ÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP Ở VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN (PHẦN 3)

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP

Ở VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN (PHẦN 3)

           Bài viết được chia sẻ bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

Xem lại các rối loạn tâm thần thường gặp ở vị thành niên và thanh niên Phần 1 Phần 2

2.6. Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là một bệnh lý tâm thần nặng với các triệu chứng lâm sàng rất đa dạng. Tổn thương của tâm thần phân liệt thể hiện ở các rối loạn về nhận thức, tư duy, tri giác, cảm xúc, hành vi của bệnh nhân. Các triệu chứng của tâm thần phân liệt có thể không giống nhau ở các bệnh nhân và có thể thay đổi theo thời gian, nhưng tác động của nó là rất nghiêm trọng và kéo dài.

Khởi đầu của bệnh tâm thần phân liệt thường từ giai đoạn giữa tuổi vị thành niên đến giữa độ tuổi 30, với tuổi khởi phát cao nhất vào độ tuổi 20. Tâm thần phân liệt khởi phát thời thơ ấu, trong đó các triệu chứng tương tự như ở trẻ vị thành niên, thanh niên bắt đầu khởi phát  trước tuổi 10, sớm nhất sau 5 tuổi.

Lâm sàng có các triệu chứng dương tính như: 
  • Hoang tưởng bị hại, bị theo dõi, bị kiểm tra, bị chi phối, tự buộc tội… 
  • Các ảo giác như ảo thanh bình phẩm, ảo thanh ra lệnh, tư duy vang thành tiếng, ảo thị giác… 
  • Bệnh nhân có rối loạn ngôn ngữ, rối loạn hành vi. 
Các triệu chứng âm tính: 
  • Cảm xúc cùn mòn, mất ý chí, ngôn ngữ nghèo nàn, thu rút khỏi xã hội, xa lánh mọi người…
  • Bệnh diễn biến nhiều giai đoạn, tiến triển có xu hướng mạn tính.

** Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt theo ICD-10F (WHO) năm 1992 hoặc theo DSM-5 (Hội tâm thần học Mỹ) 2013.

Điều trị bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em và vị thành niên rất phức tạp, có kết quả khác nhau, và nên khuyến khích giới thiệu đến bác sĩ tâm thần nhi và vị thành niên.

2.7. Triệu chứng cơ thể và các rối loạn liên quan

Rối loạn triệu chứng cơ thể và các rối loạn liên quan được đặc trưng bởi các triệu chứng cơ thể dai dẳng có liên quan đến những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi quá mức hoặc không thích ứng trong việc đáp ứng với những triệu chứng này và các mối quan tâm liên quan đến sức khỏe.

Rối loạn phân ly: Là sự không phù hợp triệu chứng lâm sàng với các tổn thương cơ thể, Điển hình là, các triệu chứng mất cảm giác hoặc vận động chủ động nhưng đôi khi bao gồm các động tác lắc và suy giảm nhận thức (gợi ý các cơn co giật). 

Vị thành niên có thể có sự suy giảm trong phối hợp hoặc cân bằng, cảm giác yếu, tê liệt cánh tay hoặc chân, mất cảm giác một phần cơ thể, không đáp ứng, mù, nhìn đôi, điếc, mất tiếng, khó nuốt, cảm giác chẹn ở họng, hoặc bí tiểu.

Rối loạn lo âu về bệnh: Trẻ sợ rằng chúng có hoặc sẽ mắc phải một rối loạn nghiêm trọng, dẫn đến suy giảm hoạt động hàng ngày hoặc gây ra đau khổ đáng kể. 

Trẻ có thể có hoặc không có các triệu chứng thể chất, nhưng nếu có, mối quan tâm sẽ nhiều hơn về những biến chứng có thể có của các triệu chứng hơn bản thân các triệu chứng.

Rối loạn dạng cơ thể: Trẻ có thể phát triển nhiều triệu chứng cơ thể hoặc chỉ một triệu chứng nặng, điển hình là đau.

Triệu chứng có thể là cụ thể (ví dụ, đau bụng) hoặc mơ hồ (ví dụ, mệt mỏi). Bất kỳ phần nào của cơ thể có thể là trọng tâm của mối quan tâm. Bản thân những triệu chứng hoặc sự lo lắng quá mức ảnh hưởng cuộc sống hàng ngày.

Triệu chứng và các rối loạn liên quan thường phổ biến ở trẻ vị thành niên nữ hơn so với trẻ vị thành niên nam.

Chẩn đoán:  dựa vào triệu chứng lâm sàng, làm các xét nghiệm để loại trừ các nguyên nhân thực tổn.

Điều trị: liệu pháp tâm lý kết hợp với thuốc chống trầm cảm và giải lo âu (cần đề phòng lạm dụng và phụ thuộc thuốc)

2.8. Rối loạn lưỡng cực

Rối loạn lưỡng cực được đặc trưng bởi các giai đoạn hưng cảm, trầm cảm, và tâm trạng bình thường, mỗi lần kéo dài hàng tuần cho đến vài tháng một lần. Rối loạn lưỡng cực thường bắt đầu ở tuổi vị thành niên từ tuổi giữa 20. 

Ở nhiều trẻ em, biểu hiện ban đầu là một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm. 

  • Trong một giai đoạn hưng cảm ở vị thành niên, tâm trạng vui vẻ quá mức hoặc tăng kích thích;
  • Thích mua sắm, có nhiều dự án, dự định không thực tế. 
  • Lời nói rất nhanh và luôn thay đổi chủ đề
  • Giấc ngủ giảm
  • Lòng tự trọng bị thổi phồng. 
  • Có thể có loạn thần kèm theo.

Chẩn đoán rối loạn lưỡng cực: Dựa trên việc xác định các triệu chứng hưng cảm như được mô tả ở trên, cộng với một lịch sử của sự thuyên giảm và tái phát, cùng với các giai đoạn trầm cảm (đã có hoặc chưa). 

Các bệnh lý cơ thể: rối loạn tuyến giáp, nhiễm trùng não hoặc khối u và ngộ độc thuốc có thể là nguyên nhân (thực tổn).

Trẻ bị rối loạn lưỡng cực có biểu hiện quá mức những cảm giác phấn chấn, vui vẻ, hào hứng nhưng rồi lại bất ngờ rơi vào tình trạng trầm uất, buồn chán, thờ ơ

Điều trị rối loạn lưỡng cực

  • Hưng cảm: Thuốc chống loạn thần thế hệ thứ 2, đôi khi là thuốc ổn định tâm trạng
  • Trầm cảm: Thuốc chống loạn thần thế hệ thứ 2 cộng với SSRI, đôi khi là lithium

2.9. Lạm dụng và nghiện chất

Ma túy theo quan niệm thông thường là chất gây nghiện – bất hợp pháp. Bao gồm: Heroin, hàng đá, thuốc lắc, cần sa, methadone, morphine. Một số hành vi cũng có tác động gây nghiện như ma túy: cá độ, shopping, game online, mạng xã hội, cờ bạc, tình dục. 

Do muốn khám phá những thứ mới lạ, tò mò hoặc bị rủ rê cho nên nhiều em còn rất ít tuổi đã sử dụng các chất kích thích như cà phê, thuốc lá, rượu bia, bóng cười (N2O), ma túy như là cocain, cần sa, cỏ, ma túy tổng hợp: thuốc lắc, đập đá… 

Sử dụng chất gây nghiện trong thanh thiếu niên có thể chỉ đơn thuần là sử dụng nhất thời đến rối loạn sử dụng chất gây nghiện một cách nghiêm trọng. Các hậu quả cấp tính và lâu dài bao gồm từ nguy hiểm tối thiểu đến đe dọa tính mạng, tùy thuộc vào chất, hoàn cảnh và tần suất sử dụng. Tuy nhiên, ngay cả khi chỉ là sử dụng nhất thời, thuốc gây nghiện có thể gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe người sử dụng, ví dụ như quá liều, các hành vi bạo lực, và hậu quả của việc quan hệ tình dục không an toàn (ví dụ: mang thai, lây nhiễm bệnh qua đường tình dục). 

Sử dụng chất kích thích cũng cản trở sự phát triển trí não của thanh thiếu niên theo kiểu phụ thuộc vào liều lượng. 

Thường xuyên sử dụng rượu, cần sa, nicotin hoặc các loại ma túy khác trong thời kỳ thanh thiếu niên có liên quan đến tỷ lệ rối loạn sức khỏe tâm thần cao hơn, hoạt động kém hơn ở tuổi trưởng thành và tỷ lệ nghiện cao hơn.

Sử dụng ma túy có thể do ảnh hưởng của các yếu tố sau: 

  • Khiếm khuyết bẩm sinh trong hệ thần kinh, di truyền, gen
  • Căng thẳng, trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu, 
  • Sang chấn tâm lý, rối loạn tâm thần. 

Theo một nghiên cứu trên gần 600 thanh thiếu niên có sử dụng ma túy ở độ tuổi 16 – 24 tại Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM cho thấy: Có đến 43% trẻ có những dấu hiệu trầm cảm ở mức độ từ trung bình đến nghiêm trọng. 

Rối loạn tâm thần có thể xuất hiện trước (là nguyên nhân) hoặc xuất hiện sau (là hệ quả) của việc sử dụng – lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên.

Việc sử dụng chất kích thích ảnh hưởng đến học tập, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng sức khỏe và có thể vi phạm pháp luật. Sử dụng ma túy tổng hợp có thể gây loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, rối loạn cảm xúc, hành vi, tự sát, giết người, cướp của. hủy hoại tài sản…

Ngoài ra còn có nghiện hành vi như nghiện game hoặc sử dụng internet quá nhiều, nghiện sex.

Việc điều trị rối loạn tâm thần và điều trị nghiện là không giống nhau bởi đây là hai phạm trù bệnh lý khác biệt, nhưng nếu chỉ điều trị một trong hai, kết quả hồi phục sẽ thấp hơn rất nhiều so với việc điều trị cả hai cùng một lúc.

Dự phòng: 

Các tin tức và hình ảnh tiêu cực về người sử dụng ma túy thường xuyên gắn với tình trạng “ngáo đá”, gây rối trật tự xã hội, phạm pháp, giết người… cũng là những định kiến có tác động không nhỏ tới thanh thiếu niên có sử dụng ma túy. 

Gần 60% tự kỳ thị và căm ghét bản thân dựa trên phản ứng của mọi người xung quanh khi biết tình trạng sử dụng ma túy của họ, hơn 40% trong số họ thường xuyên cảm thấy cô đơn và có ý định tự sát. 

Có 65,9% lo sợ phản ứng của mọi người nếu biết mình sử dụng ma túy và 53,8% cảm thấy cần thiết phải giấu tình trạng sử dụng ma tuý của mình. Vì vậy, kỳ thị và phân biệt đối xử có thể tác động tiêu cực đến quá trình điều trị và hồi phục của người sử dụng ma túy nói chung và đặc biệt đối với thanh thiếu niên nói riêng. 

Do đó, cần nhận thức và hiểu những triệu chứng/ dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần nhằm thúc đẩy và bảo vệ sức khỏe thời niên thiếu trong ngắn hạn và dài hạn, góp phần ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế – xã hội khi những người trường thành khỏe mạnh có thể lao động hiệu quả hơn, đóng góp nhiều hơn cho gia đình, cộng đồng. 

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

 

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP Ở VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN (PHẦN 2)

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP Ở

VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN (PHẦN 2)

           Bài viết được chia sẻ bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

Xem lại Các rối loạn tâm thần thường gặp ở vị thành niên và thanh niên (phần 1)

2.4. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế và các rối loạn liên quan

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế được đặc trưng bởi ám ảnh, cưỡng chế, hoặc cả hai. Những ám ảnh không thể cưỡng lại được là những ý tưởng, hình ảnh, hoặc xung động liên tục không thể cưỡng lại được để làm điều gì đó.

Cưỡng chế là bệnh lý gây ra xung lực, nếu được chống lại, dẫn đến lo lắng và căng thẳng quá mức. Sự ám ảnh và cưỡng chế gây ra nhiều phiền toái và can thiệp vào chức năng học tập hay xã hội. 

Tuổi trung bình bắt đầu rối loạn ám ảnh cưỡng chế là 19 đến 20 tuổi; khoảng 21% số trường hợp bắt đầu trước 10 tuổi. 

Các rối loạn bao gồm: 

  • Rối loạn mặc cảm ngoại hình, nhổ tóc, rối loạn tự làm tổn thương da.
  • Một số trẻ em, đặc biệt là trẻ em trai, cũng có một rối loạn tic.

Các triệu chứng và dấu hiệu:

Thông thường, các rối loạn này có một sự khởi phát dần dần, âm thầm. Hầu hết trẻ em ban đầu che giấu các triệu chứng của chúng và phải chịu đựng nhiều năm trước khi chẩn đoán xác định. 

Hội chứng TIC ở trẻ do xem tivi, sử dụng điện thoại quá nhiều

Những nỗi ám ảnh thường trải nghiệm như những lo lắng hoặc sợ hãi hoặc gây tổn hại (ví dụ, mắc bệnh hiểm nghèo, tội lỗi và đi xuống địa ngục, làm bị thương bản thân hoặc người khác). 

Cưỡng chế là những hành vi ý chí có chủ ý, thường được thực hiện để vô hiệu hoặc bù đắp những nỗi sợ hãi; bao gồm các hành vi kiểm tra; rửa, đếm quá nhiều hoặc sắp xếp; và nhiều cái khác. 

Sự ám ảnh và cưỡng chế có thể có một số kết nối hợp lý (ví dụ, rửa tay để tránh bệnh tật) hoặc có thể là vô lý và độc đáo (ví dụ, đếm đến 50 lần và hơn để bảo vệ người thân khỏi mắc bệnh). Nếu trẻ bị ngăn cản thực hiện cưỡng chế của họ, họ trở nên lo lắng và quan tâm quá mức.

Các triệu chứng thông thường bao gồm: 

  • Có bàn tay thô ráp, nứt (biểu hiện triệu chứng ở trẻ em cưỡng chế rửa).
  • Sử dụng quá nhiều thời gian trong phòng tắm.
  • Làm việc học tập rất chậm (vì ám ảnh về những sai lầm). Thực hiện nhiều chỉnh sửa trong học tập.
  • Tham gia vào các hành vi lặp đi lặp lại hoặc kỳ quặc như kiểm tra khóa cửa, nhai thức ăn một số lần nhất định, hoặc tránh chạm vào những thứ nhất định.
  • Làm những yêu cầu thường xuyên và tẻ nhạt để đảm bảo, đôi khi hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm lần mỗi ngày – hỏi, ví dụ như, có phải tôi bị sốt không? Bạn có nghĩ rằng chiếc xe sẽ khởi hành? Nếu chúng ta trễ thì sao? Nếu một kẻ trộm đến thì sao?”.

Hầu hết trẻ em đều có nhận thức rằng sự ám ảnh và cưỡng chế của chúng là bất thường. Nhiều trẻ em bị ảnh hưởng cảm thấy xấu hổ và bí mật.

Chẩn đoán: Dựa vào tiền sử, bệnh sử, sự ám ảnh và cưỡng chế phải gây ra nhiều phiền toái và can thiệp vào hoạt động học tập hay xã hội. 

Trẻ bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế thường có các triệu chứng của các chứng rối loạn lo âu khác, bao gồm các cơn hoảng sợ, các vấn đề về sự chia ly, và những ám ảnh đặc biệt. Triệu chứng chồng chéo này đôi khi làm rối loạn chẩn đoán.

Điều trị: Bằng liệu pháp nhận thức hành vi và các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs).

2.5. Rối loạn hoảng sợ

Các cơn hoảng sợ có thể xảy ra đơn độc hoặc trong các chứng rối loạn lo âu,  các rối loạn tâm thần khác hoặc các các bệnh lý cơ thể: cơn hoảng sợ có thể gây ra một cơn hen và ngược lại.

Các triệu chứng của một cơn hoảng sợ liên quan đến một sự gia tăng đột ngột của nỗi sợ hãi mãnh liệt, cùng với các triệu chứng cơ thể (ví dụ như đánh trống ngực, đổ mồ hôi, run rẩy, thở dốc hoặc nghẹn, đau ngực, buồn nôn, chóng mặt). 

So với những người lớn, cơn hoảng sợ ở trẻ em và vị thành niên thường kịch tính hơn trong cách thể hiện (ví dụ như la hét, khóc lóc, và thở nhanh). Sự biểu hiện này có thể báo động cho cha mẹ và người khác.

Chẩn đoán rối loạn hoảng sợ dựa trên lịch sử của các cơn hoảng sợ gần đây, thường là sau một cuộc kiểm tra sức khỏe được thực hiện để loại trừ các nguyên nhân thực thể gây ra các triệu chứng cơ thể. Nhiều trẻ em trải qua xét nghiệm xem xét chẩn đoán trước khi nghi ngờ rối loạn hoảng sợ.

Tiên lượng là tốt với điều trị. Nếu không điều trị, vị thành niên có thể bỏ học, bỏ xã hội, trở nên ẩn dật và tự sát. 

Rối loạn hoảng sợ thường tăng lên và giảm xuống trong mức độ nghiêm trọng mà không có bất kỳ lý do rõ rệt. Một số bệnh nhân trải qua giai đoạn thuyên giảm triệu chứng kéo dài, chỉ tái phát vào những năm sau đó.

Điều trị rối loạn hoảng sợ: Benzodiazepine hoặc các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc thêm vào với liệu pháp hành vi.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN – VẤN ĐỀ ĐÁNG LO THỜI ĐẠI SỐ

CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN

VẤN ĐỀ ĐÁNG LO THỜI ĐẠI SỐ

Trong vài năm trở lại đây, hàng loạt những con số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần được công bố đã dấy lên hồi chuông cảnh tỉnh cho toàn dư luận: Có khoảng 30% người Việt Nam bị rối loạn sức khỏe tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25%…; mỗi năm có khoảng 40 nghìn ca tự tử. Đáng lo ngại hơn, sức khỏe tâm thần hiện đang là khía cạnh bị “bỏ lơ” nhiều nhất trong việc chăm sóc sức khỏe và để lại nhiều hệ lụy nghiêm trọng. 

Do đó, BUH đặc biệt giới thiệu đến quý độc giả chuỗi bài viết sắp tới: “Chăm sóc sức khỏe tâm thần cùng chuyên gia” nhằm đem đến cái nhìn cởi mở và hiểu biết hơn về các vấn đề sức khỏe tâm thần.

 

1- Tình hình sức khỏe tâm thần ở Việt Nam và trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần là trạng thái tinh thần khỏe mạnh, giúp con người có thể đương đầu với những áp lực trong cuộc sống, học tập tốt và làm việc tốt, cống hiến cho cộng đồng, bởi sức khỏe tâm thần tốt sẽ dẫn đến sức khỏe thể chất tốt. Một khi sức khỏe tâm thần được thúc đẩy và bảo vệ, mọi người sẽ có cơ hội được hưởng cuộc sống hạnh phúc.

Thế nhưng, Việt Nam vẫn là 1 trong số nhiều quốc gia chưa thực sự hiểu và quan tâm đến sức khỏe tinh thần: tỉ lệ mắc 10 rối loạn tâm thần thường gặp là 14,9% dân số – nghĩa là có gần 15 triệu người. Tuy nhiên hầu hết người dân chỉ đang quan tâm nhiều đến chứng tâm thần phân liệt (hay dân gian thường gọi là điên).

Số liệu thực tế cho thấy: tỷ lệ tâm thần phân liệt là 0,47% dân số; trầm cảm, lo âu chiếm tỉ lệ cao, đến 5,4% dân số, còn lại là các rối loạn tâm thần khác như động kinh (0,33%), chậm phát triển tâm thần (0,63%), mất trí tuổi già (0,88%); rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên (0,9%); lạm dụng rượu 5,3%, ma túy (0,3%)…

Trong đó, các vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ em chiếm khoảng 12%, tương đương với hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần. Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ vị thành niên bị trầm cảm hơn 26% và trẻ cố gắng tự tử lên đến gần 6%. Với các nhóm đối tượng đặc biệt khác cũng cho thấy tín hiệu đáng báo động: tỷ lệ trầm cảm trong khi mang thai là 5% và trầm cảm sau sinh là 8,2%, tỷ lệ mắc mới trầm cảm sau sinh là 6,5%, tỷ lệ trầm cảm ở người bệnh ung thư phổi là 24,6%.

Mặc dù các bệnh lý tâm thần có thể dự phòng và chữa trị hiệu quả, nhưng đáng buồn là hầu hết những bệnh tâm thần đều không được phát hiện sớm để điều trị hiệu quả, dẫn đến nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên mọi mặt của đời sống. Bất cứ ai cũng có thể mắc rối loạn tâm thần, ít nhất là ở một giai đoạn, thời điểm nào đó của cuộc đời. Do đó, phát hiện kịp thời và can thiệp ngay từ đầu không chỉ giúp bệnh nhân ngăn chặn sự tiến triển của bệnh trên mà còn ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của cộng đồng.

Đã đến lúc chúng ta phải đặt sức khỏe tâm thần lên ưu tiên hàng đầu vì một cuộc sống tốt đẹp và tương lai tươi sáng hơn cho tất cả mọi người.

2 – Chăm sóc sức khỏe tâm thần – Vấn đề đáng được quan tâm

“Trước đây, phần lớn tâm lý người dân không chấp nhận gia đình có người bị bệnh tâm thần. Khi nhắc đến khoa tâm thần, họ thường kỳ thị. Các trường hợp phải vào viện điều trị hầu hết là bệnh nặng, đa phần bệnh nhân không ý thức được sức khỏe của mình” – GS. Cao Tiến Đức cho biết.

Thế nhưng những năm gần đây, đã có rất nhiều người đến khám sức khỏe tâm thần, chủ yếu các bệnh trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ, tâm thần phân liệt, động kinh, loạn thần của tuổi già, sa sút trí tuệ… Riêng 14 bệnh hay gặp chiếm 14,8 %, ví dụ tâm thần phân liệt, trầm cảm nặng.

Tại phòng khám chuyên gia BUH, chúng tôi cũng nhận thấy xã hội, gia đình đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chăm sóc sức khỏe tâm thần. Họ chủ động tìm đến bác sĩ tâm thần nên mới phát hiện được tỉ lệ người mắc bệnh bây giờ rất nhiều. 

GS.TS.BS cao cấp Cao Tiến Đức cho biết: “Các trường hợp phải vào viện điều trị hầu hết là bệnh nặng, đa phần bệnh nhân chưa ý thức được sức khỏe của mình” 

Do đó, xu hướng theo học những lớp dạy cơ thể tự chữa lành để tìm sự cân bằng, thoát khỏi áp lực cuộc sống đang được quan tâm. Theo các chuyên gia: Người bị bệnh hoặc chưa bị bệnh đều có thể tham gia các lớp đó, vì ít nhất nó được hiểu như một liệu pháp tâm lý. Nhưng một khi đã có bệnh thì phải được điều trị đúng phương pháp mới giải quyết được các dấu hiệu, triệu chứng bệnh lý.

3 – GS. Cao Tiến Đức – vị giáo sư duy nhất ngành Tâm thần học Việt Nam và cơ duyên tại BUH

GS.TS.BS cao cấp Cao Tiến Đức là nguyên Chủ nhiệm bộ môn Tâm thần và Tâm lý Y học, khoa Tâm thần, Bệnh viện 103, Học viện Quân y. Hiện ông là Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Ủy viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương. Tháng 4/2022, ông chuyển về công tác tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk).

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột vô cùng vinh dự khi được hợp tác với GS.TS.BS cao cấp Cao Tiến Đức – một trong những chuyên gia tâm lý học hàng đầu Việt Nam. Sự kết hợp này  tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý, đặc biệt hội chứng tâm lý do hậu COVID-19 sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Với 46 năm học tập và công tác tại Hà Nội, GS. Cao Tiến Đức đã điều trị thành công cho hàng trăm nghìn bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần bằng các phương pháp tâm lý trị liệu, giúp cải thiện hành vi, cảm xúc để họ trở về hòa nhập với cuộc sống và cộng đồng, làm nhiều điều có ích cho xã hội.

Bác Đức luôn tạo được ấn tượng ban đầu là sự gần gũi, ân cần, coi bệnh nhân là người thân của mình. Những lần khám bệnh của bác đơn giản là cuộc nói chuyện như những người bạn với nhau. Theo bác, quan trọng nhất của bác sĩ tâm thần là kinh nghiệm, kiến thức, năng lực, toàn tâm toàn ý đối với bệnh nhân.

 GS.TS.BS cao cấp Cao Tiến Đức trực tiếp tư vấn, thăm khám bệnh

Để giúp mọi người có cái nhìn cởi mở và hiểu biết hơn về các vấn đề sức khỏe tâm thần, đồng thời quan sát và theo dõi những thay đổi trong tâm lý hằng ngày, BUH xin đặc biệt giới thiệu đến quý độc giả chuỗi bài viết sắp tới: “Chăm sóc sức khỏe tâm thần cùng chuyên gia” được chia sẻ bởi chính GS.TS.BS cao cấp Cao Tiến Đức. Hy vọng chuyên mục này không chỉ phù hợp với tất cả mọi lứa tuổi và mỗi giai đoạn cuộc sống khác nhau mà còn là tài liệu hữu ích đối với các y bác sĩ chuyên ngành Tâm thần.

Để đăng ký khám chữa bệnh với phòng khám chuyên gia, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP Ở VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN (PHẦN 1)

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP Ở VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN (PHẦN 1)

           Bài viết được chia sẻ bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

1. Tổng quan các rối loạn tâm thần ở vị thành niên và thanh niên 

Sức khỏe tâm thần không chỉ là trạng thái không có rối loạn tâm thần, mà còn bao gồm khả năng suy nghĩ, học hỏi, thích nghi với những áp lực bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và có thể đóng góp cho cộng đồng.

Rối loạn tâm thần là tình trạng bất thường đủ nghiêm trọng về nhận thức, ảnh hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ, hành vi của con người; gây ra đau khổ hay mất khả năng trong công việc và hoạt động xã hội quan trọng khác.

Theo nhiều nghiên cứu, có khoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên mắc một hoặc nhiều chứng rối loạn tâm thần. Khoảng 27,9% số thanh thiếu niên Hoa Kỳ từ 13 đến 17 tuổi có báo cáo đáp ứng các tiêu chí cho 2 rối loạn trở lên. Các nghiên cứu gần đây theo dõi trẻ em từ sơ sinh đến trưởng thành cũng chỉ ra rằng: Hầu hết các rối loạn sức khỏe tâm thần ở người trưởng thành bắt đầu từ thời thơ ấu và thanh thiếu niên. Ngoài ra, các gen liên quan đến rối loạn sức khỏe tâm thần đã được báo cáo là có biểu hiện cao trong suốt cuộc đời.

Một nghiên cứu khác ở trẻ 8-14 tuổi ở Mỹ cho thấy: 3,7% có rối loạn trầm cảm; 2,1% có rối loạn hành vi; 0,7% mắc rối loạn lo âu lan tỏa hoặc rối loạn hoảng sợ; 0,1% có rối loạn ăn uống, chán ăn hoặc chứng ăn vô độ. 

         

UNICEF: Cứ 7 trẻ vị thành niên, có 1 em rối loạn tâm thần

Với giới trẻ, bệnh lý tâm thần có thể dễ dàng mắc phải do sử dụng các loại ma túy tổng hợp. Đáng lưu ý hơn, sự cô lập với trẻ nhỏ, thói quen sử dụng internet quá nhiều của các gia đình cũng là yếu tố gây nên một số chứng bệnh về tâm thần như: rối loạn chú ý, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn sự thích ứng, trầm cảm ở trẻ.

Đặc biệt, khi người trẻ gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến nguy cơ bỏ học sớm, vi phạm pháp luật, lạm dụng chất kích thích, chất gây nghiện, thậm chí có hành vi tự sát. Cho đến nay, người ta thấy rằng chỉ có 20% những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần đi khám và chỉ 20% trong số đó đi khám đúng chuyên khoa. Kết quả nghiên cứu “Sức khỏe tâm thần vị thành niên Việt Nam” do Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện gần đây cũng chỉ ra: Trong 12 tháng, 21,7% số trẻ vị thành niên Việt Nam có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó 3,3% đáp ứng các tiêu chí đối với một rối loạn. Phổ biến nhất là lo âu (18,6%); tiếp theo là trầm cảm (4,3%) và 8,4% vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ hoặc tư vấn cho các vấn đề về cảm xúc và hành vi. Ngoài ra, có đến 27% trẻ vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần; 1,4% trẻ vị thành niên cho biết có ý định tự sát. 

Năm 2016, một khảo sát học sinh từ 16 -18 tuổi ở Hà Nội cho biết: có 21,4% trẻ em gái và 7,9% trẻ nam báo cáo có ý nghĩ tự sát trong 12 tháng trước đó. Các yếu tố dẫn đến ý định tự sát ở tuổi vị thành niên bao gồm: bị lạm dụng và bỏ mặc từ khi còn bé, chứng kiến bạo lực gia đình hoặc bạo lực hàng xóm, xâm hại tài sản, bắt nạt trên mạng và tình trạng dân tộc thiểu số. Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy tỷ lệ tử vong do tự sát (từ 10 đến 14 tuổi) ở nữ giới tăng từ 0,5% năm 1999 lên 3,1% vào năm 2019; ở nam giới từ 1,9% lên 3,1%. Tự sát là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong ở trẻ từ 10 đến 24 tuổi.

Cha mẹ nên quan tâm, chia sẻ nhiều hơn với con để phòng tránh tốt tình trạng trẻ bị trầm cảm vì áp lực gia đình

Vì vậy, vấn đề sức khỏe tâm thần trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe vị thành niên và thanh niên rất đáng được quan tâm.

2. Một số rối loạn tâm thần thường gặp

2.1. Rối loạn trầm cảm

Rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi nỗi buồn hoặc khó chịu nghiêm trọng và dai dẳng, kéo dài trên 2 tuần và thường xảy ra ở khoảng 5% vị thành niên, gây ảnh hưởng đáng kể đến các chức năng của cơ thể. 

Đây là một bệnh lý cảm xúc, thể hiện sự ức chế ở tất cả các mặt hoạt động tâm thần (ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ức chế về vận động). Sự ức chế này trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt, hiệu suất lao động và học tập của người bệnh.

Triệu chứng: Các biểu hiện trầm cảm ở vị thành niên tương tự như ở người lớn nhưng có liên quan đến những mối quan tâm điển hình của trẻ em, như học tập và chơi đùa. 

  • Trẻ có thể không giải thích được cảm xúc bên trong hoặc tâm trạng của mình. Nhiều trẻ trước đây hoạt động tốt bỗng trở nên kém đi ở trường học, rút khỏi xã hội, hoặc có hành vi phạm pháp. Điều này thậm chí còn đáng sợ hơn khi trẻ hoạt động quá mức và hành vi hung hăng, chống lại xã hội. 
  • Ở trẻ khuyết tật trí tuệ, chứng rối loạn trầm cảm hoặc rối loạn khí sắc khác có thể biểu hiện như các triệu chứng của cơ thể và rối loạn hành vi.

Rối loạn trầm cảm có thể khiến trẻ mất tập trung, sa sút trong học tập

Hậu quả: Trầm cảm có thể thuyên giảm sau 6 đến 12 tháng, nhưng nếu không được thăm khám và điều trị đúng cách sẽ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng như:

  • Khả năng tập trung chú ý, tập trung tư duy của trẻ vị thành thiên/ thanh thiếu niên bị suy giảm dẫn đến sa sút trong học tập, không thể hoàn thành tốt công việc. 
  • Quan hệ giao tiếp bị hạn chế, thờ ơ và đánh mất nhiều mối quan hệ quan trọng
  • Xuất hiện nhiều triệu chứng rối loạn của cơ thể như rối loạn hệ tiêu hóa, hệ tim mạch, nội tiết… 
  • Lạm dụng chất gây nghiện và có ý định tự sát. 
  • Đối với tình trạng trầm cảm nặng, có thể xuất hiện các triệu chứng loạn thần

Cách chẩn đoán và điều trị:

Việc chẩn đoán chứng rối loạn trầm cảm có thể dựa trên các triệu chứng lâm sàng và tiền sử bao gồm các yếu tố gây bệnh như: bạo lực gia đình, nghiện, lạm dụng tình dục và có các tác dụng phụ của thuốc bằng cách sử dụng thang HAMD, DASS-21 để sàng lọc.

Điều trị:

Đối với vị thành niên, cách điều trị ban đầu thường là dùng thuốc chống trầm cảm cộng với liệu pháp tâm lý. 

Thuốc chống trầm cảm cần được dùng theo đúng chỉ định của bác sĩ điều trị

Đối với thanh thiếu niên (như người lớn), sự kết hợp của liệu pháp tâm lý và thuốc chống trầm cảm thường có hiệu quả cao hơn phương thức sử dụng đơn lẻ. Ngoài ra, phương pháp kích thích từ xuyên sọ có thể mang lại hiệu quả cao trong điều trị, không cần phẫu thuật đặt điện cực vào não, không gây mê an thần và sốc điện. 

Cũng như ở người lớn, nếu trẻ không được chữa trầm cảm đúng hướng, bệnh có thể tái phát ở giai đoạn trưởng thành với mức độ nặng nề hơn. Vì vậy, trẻ em và vị thành niên nên được điều trị trong ít nhất 1 năm sau khi các triệu chứng đã hết. Hầu hết các chuyên gia khuyến cáo rằng trẻ em sẽ trải qua ≥ 2 giai đoạn trầm cảm chủ yếu và nên được điều trị vô thời hạn.

2.2. Rối loạn lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa là một trạng thái lo lắng gia tăng và dai dẳng, đôi lúc là sợ hãi và kinh sợ quá mức.

Triệu chứng: Trẻ mắc rối loạn lo âu lan tỏa thường biểu hiện qua những triệu chứng cụ thể gồm:
– Khó tập trung, chú ý, luôn thấy đầu óc trống rỗng
– Lo lắng dai dẳng về những việc nhỏ nhặt
– Không thể thư giãn, luôn tăng động, cảm thấy bồn chồn, bế tắc
– Ngủ kém, đổ mồ hôi quá nhiều, kiệt sức
– Dễ mệt mỏi, khó thở, tim đập nhanh.
– Sợ khoảng trống hoặc không gian kín
– Hay phàn nàn về sự khó chịu của cơ thể (ví dụ, đau dạ dày, đau cơ, nhức đầu, đau vùng trước tim, khó thở, các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật: vã mồ hôi, nôn, buồn nôn, mạch huyết áp dao động…).

Sợ khoảng trống hoặc không gian kín là một trong những triệu chứng đáng lo ngại ở trẻ bị rối loạn lo âu lan tỏa

Nguyên nhân:

Nguyên nhân chính xác gây rối loạn lo âu lan tỏa vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, một số yếu tố sau đây đã được xác định có liên quan đến chứng bệnh này:
– Ám ảnh thời thơ ấu: từng bị lạm dụng.
– Di truyền: gia đình có người từng mắc chứng rối loạn lo âu
– Trải qua cú shock hay những cơn sang chấn tâm lý do gặp biến cố
– Tiền sử lạm dụng ma túy hoặc rượu.

Ngoài ra, môi trường và hoàn cảnh sống căng thẳng trong gia đình từ hàng tuần đến hàng tháng: cha mẹ thất nghiệp, thường xuyên phải lo lắng về tài chính, tương lai,… cũng là yếu tố khiến căng thẳng trở nên trầm trọng hơn.

Chẩn đoán
Rối loạn lo âu lan tỏa được chẩn đoán ở thanh thiếu niên có các triệu chứng lo âu nổi bật và làm suy giảm mà không tập trung đủ để đáp ứng các tiêu chí cho một rối loạn cụ thể như rối loạn lo âu xã hội hoặc rối loạn hoảng sợ.

Chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa giống với các rối loạn lo âu khác. Đó là dựa vào biểu hiện lâm sàng, sau đó soi chiếu với tiêu chí chẩn đoán của DSM hoặc ICD. Ngoài khai thác và thống kê triệu chứng, bác sĩ sẽ tìm hiểu các yếu tố nguy cơ (môi trường sống, các yếu tố gây stress, tiền sử gia đình, tiền sử cá nhân,…) để khoanh vùng các khả năng có thể xảy ra.

– Lo lắng quá mức khiến bệnh nhân khó kiểm soát.
– Các triệu chứng xuất hiện nhiều ngày hơn 6 tháng.
– Các triệu chứng gây ra đau khổ nghiêm trọng hoặc làm suy giảm chức năng xã hội hoặc ở trường.  

Các tiêu chí trên phải đi kèm với ≥ 1 trong các điều kiện sau:
– Cảm giác bồn chồn hoặc căng thẳng hoặc bực dọc.
– Có thể sử dụng thang Zung, thang rối loạn lo âu chung-7 [GAD-7] hoặc DASS-21 để sàng lọc.
– Dễ bị mệt mỏi, khó tập trung, cáu gắt, căng cơ, rối loạn giấc ngủ. Đôi khi rối loạn lo âu lan tỏa có thể bị nhầm lẫn với rối loạn tăng hoạt động giảm chú ý (ADHD).

Điều trị: Liệu pháp thư giãn, thuốc chống lo âu, thường là các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI).

2.3. Phản ứng với stress và rối loạn sự thích ứng

Stress là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi hàng ngày cũng như trong các phương tiện truyền thông. Stress đôi khi được dùng để chỉ một nguyên nhân, một tác nhân kích thích làm cơ thể khó chịu, ngoài ra stress còn được dùng để chỉ hậu quả của tác nhân công kích này, bao gồm:

– Phản ứng stress cấp
– Rối loạn stress sau sang chấn
– Rối loạn sự thích ứng, các phản ứng với stress trầm trọng khác.

a/ Phản ứng stress cấp

Đây là một trạng thái cấp tính của stress, gây đau khổ và khó chịu cho bản thân người bệnh vad được đặc trưng bởi một rối loạn tâm thần nhất thời, rất trầm trọng, phát triển khi thể chất và tinh thần đặc biệt căng thẳng; có thể mất đi trong vòng vài giờ hoặc vài ngày.

Nguyên nhân:

Nguyên nhân do các stress cấp diễn và đủ lớn hoặc kéo dài. Khi trẻ phải trải qua những sang chấn đủ lớn như: người thân mất, bị đe dọa tính mạng, thảm họa, tai nạn… hay những căng thẳng mâu thuẫn kéo dài, áp lực học tập, bị giam cầm… đặc biệt là khi thay đổi tâm sinh lý như dậy thì, suy nhược cơ thể… 

Về lâm sàng: Phản ứng với stress xuất hiện ngay sau chấn thương tâm thần mạnh, có thể thay đổi từ kích động sang bất động trong một thời gian ngắn, bao giờ cũng kèm theo tình trạng rối loạn thần kinh thực vật… 

Thời gian kéo dài từ vài phút đến vài ngày, có thể gặp thể bất động hoặc thể kích động. 

Có kèm theo các rối loạn thần kinh thực vật như: vã mồ hôi, mạch nhanh, co cứng cơ, đái dầm…

Chẩn đoán: Bệnh xuất hiện ngay hoặc sau một thời gian ngắn hậu stress. Các triệu chứng loạn thần có liên quan trực tiếp và phản ánh sâu sắc tình trạng của stress.

Điều trị: Khi trẻ có dấu hiệu phản ứng stress cấp, ba mẹ cần cách ly trẻ khỏi môi trường gây chấn thương tâm lý càng sớm càng tốt bằng các liệu pháp hỗ trợ tâm lý, dùng thuốc bình thần, thuốc chống trầm cảm và nâng đỡ cơ thể. Vì nếu được điều trị đúng và kịp thời, trẻ sẽ khỏi bệnh hoàn toàn và nhanh chóng.

b/ Rối loạn stress sau sang chấn:

Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) hay còn gọi là rối loạn căng thẳng sau chấn thương, là tình trạng bệnh lý tâm thần xảy ra sau khi trẻ chứng kiến hoặc trải qua một sự kiện đáng sợ, có tính chất đe dọa hoặc thảm họa đặc biệt và thường xuất hiện từ vài tuần đến vài tháng, tối đa là dưới 6 tháng sau stress. 

Chứng rối loạn stress sau sang chấn có thể tiến triển thuận lợi (khỏi bệnh) hoặc dao động (tái phát tăng hoặc giảm bệnh). Một số ít trường hợp có thể kéo dài và để lại biến đổi nhân cách ở trẻ.

Hội chứng rối loạn stress sau sang chấn ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý người bệnh

Lâm sàng: Các triệu chứng lâm sàng của rối loạn stress phát triển có liên quan đến yếu tố chấn thương tâm lý quá mạnh, tác động trực tiếp tới người bệnh. 

Triệu chứng: Dấu hiệu điển hình của rối loạn stress sau sang chấn ở trẻ.

  • “Mảnh hồi tưởng” là trạng thái trẻ nhớ lại ký ức sang chấn lặp đi lặp lại, các giấc mơ thức hoặc giấc mơ ngủ.
  • Trẻ thường “sống lại” cơn ác mộng với trạng thái “tê cóng” và cùn mòn trong cảm xúc
  • Xa lánh mọi người, mất thích thú, né tránh những ký ức gợi lại nỗi chấn thương, Khó thích nghi trở lại với môi trường xung quanh.      

Chẩn đoán: Trẻ có yếu tố stress trong khoảng thời gian 6 tháng với triệu chứng điển hình liên quan đến “mảnh hồi tưởng” về stress kèm theo các rối loạn cảm xúc và rối loạn thần kinh thực vật.

Điều trị: Bằng liệu pháp tâm lý, thuốc giải lo âu và rối loạn giấc ngủ.

c/ Rối loạn sự thích ứng:

Rối loạn sự thích ứng là trạng thái đau khổ chủ quan và rối loạn ngắn hạn về mặt cảm xúc và hành vi khi trẻ phải đối mặt với các yếu tố gây căng thẳng và những thay đổi lớn trong cuộc đời.

Đặc điểm lâm sàng nổi bật của chứng rối loạn sự thích ứng là các rối loạn về khí sắc, thường xuất hiện trong vòng 1 tháng sau khi xảy ra sự kiện gây stress và kéo dài không quá 6 tháng. 

Triệu chứng: 

  • Buồn rầu, lo lắng, cảm giác mất khả năng đối phó
  • Trẻ xuất hiện hành vi chống xã hội như thách thức hoặc bốc đồng, bao gồm phá hoại và trễ nải việc học hành
  • Hay bồn chồn lo lắng hoặc căng thẳng quá mức
  • Rối loạn nhịp tim, co giật, run rẩy hoặc các triệu chứng thực thể khác.

Bệnh rối loạn hành vi ở trẻ em khiến bé có xu hướng bạo lực, hung hãn hơn so với bạn đồng trang lứa

Chẩn đoán: Có yếu tố gây sang chấn trong vòng 3 tháng trước đó, biểu hiện bằng các rối loạn cảm xúc và hành vi liên quan đến stress, bao gồm cả yếu tố thuộc về nhân cách và tiền sử bệnh của trẻ. Bệnh lý có thể sử dụng DASS-21 để sàng lọc.

Điều trị: Tâm lý liệu pháp là hình thức trị liệu phụ thuộc vào nhu cầu của trẻ, tập trung tháo gỡ các tác nhân gây căng thẳng và giải quyết vấn đề khúc mắc, giúp điều trị rối loạn giấc ngủ, bình thần, tăng cường thể trạng, nâng cao sức đề kháng bằng liệu pháp tâm lý cá nhân hoặc kết hợp với liệu pháp gia đình.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147