường hợp, da quy đầu tuột lên nhưng không đưa về vị trí bình thường được, tạo thành vòng thắt sẽ siết chặt quy đầu làm da quy đầu sưng nề, gây đau, gọi là hẹp nghẹt da quy đầu.

Điều trị hẹp bao quy đầu

Có nhiều cách chữa hẹp bao quy đầu bao gồm phương pháp bảo tồn không xâm lấn (dùng thuốc, nong hoặc kéo da bao quy đầu) và phương pháp cắt bao quy đầu. Các biện pháp điều trị hẹp bao quy đầu khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi của nam giới và mức độ nặng nhẹ của bệnh. Đối với trẻ em, bác sĩ sẽ ưu tiên các phương pháp bảo tồn không xâm lấn trước. Nếu là người lớn bác sĩ thường khuyến nghị làm tiểu phẫu cắt bao quy đầu.

Cắt bao quy đầu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột.

Hiện nay, Tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột áp dụng 2 phương pháp cắt bao quy đầu phổ biến là: phương pháp truyền thống và cắt bằng máy.

1. Quy trình cắt bao quy đầu theo phương pháp truyền thống

Bác sĩ phẫu thuật sẽ sử dụng dao, kéo để cắt bỏ bỏ lớp da thừa ở bao quy đầu, dùng chỉ khâu phần bao quy đầu còn lại sau khi cắt. Các bước thực hiện cụ thể như sau:

  • Bác sĩ sẽ định hình vết cắt bao quy đầu. Sử dụng kìm y tế để tách vùng da bao quy đầu bị dính với dương vật, rồi đánh dấu giới hạn điểm cần cắt bao quy đầu.
  • Bác sĩ sẽ dùng dao cắt cầm máu và các dụng cụ y tế khác để loại bỏ lớp da thừa ở bao quy đầu.
  • Nhanh chóng cầm máu cho vết mổ để người bệnh không bị mất quá nhiều máu.
  • Khâu vết mổ bằng chỉ tự tiêu.
  • Quấn gạc ở đầu dương vật để cầm máu và bảo vệ vết khâu.

2. Quy trình cắt bao quy đầu bằng máy Surkon Stapler

Với phương pháp này, bác sĩ sẽ sử dụng cụ cắt nối tự động (máy Surkon – công nghệ Stapler – hay còn gọi là máy dập ghim) để cắt bao quy đầu.

  • Phương pháp cắt bao quy đầu bằng máy được thực hiện nhanh chóng, đơn giản, vết mổ thẩm mỹ hơn. Thời gian cắt và khâu tự động bằng ghim bấm chỉ trong vòng 30 – 60 giây. Ghim bấm sẽ tự động bong trong vòng 7 – 10 ngày, không cần quay lại bệnh viện nếu không có gì bất thường.
  • Máy cắt được sử dụng 1 lần cho 1 bệnh nhân, tránh lây nhiễm tuyệt đối, được nhiều người bệnh người lựa chọn. Tuy nhiên, chi phí cắt bao quy đầu theo phương pháp này sẽ cao hơn phương pháp truyền thống,

Mặc dù, cắt bao quy đầu là một tiểu phẫu, ít chảy máu, vết thương mau lành, người bệnh có thể ra viện sau 4 – 6 giờ nằm theo dõi tại bệnh viện. Tuy nhiên, vẫn sẽ có những biến chứng như chảy máu, dính quy đầu và các cầu da, hẹp lỗ tiểu, chấn thương dương vật,… Vì vậy, bệnh nhân cần tới thăm khám và điều trị tại các cơ sở y tế uy tín với các bác sĩ chuyên khoa đầy đủ năng lực và trang thiết bị hiện đại để đảm bảo việc điều trị diễn ra an toàn, hiệu quả, tránh các biến chứng về sau.

Tại Khoa Ngoại Tổng Hợp BUH, phương pháp phẫu thuật cắt bao quy đầu đã và đang được thực hiện với chi phí hợp lý, mang lại hiệu quả cao cho nhiều trường hợp bệnh nhân nhờ đội ngũ bác sĩ chuyên môn giàu kinh nghiệm, trang thiết bị hiện đại và hệ thống phòng mổ vô khuẩn một chiều. 

Khoa Ngoại Tổng Hợp BUH sở hữu đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm, được đào tạo trình độ sau đại học và học tập các kỹ thuật chuyên sâu ở các trường đại học và trung tâm lớn trong và ngoài nước. Là một trong các chuyên khoa trọng điểm, Khoa thực hiện đầy đủ các phẫu thuật từ tổng quát đến chuyên sâu, chuyên phẫu thuật cấp cứu, phẫu thuật và điều trị các bệnh lý ngoại khoa bao gồm: phẫu thuật tiêu hóa, lồng ngực – mạch máu, tiết niệu, chấn thương chỉnh hình, sọ não – cột sống, phẫu thuật và điều trị các bệnh lý ung thư. 

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

SỰ THAY ĐỔI NIÊM MẠC DẠ DÀY LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI)niêm mạc

SỰ THAY ĐỔI NIÊM MẠC DẠ DÀY LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI)

Thuốc ức chế bơm proton (PPI), được ra đời vào cuối những năm 1980 cho tới nay, nó được sử dụng trên toàn thế giới để điều trị các rối loạn liên quan đến acid như loét dạ dày tá tràng và bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Nó cũng đã được sử dụng dự phòng để ngăn ngừa tổn thương niêm mạc dạ dày tá tràng do thuốc chống viêm không steroid (NSAID).

PPI là một trong những thuốc thương xuyên được sử dụng trong điều trị loét dạ dày-tá tràng và được cho là có tác dụng ức chế tiết acid dạ dày mạnh nhất trong các thuốc điều trị hiện nay. Mặc dù được biết tới với hiệu quả cao và độc tính thấp, tuy nhiên vì số lượng thuốc được sử dụng nhiều trên toàn cầu, chính vì vậy hiệu quả điều trị và tác dụng không mong muốn của thuốc vẫn luôn được theo dõi và cập nhật.

Nhìn chung, PPI tương đối an toàn khi sử dụng ngắn hạn, các tác dụng phụ thường nhẹ và thường biến mất mà không để lại hậu quả nghiêm trọng nào. Tuy nhiên khi sử dụng dài hạn, một số tác dụng không mong muốn đã được đề cập như: thiếu máu hống cầu to, gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn trên đường hô hấp, giảm hấp thu calci. Một trong những nghiên cứu gần đây của Kim G. H. và cộng sự (2021) cung cấp thêm những bằng chứng về những thay đổi về mô bệnh học khi sử dụng PPI lâu dài như: Sự nhô lên của tế bào thành vào lòng tuyến, sự giãn nở nang của các tuyến cơ dạ dày và tăng sản biểu mô phế nang. Những thay đổi này có thể phát hiện khi người bệnh khám nội soi.

Nguyên nhân được đề xuất là PPI làm tăng nồng độ của gastrin, là hormon có tác dụng làm tăng sinh tế bào thành và tế bào ECL, do đó khi sử dụng PPI trong thời gian dài có thể hình thành polyp ở đáy và thân vị.

Gần đây, một số thuốc mới được phát triển và đưa vào sử dụng như Vonoprazan, thuốc ức chế tiết acid với cơ chế cạnh tranh với ion kali trên bơm

proton (P-CAB), thuốc được cho là có tác dụng ức chế tiết acid dạ dày mạnh hơn PPI đã được đánh giá trên lâm sàng. Mặc dù mối liên hệ giữa những thay đổi mô bệnh học như trên và việc sử dụng P-CAB vẫn chưa được xác lập có mối liên quan không, nhưng có khả năng những người sử dụng P-CAB lâu dài cũng có thể có những thay đổi niêm mạc dạ dày tương tự như được quan sát thấy ở những người dùng PPI lâu dài.

Tóm lại, với số lượng sử dụng PPI ngày càng tăng, việc nội soi xác định những thay đổi niêm mạc này là rất quan trọng khi sử dụng thuốc lâu dài. Ngược lại, việc xác định được những bệnh nhân có sử dụng PPI lâu dài dựa vào kết quả nội soi cũng đang được đánh giá.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Y Tế (2018). Dược thư quốc gia Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, tr. 1081-1082

[2]. Kim, G. H. (2021). Proton pump inhibitor-related gastric mucosal changes. Gut and Liver, 15(5), 646. [3]. Heidelbaugh, J. J., Kim, A. H., Chang, R., & Walker, P. C. (2012). Overutilization of proton-pump inhibitors: what the clinician needs to know. Therapeutic advances in gastroenterology, 5(4), 219-232.

Điểm tin: Tổ Thông tin thuốc – Dược lâm sàng, Khoa Dược

CẬP NHẬT MỚI TRONG PHÁC ĐỒ HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ SUY TIM CẤP VÀ MẠN CỦA BỘ Y TẾ NĂM 2022chấ

CẬP NHẬT MỚI TRONG PHÁC ĐỒ HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ SUY TIM CẤP VÀ MẠN CỦA BỘ Y TẾ NĂM 2022

Ngày 05/07/2022, Bộ Y tế có ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim cấp và mạn, trong đó có nhiều điểm cập nhật, thay đổi so với Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tính Bộ Y tế đã ban hành vào năm 2020.

1. Định nghĩa

Trong phác đồ năm 2022, định nghĩa suy tim thay đổi so với trước đây: “Suy tim là một hội chứng lâm sàng do biến đổi cấu trúc và/hoặc chức năng của tim do nhiều nguyên nhân và bệnh học khác nhau. Hậu quả là tăng áp lực trong buồng tim và/hoặc giảm cung lượng tim khi gắng sức hay khi nghỉ”.

Thêm vào đó, trong phác đồ mới có bổ sung thêm định nghĩa về suy tim cấp và suy tim mạn: “Suy tim được chia thành hai thể: suy tim mạn và suy tim cấp. Suy tim mạn đề cập đến những bệnh nhân đã được chẩn đoán và đang điều trị suy tim ổn định hoặc những người bệnh có triệu chứng suy tim khởi phát từ từ. Khi suy tim diễn biến nặng lên còn gọi là suy tim “mất bù” thường khiến bệnh nhân phải nhập viện và sử dụng các thuốc đường tĩnh mạch, giai đoạn này người ta định nghĩa là suy tim cấp.”

2. Chẩn đoán

Sơ đồ chẩn đoán suy tim được cập nhật lại, nhìn chung không có nhiều thay đổi so với sơ đồ trong năm 2020.

Hình 1. Sơ đồ chẩn đoán suy tim (C: có; K: không)

3. Phòng ngừa tiên phát suy tim ở người bệnh có yếu tố nguy cơ phát triển suy tim

Đây là một nội dung mới trong phác đồ năm 2022.

Điều trị tăng huyết áp được khuyến cáo nhằm phòng ngừa hoặc làm chậm khởi phát suy tim, và phòng ngừa nhập viện vì suy tim.

Điều trị với statin được khuyến cáo ở bệnh nhân nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch hoặc đã có bệnh tim mạch nhằm phòng ngừa hoặc làm chậm khởi phát suy tim và phòng ngừa nhập viện vì suy tim.

Các thuốc SGLT2i (canagliflozin, dapagliflozin, empagliflozin) được khuyến cáo ở bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ cao bệnh tim mạch hoặc ở bệnh nhân có bệnh tim mạch nhằm phòng ngừa nhập viện vì suy tim.

Tránh lối sống tĩnh tại, béo phì, ngưng hút thuốc lá, hạn chế uống rượu bia quá mức được khuyến cáo để phòng ngừa hoặc làm chậm khởi phát suy tim.

4. Điều trị suy tim phân suất tống máu giảm và các nhóm thuốc thường dùng

Hình 1. Điều trị suy tim phân suất tống máu giảm dựa trên kiểu hình của bệnh

Điểm mới lớn nhất trong Hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2022 chính là bổ sung nhóm thuốc ức chế đồng vận Natri – glucose 2 (SGLT2i) gồm 2 thuốc là Dapagliflozin và Empagliflozin vào các nhóm thuốc cần thiết trong điều trị suy tim. “4 trụ cột” bao gồm:

1. Ức chế men chuyển – ACE-I, hoặc ức chế thụ thể angiotensin – ARB) hoặc ức chế kép Neprilysin và Angiotensin – ARNI;

2. Chẹn beta giao cảm;

3. Thuốc lợi tiếu kháng Aldosteron (MRA);

4. SGLT2i

ARNI được lựa chọn ở bệnh nhân NYHA II-III, ACE-I hoặc ARB được chỉ định ở bệnh nhân NYHA từ II-IV. ACE-I được chỉ định trong những tình huống không có khả năng dùng ARNI. ARB nên được dùng khi người bệnh không dung nạp được với ACE-I hoặc không có khả năng dùng ARNI. Cần lưu ý chỉ dùng 1 thuốc duy nhất đại diện cho mỗi nhóm trong phác đồ (ví dụ: chỉ dùng 1 thuốc hoặc ACEi hoặc ARNI hoặc ARB).

Nhóm SGLT2i có tác dụng giảm tái hấp thu/tăng thải glucose và natri. Hai thuốc trong nhóm này là dapagliflozin hoặc empagliflozin được khuyến cáo chỉ định bất kể người bệnh có kèm đái tháo đường hay không. Chưa có dữ liệu với các thuốc ức chế SGLT2 khác.

Ngoại trừ nhóm SGLT2i được sử dụng với liều cố định, người bác sĩ thực hành luôn cần lưu ý điều chỉnh các nhóm thuốc ARNI hoặc ACEi hoặc ARB, chẹn beta. Bên cạnh 4 nhóm thuốc “trụ cột”, cần dùng thuốc lợi tiểu quai trong trường hợp bệnh nhân có dấu hiệu ứ trệ dịch.

Một số nhóm thuốc khác cũng đã được chứng minh hiệu quả trong điều trị suy tim phân suất tống máu giảm như: Thuốc lợi tiểu (ngoài nhóm kháng aldosteron), glucosid trợ tim (Digoxin), thuốc chẹn kênh F (Ivabradin), thuốc kết hợp hydralazin và isosorbid dinitrat.

5. Hướng dẫn CĐ và ĐT suy tim cấp

Bên cạnh HD CĐ và ĐT suy tim mạn, Bộ Y tế còn đề cập vấn đề suy tim cấp.

5.1. Chẩn đoán suy tim cấp

a: Xét nghiệm cơ bản gồm troponin, creatinine máu, điện giải đồ, TSH, chức năng gan, D-dimer khi nghi ngờ tắc động mạch phổi và procalcitonin khi nghi ngờ nhiễm trùng, khí máu động mạch nếu có suy hô hấp và lactate máu nếu có giảm tưới máu cơ quan.

b: CLS đặc biệt khác gồm: chụp động mạch vành nếu nghi ngờ hội chứng động mạch vành cấp, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có cản quang nếu nghĩ đến tắc động mạch phổi.

c: Giá trị chẩn đoán suy tim cấp của NT- proBNP khi >450 pg/mL nếu 900 pg/mL nếu từ 55 đến 75 tuổi; >1,800 pg/mL nếu >75 tuổi.

5.2. Điều trị suy tim cấp

Bảng 1. Các biện pháp điều trị trong suy tim cấp

Biện pháp

điều trị

Ghi chú

Oxy liệu pháp

Khi SpO2 < 90% hoặc PaO2 < 60 mmHg.

Thuốc lợi tiểu quai

Thuốc lợi tiểu quai furosemid là nền tảng trong điều trị suy tim sung huyết. Sử dụng đường tĩnh mạch càng sớm càng tốt sau khi có chẩn đoán suy tim.

Liều furosemid tĩnh mạch nên tương đương 1 – 2 lần liều uống hàng ngày trước khi nhập viện đối với người đang dùng lợi tiểu đường uống. Nếu người bệnh chưa dùng furosemid thì nên khởi đầu bằng liều 20 – 40 mg tiêm tĩnh mạch. Liều tối đa lợi tiểu quai (tĩnh mạch) hàng ngày thường 400 – 600 mg, có thể lên đến 1,000 mg ở bệnh nhân suy chức năng thận nặng.

 

Cần đánh giá natri niệu sau 2 giờ hoặc tổng lượng nước tiểu sau 6 giờ để hiệu chỉnh liều.

Thuốc giãn mạch

Thuốc giãn mạch đường tĩnh mạch chỉ nên được chỉ định trong trường hợp suy tim cấp do cơn tăng huyết áp hoặc suy tim cấp có huyết áp tâm thu ≥ 110 mmHg. Trong các trường hợp khác, vai trò của thuốc giãn mạch không tốt hơn so với điều trị thường quy bằng lợi tiểu quai đường tĩnh mạch.

Cần theo dõi huyết áp, tình trạng lâm sàng khi sử dụng thuốc giãn mạch đường tĩnh mạch.

Thuốc tăng co bóp cơ tim và thuốc tăng co mạch

Chỉ định trong thời gian ngắn, sử dụng trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ gây tổn thương cơ tim. Nên chỉ định thuốc sớm khi người bệnh có tụt huyết áp hoặc có dấu hiệu giảm tưới máu mô trong khi đủ khối lượng tuần hoàn. Không chỉ định thường quy các thuốc tăng co bóp cơ tim và thuốc tăng co mạch. Nên sử dụng liều thấp thuốc tăng co bóp cơ tim kết hợp với thuốc tăng co mạch hơn là tăng liều đơn độc một thuốc.

Noradrenalin có thể ưu thế hơn so với dopamin trong trường hợp sốc tim.

Digoxin

Chỉ định khi bệnh nhân suy tim cấp có rung nhĩ đáp ứng tần số thất nhanh (>110 CK/phút).

Liều lượng: nếu bệnh nhân chưa sử dụng digoxin trước đó thì có thể tiêm tĩnh mạch 0,25 – 0,5 mg digoxin. Nếu bệnh nhân cao tuổi hoặc có bệnh nội khoa kèm theo (ví dụ bệnh thận mạn tính) thì cân nhắc dùng liều digoxin thấp hơn.

Morphin

Không sử dụng morphin thường quy trong điều trị suy tim cấp do thuốc làm tăng nguy cơ thở máy xâm nhập, tăng nguy cơ tử vong tại viện và tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân.

Morphin chỉ nên cân nhắc chỉ định trong trường hợp người bệnh khó thở hoặc đau nhiều và không cải thiện bằng các phương pháp điều trị khác.

Ngoài ra còn có các biện pháp can thiệp khác trong suy tim cấp như:

– Các biện pháp hỗ trợ cơ học ngắn ngày: ECMO, IABP, LVAD… được chỉ định như là biện pháp bắc cầu nối chờ các can thiệp tích cực hơn hoặc chờ cơ tim hồi phục

– Siêu lọc thận (CRRT: continuous renal replacement therapy) không khuyến cáo thường quy, thường được chỉ định khi không đáp ứng với điều trị lợi tiểu, tăng kali máu nặng (>6,5mmol/L), toan máu nặng (pH<7,2), urea>25mmol/L và creatinine máu>300 umol/L.

Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bằng Heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc các thuốc chống đông khác trừ khi có chống chỉ định hoặc không cần thiết.

– Điều trị phẫu thuật hoặc can thiệp.

6. Bảng liều và lưu ý của các thuốc trong điều trị suy tim

Bảng 2. Liều lượng các thuốc điều trị suy tim PSTM giảm đã được nghiên cứu chứng minh và một số lưu ý khi sử dụng

Thuốc

Liều khởi đầu

Liều đích

Lưu ý

Ức chế men chuyển ACEi

Captopril

6,25 mg, ngày 3 lần

50mg, ngày 3 lần

Chống chỉ định và thận trọng: Huyết áp thấp, hẹp động mạch thận 2 bên, phụ nữ có thai

Enalapril

6,25 mg, ngày 3 lần

10-20 mg ngày 2 lần

Lisinopril

2,5-5 mg, ngày 1 lần

20-35 mg, ngày 1 lần

Peridopril

2,5-5 mg, ngày 1 lần

10-20 mg, ngày 1 lần

Ramipril

2,5 mg, ngày 2 lần

5 mg, ngày 2 lần

Trandolapril

0,5 mg, ngày 1 lần

4 mg, ngày 1 lần

ARNI

Sacubitril/Val

sartan

49/51 mg, ngày 2 lần

97/103 mg, ngày 2

lần

Chống chỉ định và thận

trọng: tiền sử phù mạch với thuốc ACEI, suy thận, hẹp động mạch thận hai bên, phụ nữ có thai,…

Cần lưu ý ngưng thuốc ACEi ít nhất 36 giờ (nếu đang dùng) trước khi khởi trị thay thế bằng

ARNI

Chẹn beta giao cảm

Bisoprolol

1,25 mg, ngày 1 lần

10 mg, ngày 1 lần

Lợi ích của chẹn beta giao cảm xuất hiện chậm và lâu dài. Cần dùng liều thấp khi khởi trị, sau đó tăng dần.

Chống chỉ định: suy tim đang ở giai đoạn mất bù, nhịp chậm, hen phế quản.

Carvedilol

3,125 mg, ngày 1 lần

25 mg, ngày 2 lần

Metoprololsu

ccinat (CR/XL)

12,5-25 mg, ngày 1 lần

200 mg, ngày 1 lần

Nebivolol

1,25 mg, ngày 1 lần

10 mg, ngày 1 lần

Thuốc ức chế thụ thể Mineralocorticoid (MRA)

Spironolacton

25 mg, ngày 1 lần

50 mg, ngày 1 lần

Chống chỉ định và thận

trọng: Suy thận nặng, tăng kali máu.

Ức chế kênh đồng vận chuyển SGLT2 (SGLT2i)

Thuốc

Liều khởi đầu

Liều đích

Lưu ý

Dapagliflozin

10 mg, ngày 1 lần

Chống chỉ định và thận trọng: chống chỉ định ở bệnh nhân suy thận nặng (eGFR             < 30

ml/phút/1,73 m2 da hoặc ClCr < 30 ml/phút). Tình trạng giảm nhẹ mức lọc cầu thận ngay sau khi khởi trị có thể gặp và thường phục hồi tốt.

Empagliflozin

10 mg, ngày 1 lần

Ức chế thụ thể AT1 Angiotensin II (ARB)

Candesartan

4 mg, ngày 1 lần

32 mg, ngày 1 lần

Được chỉ định khi bệnh nhân không dung nạp với thuốc ACE-I hoặc không có khả năng điều trị với ARNI. Chống chỉ định và thận trọng: tương tự như thuốc

ACE-I.

Losartan

50 mg, ngày 1 lần

150 mg, ngày 1 lần

Valsartan

40 mg, ngày 2 lần

160 mg, ngày 1 lần

Các thuốc khác

Ivabradin

5 mg, ngày 2 lần

7,5 mg, ngày 2 lần

CCĐ: nhịp tim chậm

Digoxin

62.5 µg, ngày 1 lần

250 µg, ngày 1 lần

Chỉ định:

Suy tim với cung  lượng

tim thấp, bệnh cơ tim giãn    có    nhịp    xoang

Thuốc

Liều khởi đầu

Liều đích

Lưu ý

   

nhanh; suy tim kèm theo các rối loạn nhịp trên thất, đặc biệt là rung nhĩ hay cuồng nhĩ với đáp ứng tần số thất nhanh.

Chống chỉ định: Nhịp tim chậm, rối loạn nhịp thất, hội chứng Wolff – Parkinson–White, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn, hẹp van động mạch chủ hoặc hẹp van động mạch

phổi nặng

Hydralazine/I sosorbid dinitrat

37,5mg/20mg, ngày 3 lần

75 mg/40 mg, ngày 3 lần

Điều trị thay thế cho nhóm ức chế men chuyển trong trường hợp không dung nạp hoặc có

chống chỉ định

Bảng 3. Thuốc lợi tiểu khác MRA trong điều trị suy tim mạn

Thuốc

Liều khởi đầu

Liều tối đa

Chu kỳ dùng

Lợi tiểu quai

Furosemid

20 – 40 mg ngày 1 hoặc 2 lần

600 mg

6 – 8 giờ

Bumetanid

0,5–1,0 mg ngày 1 hoặc 2 lần

10 mg

4 – 6 giờ

Torsemid

10–20 mg ngày 1 lần

200 mg

12 – 16 giờ

Lợi tiểu nhóm Thiazid

Hydrochlorothiazid

25 mg ngày 1 hoặc 2 lần

100 mg

6 – 12 giờ

Indapamid

2.5 mg ngày 1 lần

5 mg

36 giờ

Metolazon

2.5 mg ngày 1 lần

20 mg

12 – 24 giờ

Lợi tiểu giữ kali

   

Amilorid

5,0 mg ngày 1 lần

20 mg

24 giờ

Thuốc đối kháng Arginine Vasopressin

Tolvaptan

15 mg ngày 1 lần

60 mg

 

Tài liệu tham khảo:

[1]. Quyết định số 1857/QĐ-BYT ngày 05 tháng 7 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim cấp và mạn”.

[2]. Quyết định số 1762/QĐ-BYT ngày 17 tháng 04 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tính”

Tổng hợp: Tổ Thông tin thuốc – Dược lâm sàng, Khoa Dược.

VIÊM MŨI XOANG DO NẤM

VIÊM MŨI XOANG DO NẤM

BSCKII. Nguyễn Hữu Diệu – Trưởng Liên chuyên khoa Tai Mũi Họng BUH cho biết, Viêm mũi xoang do nấm là tình trạng viêm mũi xoang với sự hiện diện của nấm gây tổn thương niêm mạc và tổ chức xung quanh. Bệnh lý này chiếm khoảng 10% các ca bệnh viêm xoang trên toàn thế giới. Nguyên nhân thường gặp là do hít phải các bào tử nấm trong môi trường xung quanh. Trong trường hợp tiến triển nặng, nếu không được điều trị nấm sẽ xâm lấn lên não bằng đường trực tiếp hoặc huyết khối động mạch cảnh trong dẫn đến tử vong.

1. Các yếu tố thuận lợi gây bệnh viêm mũi xoang do nấm

– Điều kiện khí hậu ấm áp và ẩm ướt thích hợp cho nấm mốc phát triển.

– Bất thường cấu trúc giải phẫu mũi xoang.

– Điều trị thuốc làm mất cân bằng nấm – vi khuẩn tại chỗ.

– Người bệnh bị suy giảm miễn dịch, bệnh tiểu đường, sau hóa xạ trị ung thư…

2. Triệu chứng thường gặp của bệnh viêm mũi xoang do nấm

Các triệu chứng của viêm xoang do nấm thường có một số biểu hiện sau:

– Nghẹt mũi.

– Chảy nước mũi (hay gặp chảy nước mũi đục 1 bên).

– Giảm ngửi hoặc có mùi hôi ở trong mũi.

– Đau vùng xoang hàm, trước trán, thái dương hoặc đau đầu dai dẳng.

– Ho đàm kéo dài, ho nhiều về đêm mà điều trị nội khoa không cải thiện hay dễ tái phát.

– Một số trường hợp không có triệu chứng, phát hiện bệnh rất tình cờ.

Các triệu chứng nặng hơn và nghiêm trọng của bệnh viêm mũi xoang do nấm:

– Tức ổ mắt, giảm thị lực, lồi mắt, liệt vận nhãn, nhìn đôi, mù.

– Tê bì vùng mặt.

– Xâm nhập vào sọ não gây tổn thương thần kinh nội sọ; gây biến dạng xương hàm mặt; tổn thương mạch máu gây chảy máu ồ ạt.

– Đặc biệt ở thể dữ dội nếu không được điều trị nấm sẽ xâm lấn lên não bằng đường trực tiếp hoặc huyết khối động mạch cảnh trong dẫn đến tử vong.

Các triệu chứng của viêm mũi xoang do nấm không dễ phân biệt do có nhiều điểm giống với các loại viêm xoang khác. Do đó, điều quan trọng là người bệnh cần đến ngay bệnh viện thăm khám chuyên khoa Tai Mũi Họng khi xuất hiện các triệu chứng của viêm xoang.

3. Các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh

Để chẩn đoán bệnh viêm mũi xoang nấm, các Bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện các phương pháp sau:

– Nội soi mũi xoang: Giúp các Bác sĩ đánh giá tổng quan về hốc mũi và các lỗ thông xoang.

– Chụp CT Scan mũi xoang: Đây là tiêu chuẩn hiện đại nhằm đánh giá một cách chi tiết tình trạng viêm nhiễm ở xoang.

– Nhuộm soi và giải phẫu bệnh: Tiêu chuẩn “vàng” cho thấy sự hiện diện của nấm trong mẫu bệnh phẩm sau khi được lấy bỏ.

Tuỳ vào tình trạng viêm mũi xoang do nấm, người bệnh sẽ được điều trị bằng các phương pháp phù hợp:

– Viêm mũi xoang do nấm đối với thể không xâm nhập có tiên lượng tốt nếu
được điều trị kịp thời.

– Bệnh nhân được điều trị chủ yếu là phẫu thuật qua nội soi, lấy bệnh tích và tổ chức nấm, làm rộng các lỗ thông xoang.

4. Các phương pháp phòng bệnh viêm mũi xoang nấm

  • Giữ ấm mũi, họng; thường xuyên vệ sinh mũi họng; đeo khẩu trang khi ra khỏi nhà.
  • Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát, tránh để ẩm mốc; phơi khăn mặt dưới nắng mặt trời.
  • Tránh để mắc các bệnh về mũi họng khiến cơ quan này suy yếu dễ bị nấm tấn công.

Theo BSCKII. Nguyễn Hữu Diệu – Trưởng Liên chuyên khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, các triệu chứng khá giống nhau giữa viêm mũi xoang do nấm và viêm xoang do các thể bệnh khác. Bên cạnh đó, do đặc điểm khí hậu và tập quán sản xuất nông nghiệp của người dân Tây Nguyên nên tỷ lệ bệnh nhân bị viêm xoang do nấm ở đây cũng khá cao. Do đó, người bệnh cần đến khám chuyên khoa Tai Mũi Họng để được phát hiện và điều tri hiệu quả, tránh các biến chứng nặng của bệnh.

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147

SỤN CHÊM HÌNH ĐĨA BẨM SINH – BỆNH LÝ CẦN QUAN TÂM KHI ĐAU KHỚP GỐI KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN

SỤN CHÊM HÌNH ĐĨA BẨM SINH – BỆNH LÝ CẦN QUAN TÂM KHI ĐAU KHỚP GỐI KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN

1. Sụn chêm dạng đĩa là gì?

Khớp gối của mỗi chúng ta là một trong những khớp lớn, chịu lực trọng lượng của cơ thể vì thế giữa đầu dưới xương đùi và đầu trên xương chày có hai sụn chêm (discoid meniscus) là sụn chêm trong và sụn chêm ngoài, các cấu trúc này đóng vai trò phân phối lực truyền từ xương đùi xuống mâm chày, có tác dụng giảm xóc nằm trong khớp khi vận động khớp gối. Sụn chêm bình thường hình thành ở tuần thứ 8 và đạt được hình thái giải phẫu trưởng thành ở tuần thứ 14 của sự phát triển bào thai. Ở người trưởng thành, sụn chêm trong có hình chữ C, che phủ 50% bề mặt mâm chày trong và được giữ vào bao khớp bởi các dây chằng vành, chày-sụn chêm và bên trong. Sụn chêm ngoài có hình chữ O, rộng trung bình 11 mm, độ dày trung bình 4,5mm, che phủ 70% bề mặt mâm chày ngoài và được giữ vào bao khớp cả ở phía trước và sau (phía sau được tăng cường bởi dây chằng đùi-sụn chêm trước và sau), trong khi phần bên ngoài giữ với bao khớp không liên tục nên có sự di chuyển cao hơn các vị trí khác.

Theo Smillie đã công nhận rằng hình dạng sun chêm hình đĩa có thể phát triển do không hấp thụ được phần bên trong của mô sụn trong phôi thai đang phát triển, tuy nhiên có tác giả cho rằng đây là một dị tật bẩm sinh, có tính di truyền.

Khi sụn chêm che phủ hết bề mặt mâm chày được gọi là sụn chêm hình đĩa (discoid meniscus). Đây là một dị dạng bẩm sinh của sụn chêm, được Young mô tả lần đầu tiên năm 1889 và sau đó là Watson-Jones vào năm 1930. Về hình thái học thì có độ dày tăng cao hơn, rộng hơn và ít mạch máu nuôi hơn sụn bình thường.

Sụn chêm hình đĩa thường gặp ở sụn chêm ngoài (discoid leteral meniscus), rất hiếm gặp ở sụn chêm trong. Tỷ lệ bị sụn chêm hình đĩa trên thế giới rất hiếm 0,1-0,3%, ở Mỹ chiếm từ 3 – 5% dân số, ở châu Á là 10-15% và khoảng 0,4 – 17% các trường hợp bị sụn chêm hình đĩa bên ngoài, 0,06-0,3% bên trong. Theo Ahn và cộng sự nghiên cứu qua hình ảnh MRI khớp gối có hình ảnh sụn chêm hình đĩa, sau đó phẫu thuật nội soi can thiệp thì đến 97% bị sụn đĩa hoàn toàn và không hoàn toàn

Hình ảnh sụn chêm bình thường

2. Cơ chế gây tổn thương

Sụn chêm hình đĩa dễ bị tổn thương hơn sụn chêm bình thường. Do cấu trúc bất thường về hình thái nên sụn chêm dễ bị kẹt khi khớp gối vận động, gây đau và rách sụn. Trong trường hợp dây chằng giữ sụn chêm vào mâm chầy không có hoặc lỏng lẻo, nguy cơ này càng cao hơn. Cũng như sụn chêm bình thường, khi bị tổn thương, sụn chêm hình đĩa rất khó liền do cấu trúc nghèo mạch máu.

Cơ chế gây tổn thương thường gặp khi gối bị xoắn vặn như khi trụ chân hoặc thay đổi hướng di chuyển trong thừi gian dài, tuy nhiên, một số trường hợp thì cũng không xác định được cơ chế chấn thương rõ ràng.

3. Triệu chứng

Có các triệu chứng rất khác nhau tùy thuộc vào vị trí sụn và thể lâm sàng, gồm:

  • Đau khớp gối
  • Kẹt khớp gối không gấp duỗi được khớp
  • Có tiếng kêu bất thường trong khớp khi đi lại hoặc gấp duỗi khớp gối
  • Ấn đau khe khép gối khi khám
  • Hội chứng snapping knee
  • Hạn chế duỗi khớp
  • Teo cơ vùng gối

4. Chẩn đoán

Những triệu chứng chủ yếu của sụn chêm dạng đĩa có thể gặp là: đau, hạn chế vận động gối hoặc sưng nề, kẹt khớp gối hoặc không duỗi được hết. Phần lớn bệnh nhân có sụn chêm hình đĩa hầu như không có triệu chứng trong suốt cả cuộc đời mà chỉ tình cờ phát hiện khi thăm khám chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp gối vì một lý do khác.

Ở trẻ thiếu niên, nếu có các biểu hiện như trên, thì cần phải thăm khám xác định xem liệu có phải tổn thương sụn chêm hình đĩa hay không sau khi đã loại trừ các nguyên nhân nội khoa.

Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng chỉ mang tính gợi ý. Chẩn đoán xác định cần kết hợp thêm dấu hiệu chụp phim cộng hưởng từ khớp gối để xác định mức độ và hình thái. Tiêu chuẩn hay được áp dụng nhất: Tỷ lệ giữa chỗ hẹp nhất với chỗ rộng nhất của sụn   chêm trên mặt phẳng trán (coronal slice) lớn hơn 20%, tỷ lệ giữa chiều rộng thân sụn chêm với đường kính sụn chêm trên mặt phẳng đứng dọc (sagittal slice) lớn hơn 75%.

Tiêu chuẩn ít chính xác hơn: Chiều rộng của sụn chêm tại vị trí hẹp nhất lớn hơn 15 mm, và trên 2 lát cắt đứng dọc có sự liên tục giữa sừng trước và sừng sau của sụn chêm, trên phim nghiêng có dấu “ bow-tie sign”.

Hình ảnh sụn chêm ngoài hình đĩa trên MRI

5. Phân loại tổn thương

Watanabe (1969) phân loại các thể sụn chêm hình đĩa như sau:

  • Thể I: Sụn chêm hình đĩa hoàn toàn, che phủ gần hết mặt khớp mâm chày ngoài, thể này hay gặp nhất.
  • Thể II: Sụn chêm hình đĩa một phần, che phủ một phần mặt mâm chày hơn bình thường.
  • Thể III: Thể dây chằng wrisberg, sừng sau của sụn chêm bong ra khởi mâm chày.

6. Điều trị

Trong trường hợp phát hiện qua chụp MRI, nếu bệnh nhân không có triệu chứng về mặt lâm sàng như đau, kẹt khớp, sung khớp…thì có thể không cần can thiệp và theo dõi. Trong trường hợp có triệu chứng lâm sàng, phẫu thuật là cần thiết. Phẫu thuật được thực hiện qua nội soi với việc cắt sửa phần sụn chêm rách và tạo hình lại sụn chêm cho có cấu trúc gần giống bình thường. Một số trường hợp phần sụn chêm rách cũng có thể được khâu lại, tuy nhiên phụ thuộc vào việc đánh giá tổn thương trong mổ.

Sau mổ, bệnh nhân có thể đeo nẹp mềm hỗ trợ, chống nạng không chịu lực trong 4 tuần, sau 8 tuần chịu lực một phần, và gấp gối 120 độ, chạy nhẹ sau 3 tháng, sau 6 tháng  trở lại sinh hoạt bình thường. Một số trường hợp có thể phải phục hồi chức năng nếu như gối bị hạn chế duỗi trong một thời gian dài. Đa số các bệnh nhân có thể trở lại với sinh hoạt vận động bình thường, tuy nhiên, trong một số trường hợp tổn thương nặng có thể bệnh nhân vẫn bị triệu chứng đau và có nguy cơ thoái hóa, đau dai dẫn, viêm khớp, nang sụn chêm khớp gối khi gặp thể năng trong thời gian lâu dài.

Hình ảnh nội soi khớp gối sụn chêm ngoài hình đĩa thể hoàn toàn, sau tạo hình sụn chêm ngoài

7. Các trường hợp điều trị sụn chêm hình đĩa tại BUH

Tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (BUH) đã khám cho hai bệnh nhân không rõ cơ chế chấn thương, nhưng khớp gối đau và hạn chế vận động, kẹt khớp và có tiếng kêu khi duỗi gối, sau khi thăm khám tỉ mỉ và chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp gối có dấu hiệu bất thường. Được nhập viện hội chẩn phẫu thuật nội soi khớp gối bước đầu thành công.

Bệnh nhân Nguyễn T.T 41 tuổi đau khớp gối trái đã lâu, không có tiền sử chấn thương.

MRI khớp gối trước mổ
Hình ảnh sụn đĩa bên ngoài trong mổ
Hình ảnh sau phẫu thuật tạo hình sụn đĩa

BS.CKII. Trần Mậu Phong

Phó Trưởng Khoa Y Trường Đại học Buôn Ma Thuột

Trưởng Đơn vị Chấn thương chỉnh hình & Bỏng – Khoa Ngoại Tổng hợp BUH

Nguồn: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7550551/

Để được tư vấn trực tiếp và hoàn toàn miễn phí, Quý Khách Hàng vui lòng bấm số HOTLINE 1900 1147