XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN LOẠN THẦN CẤP TÍNH

XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN

LOẠN THẦN CẤP TÍNH

 Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

1. KHÁI NIỆM

Loạn thần thường gặp ở khoa cấp cứu, có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, bao gồm: độc tính của các chất, các tình trạng bệnh lý và các rối loạn tâm thần. Can thiệp cấp cứu và điều trị có thể giúp bệnh nhân kiểm soát được bệnh.

Bác sĩ cấp cứu có thể yêu cầu trợ giúp từ các thành viên trong gia đình, họ có thể cung cấp thêm các thông tin đáng tin tưởng và trợ giúp các thông tin điều trị ngoại trú của bệnh nhân cho việc đánh giá ban đầu. Cần thiết phải có các loại thuốc sử dụng ngay lập tức để xử trí tình trạng cấp cứu tâm thần để bệnh nhân được khám xét và điều trị tiếp sau đó.

Loạn thần là sự khiếm khuyết trong việc đánh giá thực tại. Có thể dựa vào vô số các vấn đề sức khỏe nói chung và các rối loạn tâm thần để đánh giá. Thường thì loạn thần gây ra do sự tăng lên của các tác nhân stress. Biểu hiện của nó còn do năng lực cá nhân đối phó với những khủng hoảng, ngưỡng cảm xúc bị phá vỡ.

Dưới đây là những biểu hiện hay gặp của các bất thường:

−       Ảo giác: cảm nhận không bình thường của giác quan có được khi không hề có kích thích từ bên ngoài. Ảo giác thường gặp là ảo giác thính giác, ít gặp là thị giác, hiếm gặp hơn là xúc giác và khứu giác.

−       Hoang tưởng: niềm tin sai lầm tồn tại bền vững thường dựa vào suy luận không đúng về thực tại; ví dụ, một bệnh nhân tin tưởng rằng có một vài cảnh sát hay có ai đó đang đợi sẵn trên đường để bắt họ làm gì đó trái pháp luật để tách biệt họ ra khỏi cộng đồng.

−       Rối loạn tư duy: rối loạn về hình thức và sắp xếp các ý nghĩ. Các kiểu rối loạn tư duy bao gồm “tư duy phi tán” (tức là chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, các chủ đề không có liên quan nhau), “tư duy bị ứ đọng” (nghĩa là tư duy bị gián đoạn, dòng suy nghĩ bị chặn đứng lại), lai nhai (lặp lại các cấu trúc tư duy, các chủ đề thậm chí sau khi cuộc đối thoại đã kế thúc), tư duy rời rạc (xâu chuỗi các từ lại với nhau trong lời nói nhưng cả câu không có nghĩa (ví dụ, “một số bầu trời tạo ra ngày mai tai nghe”) và hoang tưởng (ý nghĩ, phán đoán sai lầm).

How Do Psychiatric Nurses & Psychiatric NPs Stay Safe on the Job?

Hình ảnh bệnh nhân tâm thần có thể: đầu tóc rối bời, thái độ ngớ ngẩn, thoải mái hoặc thù địch, tự vệ, vệ sinh răng miệng kém, ăn mặc nhiều lớp áo quần kỳ dị, tay cầm báo hoặc rác, mang nhiều túi xách chứa đủ đồ vô dụng mà họ tích trữ được; có những ý nghĩ nội dung kỳ quái, hoang tưởng, cảm xúc không phù hợp, cảm xúc cùn mòn…

2. KHÁM BỆNH NHÂN LOẠN THẦN

Để có thể phân loại đúng bệnh nhân loạn thần tại khoa cấp cứu, bác sĩ nên xác định rõ giai đoạn loạn thần là biểu hiện cấp tính hay là một biểu hiện của rối loạn mạn tính. Nếu có thể hãy liên lạc với bác sĩ điều trị ngoại trú của bệnh nhân để xác định những biểu hiện của bệnh nhân và có những thay đổi nào gần đây trong việc điều trị có thể gây ra tình trạng này, hay làm biểu hiện này đến sớm.

Schizophrenic patients and their first-degree relatives show an excess of mixed-handedness - Diethylstilbestrol DES

3. RỐI LOẠN LOẠN THẦN THƯỜNG GẶP TẠI KHOA CẤP CỨU

Loạn thần có thể dựa vào các lý do nội khoa như là co giật động kinh, sảng, viêm nhiễm, ung thư, bệnh nội tiết, và tổn thương hệ thần kinh trung ương. Loạn thần gây ra bởi dùng thuốc không có đơn của bác sĩ và một số trường hợp lạm dụng chất không vì lý do điều trị bệnh cũng được mô tả ở đây, cùng các rối loạn loạn thần thường thấy ở khoa cấp cứu.

Rối loạn thần kinh thực vật- Bệnh dễ bị chẩn đoán “nhầm”

3.1. Thuốc gây loạn thần

– Phencyclidin     

– Ketamin

– MDMA (3,4 – methylen dioxymethamphetamin)

– LSD (lysergic acid diethylamid)      

– Dextromethorphan        

3.2. Các bệnh lý

– Rối loạn lưỡng cực

– Rối loạn phân liệt cảm xúc      

– Rối loạn trầm cảm chủ yếu có loạn thần

– Rối loạn hoang tưởng

– Rối loạn nhân cách kiểu phân liệt

– Rối loạn loạn thần ngắn

– Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời      

– Rối loạn dạng phân liệt

– Tâm thần phân liệt      

4. LỰA CHỌN ĐIỀU TRỊ

Cách tiếp cận tốt nhất là xác định và điều trị tận gốc rễ gây loạn thần ngay trong đợt điều trị đầu tiên lên các triệu chứng loạn thần. Thuốc hướng thần dùng cấp cứu trong trường hợp đặc biệt có thể cần thiết với tình trạng cấp tính để kiểm soát cơn kích động ngay khi có thể. Đánh giá cho can thiệp cấp tính nên bao gồm đánh giá stress hiện tại, điều này có thể yêu cầu thêm các thông tin bổ sung.

20 triệu người Việt Nam có vấn đề về sức khỏe tâm thần

Nếu bệnh nhân không hợp tác, không ổn định, giận dữ và bực bội và có thể gây nguy hiểm cho bản thân và người khác thì phải cách ly, cố định; phối hợp chăm sóc bệnh nhân với các thành viên gia đình nên được thiết lập. Bệnh nhân điều trị ngoại trú nên được liên lạc để có thông tin về bệnh sử, bất kể thay đổi nào trong điều trị cũng có thể đưa đến tình trạng hiện tại.

4.1. Thuốc

Thuốc hướng thần bao gồm thuốc chống loạn thần không điển hình (là nhóm gây rối loạn trương lực), giả Parkinson và loạn động muộn thấp hơn so với thuốc chống loạn thần cổ điển. Chúng có tác dụng điều trị triệu chứng dương tính của tâm thần phân liệt và có hiệu quả cao hơn chống loạn thần cổ điển trong điều trị triệu chứng âm tính.

Quản lý tuân thủ điều trị được tăng lên với chỉ định tiêm bắp thịt thuốc chống loạn thần không điển hình có thời gian tác động kéo dài (ví dụ thuốc risperidon (risperdal consta) mỗi 2 tuần). Việc dùng thuốc hòa tan và nhanh phân tán có thể làm giảm việc bệnh nhân giấu thuốc.

4.2. Tiêu chuẩn chỉ định nhập viện

Nguy hiểm cho bản thân (nguy cơ cao tự sát ở bệnh nhân loạn thần) hoặc đe dọa nguy hiểm tới người khác; mất khả năng tự phục vụ bản thân vì bệnh tâm thần; không thể chăm sóc bản thân hay thiếu hệ thống hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân, về việc cung cấp thức ăn, quần áo, nơi ở và tiếp tục quản lý y tế; khủng hoảng hay căng thẳng nặng nề mặc dù đã được can thiệp cấp cứu; ngộ độc, không có phương tiện hỗ trợ giải độc; bệnh trầm trọng lên vì không tuân thủ điều trị; điều trị thất bại vì thiếu hệ thống hỗ trợ. Do vậy, cần các phương pháp đặc biệt như ECT và EMS.

Chỉ định sốc điện chuyển nhịp - Phòng khám Siêu âm Tim mạch BS Phạm Xuân Hậu

Phương Pháp Sốc Điện Chữa Loạn thần

Có thể cho về nhà điều trị nếu bệnh nhân hội đủ tiêu chuẩn sau: không có tự sát, giết người, hay mất khả năng tự nuôi sống bản thân. Có thể theo đuổi điều trị ngoại trú khi có đủ thuốc cho tới lần hẹn khám bệnh ngoại trú tiếp theo; có hệ thống hỗ trợ đầy đủ để tiếp tục với tình trạng hiện tại (không cần thiết phải nhập viện). Bệnh nhân cần được trở lại khoa cấp cứu nếu có cấp cứu tâm thần hay y khoa khác.

5. MỘT SỐ LƯU Ý VỚI GIAI ĐOẠN LOẠN THẦN ĐẦU TIÊN

Thông thường khi nói đến tỷ lệ tử vong cao của bệnh nhân trong vòng 12 tháng sau chẩn đoán người ta thường nghĩ đến các căn bệnh về ung thư; tuy nhiên, những người trẻ mắc các rối loạn tâm thần giai đoạn đầu, sau chẩn đoán nếu không được quan tâm và điều trị kịp thời thì tỷ lệ tử vong của những người này so với những người bình thường cũng rất cao. Theo tài liệu của Mỹ công bố năm 2015, tự sát là nguyên nhân gây chết đứng hàng thứ 5 sau bệnh lý tim mạch, ung thư, sự cố y khoa và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Hầu hết những người tự sát là do bệnh lý tâm thần, đặc biệt có một tỷ lệ cao ở những người trẻ được chẩn đoán rối loạn tâm thần giai đoạn đầu.

5.1. Rối loạn tâm thần

Rối loạn tâm thần (psychosis) dùng để chỉ tình trạng bất thường của tâm trí và được miêu tả là mất liên hệ với thực tại. Cụ thể, người có rối loạn tâm thần thường gặp khó khăn khi phân biệt giữa những gì là thật và những gì là không thật trong cuộc sống. Rối loạn tâm thần thường xuất hiện lần đầu ở giai đoạn muộn của tuổi thanh thiếu niên hoặc ở lứa tuổi 20. Trong mặt bằng chung của dân số, rối loạn tâm thần có tỷ lệ khoảng 3/100 người. Nó xảy ra ở cả nam giới, nữ giới và trên tất cả các nền văn hóa cũng như các tầng lớp xã hội. Một số triệu chứng điển hình của rối loạn tâm thần như: thay đổi cảm xúc, mất niềm tin vào cuộc sống, thay đổi nhận thức, thay đổi hành vi… Và cũng có rất nhiều loại bệnh lý rối loạn tâm thần: tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lo âu, rối loạn nhân cách… Rối loạn tâm thần tiến triển qua nhiều giai đoạn; tuy nhiên, giai đoạn đầu của rối loạn tâm thần hiện nay được các nhà tâm thần học rất quan tâm.

5.2. Giai đoạn đầu của rối loạn tâm thần

Giai đoạn đầu của rối loạn tâm thần (first episode of psychosis) được định nghĩa là lần đầu tiên một người trải qua một giai đoạn rối loạn tâm thần. Với những người trải qua giai đoạn đầu của rối loạn tâm thần thường rất đáng sợ, khó hiểu và gây phiền toái cho cả người bệnh và người thân của họ. Vì đây là lần đầu tiên nên cả người bệnh và những người thân của họ đều tỏ ra bối rối. Đôi khi sự thiếu hiểu biết và những suy nghĩ tiêu cực cũng như quan niệm sai lầm của người nhà bệnh nhân liên quan đến bệnh rối loạn tâm thần có thể làm tăng thêm sự đau khổ và đôi khi là cái chết cho người bệnh; thậm chí nhiều gia đình còn dấu kín và không đem người thân bị rối loạn tâm thần đến các cơ sở điều trị bệnh tâm thần để khám và điều tri. Các bác sĩ tâm thần và các nghiên cứu đã chứng minh rằng những người mắc bệnh rối loạn tâm thần có thể điều trị. Nhiều người có thể hồi phục sau giai đoạn đầu của rối loạn tâm thần và không bao giờ trải qua một cơn bệnh tâm thần nào khác.

RESEARCH WEEKLY: Death and First–Episode Psychosis - Treatment Advocacy Center

Nghiên cứu do Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia (National Institute of Mental Health – NIMH) và Viện Y tế Quốc gia Mỹ (the National Institutes of Health) mới đây cho thấy những người trẻ tuổi đã từng trải qua những triệu chứng rối loạn tâm thần giai đoạn đầu mà không được chăm sóc y tế có tỷ lệ tử vong cao hơn nhiều so với người bình thường trong cùng độ tuổi. Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu về khoảng 5.000 người trong độ tuổi 16 – 30 đã được chẩn đoán rối loạn tâm thần trong vòng 12 tháng đầu sau chẩn đoán, những người này có tỷ lệ theo dõi của các bác sĩ thấp cũng như việc hạn chế trong việc dùng thuốc chống loạn thần và điều trị tâm lý. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nhóm này có tỷ lệ tử vong cao hơn ít nhất 24 lần so với những người cùng độ tuổi trong mặt bằng dân số Mỹ nói chung.

Đây là lời cảnh báo cho chúng ta biết rằng những người trẻ tuổi bị rối loạn tâm thần cần được hỗ trợ về mặt lâm sàng và tâm lý xã hội một cách sâu sắc, sớm nhất và kịp thời nhất để tránh những hậu quả nặng nề xảy ra cho người bệnh cũng như gia đình của họ. Khi thấy người thân có biểu hiện bất thường trong cuộc sống, sinh hoạt, công việc, những thay đổi về cảm xúc, hành vi, tư duy, tri giác… cần đưa họ đi khám và điều trị kịp thời để bệnh chóng ổn định; tránh việc ngại ngùng, che dấu bệnh. Khi được chẩn đoán có rối loạn tâm thần cần điều trị tích cực, không nên đi cúng, đi lễ…

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN KÍCH ĐỘNG

 XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN KÍCH ĐỘNG

   Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

NHỮNG ĐIỂM CHUNG 

Kích động là trạng thái hưng phấn tâm lý vận động quá mức, không phù hợp với hoàn cảnh và thường mang tính chất phá hoại, nguy hiểm. Nguyên nhân của kích động thường do bệnh lý tâm thần, bao gồm: thuốc, rượu, lạm dụng chất và các rối loạn tâm thần nguyên phát hoặc cơn kích động động kinh.

Khi xử trí, cần tìm kiếm các dấu hiệu sinh tồn bất thường và xác định nguyên nhân. Điều trị bệnh nhân với sự tôn trọng và để cho họ thấy được bạn ở đó để giúp giải quyết nguyên nhân cơn giận dữ của họ.

5 hậu quả nếu không chữa trị bệnh tâm thần hoang tưởng kịp thời

Có lối thoát sẵn, giữ khoảng cách an toàn với bệnh nhân, có nhân viên bảo vệ để ngăn cản hành vi gây hấn về phía mình hoặc những người khác. Đừng cố gắng làm giảm kích động chỉ bằng lời nói trước một bệnh nhân có dấu hiệu tăng thù địch hoặc hoang tưởng suy đoán.

Bệnh nhân kích động, hung dữ có thể là một thách thức về chẩn đoán và điều trị cho thầy thuốc khoa cấp cứu. Để đến một kế hoạch can thiệp thích hợp, hữu ích khi có khả năng thực thi được thì cần theo dõi quan sát bệnh nhân, thực hiện một khám xét cơ thể, xem xét lại bất cứ xét nghiệm nào; tiếp theo là đánh giá ban đầu và xem xét việc cho bệnh nhân nhập viện.

Kích động hay gặp ở những bệnh nhân tâm thần và lạm dụng chất. Nguy cơ này có thể cao gấp 3 đến 4 lần với dân số bình thường. Tuy nhiên, bản thân hành vi bạo lực không chỉ là sự hiện diện của bệnh tâm thần hoặc lạm dụng chất.

KHÁM BỆNH
2.1. Hỏi bệnh bệnh nhân bạo lực

Trước khi thầy thuốc khoa cấp cứu tiến hành hỏi bệnh, bệnh nhân nên được giám sát bởi nhân viên bảo vệ để tránh họ mang bất kỳ vũ khí hoặc dụng cụ nào. Nên có một thành viên trợ giúp nữa để hỗ trợ. Người thầy thuốc nên đối xử với bệnh nhân bằng thái độ tôn trọng, nhẹ nhàng.5 Critical Questions to Ask Every PatientTrước khi bắt đầu hỏi bệnh, bác sĩ cần cần đề nghị bệnh nhân:

−   Tự giới thiệu về mình và trấn an bệnh nhân rằng bạn sẽ cố gắng nhận ra và giải quyết nguyên nhân nỗi đau buồn của họ.

−   Trình bày lại vấn đề như là bạn hiểu nó và hỏi bất kỳ câu hỏi rõ ràng nào trong sự đồng cảm và với giọng không chỉ trích.

−   Hỏi về nỗi đau buồn thân thể, tình trạng đói và khát, việc cung cấp thuốc giảm đau, thức ăn và nước uống nếu cần thiết. 

Điều quan trọng để biết chắc mức độ nguy cơ kích động trong những phút đầu tiên của cuộc phỏng vấn là quan sát các dấu hiệu của người bệnh nhân như: leo thang, ghì chặt hàm hoặc tay duỗi thẳng sau cột sống, bước đi dài, chửi rủa và đe dọa bằng lời nói. Điều này có thể tiến tới đập mạnh đồ đạc, đóng sầm cửa, xâm phạm khoảng trống cá nhân, đấm, đá hoặc hành hung bằng các cách khác như là cắn, kéo, bóp cổ.

Chúng ta cần phải có sự thận trọng và tri giác tốt. Điều nguy hiểm là tiếp tục cuộc phỏng vấn dài dòng, buồn chán với một bệnh nhân kích động tiềm tàng. Các chi tiết nổi bật và cần thiết nên giành được và một đánh giá chi tiết hơn có thể được thực hiện khi bệnh nhân êm dịu hơn và đã có tư thế ít nguy cơ hơn. 

Nếu bệnh nhân thể hiện các ý nghĩ làm hại một người đặc biệt thì người đó nên được thông báo để họ có các phương pháp bảo vệ thích hợp. Hãy khai thác thêm các thông tin từ gia đình, bạn bè và những người khác biết về bệnh nhân nếu có thể.

2.2. Đối phó với một cuộc tấn công của bệnh nhân kích động

Nếu bạn bị tấn công, điều quan trọng là phải làm lệch các cú đấm đá ra xa khỏi các vùng trọng yếu của cơ thể, gọi để được cứu giúp và chạy trốn nếu cần thiết để cứu lấy chính bạn khỏi bị trọng thương. Nếu bạn bị bắt và kẹp cổ, sự thức tỉnh có thể bị mất trong ít nhất 20 giây, một hành động tức thì là bắt buộc phải có. Để tự giải phóng chính mình thì cần thu cằm của bạn lại để bảo vệ đường thở, hét thật to để làm cho bệnh nhân giật mình, đạp mạnh vào chân của bệnh nhân, áp dụng các kích thích cơ thể khác để phá vỡ sự bắt giữ, kêu gọi cứu giúp nếu có ai đó ở gần. Trong thời gian ngắn bạn có thể làm bất cứ điều gì trước mắt cần thiết vì chấn thương nguy hiểm đến tính mạng nếu cuộc tấn công đe dọa tính mạng, và không thể chạy trốn.

22,200+ Angry Patient Stock Photos, Pictures & Royalty-Free Images - iStock | Nurse with angry patient, Angry patient with doctor, Angry patient hospital

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, cần có nhân viên bảo vệ và nhân viên hỗ trợ khác, để cuộc phỏng vấn bệnh nhân diễn ra ở chỗ rộng và đằng sau một hàng rào chắn sẽ ngăn chặn các tai nạn xảy ra. Hầu hết các cuộc tấn công chết người đều do phớt lờ những lời khuyên nhủ, hoặc chỉ có một mình thầy thuốc với bệnh nhân trong phòng mà không có biện pháp phòng ngừa cơ bản nào.

2.3. Các xét nghiệm cận lâm sàng

Các xét nghiệm bao gồm: xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu, xét nghiệm sinh hóa, tổng phân tích tế bào máu, tổng phân tích nước tiểu. Quyết định thực hiện các thử nghiệm khác nên dựa trên tiền sử và khám xét thực thể.

Bác sĩ hướng dẫn cách đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu

2.4. Đánh giá và chẩn đoán phân biệt

Thầy thuốc lâm sàng phải nhạy cảm khi đưa ra chẩn đoán vì thực tế là các hành vi xung động, gây hấn thay đổi và phức tạp về nguyên nhân và biểu hiện. 

Ví dụ: bệnh nhân hưng cảm có khuynh hướng nói nhiều, nói to, không ổn định và thường mỉa mai, đòi hỏi; ngược lại bệnh nhân tâm thần phân liệt có thể biểu hiện rối loạn tổ chức trong ý nghĩ và cách nói, biểu lộ một hội chứng paranoid và tin tưởng hệ thống vào hoang tưởng kỳ quái; bệnh nhân bị nhiễm độc có thể biểu lộ một mùi rượu, hoặc các dấu hiệu lạm dụng thuốc như là dấu kim tiêm, rung giật nhãn cầu, run.

Bệnh Tâm Thần Phân Liệt Thể Paranoid Và Những Điều Cần Biết

Khám xét toàn diện là một phần quan trọng của đánh giá chẩn đoán và nên bao gồm một khám xét cơ thể, nếu có thể, xem xét lại các dấu hiệu sinh tồn và tiền sử bệnh tật. Bệnh nhân thỏa hiệp có thể biểu hiện các dấu hiệu của một bệnh cơ thể đặc biệt (như xanh tím, vàng da, hoặc các dấu hiệu không đặc biệt như là không tập trung, mức độ tỉnh táo thay đổi, các dấu hiệu sinh tồn bất thường).

Các bệnh tâm thần cũng nên được xem xét trong nhiều chẩn đoán khác nhau. Các hành vi bạo lực có liên quan rất thường xuyên với rối loạn lưỡng cực, các giai đoạn loạn thần với hoang tưởng suy đoán nổi bật, ảo giác sinh động, rối loạn stress sau sang chấn (PTSD), các rối loạn nhân cách đặc trưng bởi chống đối xã hội, tự chú ý, ranh giới, các kiểu đạo đức giả tạo. Có thể có nhiều hơn một trong các nét tiêu biểu này xuất hiện ở một bệnh nhân.

Bệnh hoang tưởng là gì? Nguyên nhân và dấu hiệu nhận biết của bệnh hoang tưởng

Trầm cảm có thể liên quan với kích động bạo lực theo các hướng khác, và nguy cơ này được tăng lên nếu các đặc điểm loạn thần hiện diện (như có thể là trường hợp trầm cảm sau sinh, trầm cảm chủ yếu nghiêm trọng với các hoang tưởng hư vô).

Một tiền sử trước đây của các giai đoạn kích động là một sự dự báo mạnh mẽ của sự kích động trong tương lai và nên được gắn với trách nhiệm khi xác định tính tình, sắp xếp bệnh nhân, sự kết hợp rối loạn nhân cách, lạm dụng rượu, chất và bệnh tâm thần nghiêm trọng làm tăng nguy cơ bạo lực trong một phương thức tích lũy.

Thêm vào các trạng thái loạn thần đã được đề cập ở trên, các hành vi bạo lực cũng có liên quan đến mất khả năng độc lập và mất trí của bất kỳ nguyên nhân nào, nhưng đặc biệt có liên quan đến bệnh lý của vùng não trán trước trên ổ mắt hoặc các đột quỵ phía bên phải. 

Nghiện rượu, người đàn ông nhập viện tâm thần

Hội chứng cai một chất, sảng, rối loạn hoang tưởng, sang chấn cảm xúc cấp, rối loạn điều chỉnh đôi khi cũng có liên quan.

XỬ TRÍ CẤP CỨU

Sau khi thầy thuốc lâm sàng đã xác định được các thuốc nào có hiệu quả trong quá khứ, bệnh nhân có thể được đề nghị một lựa chọn thuốc đó và dùng đường uống. Nếu dùng đường uống bị từ chối và có một mối nguy hiểm dai dẳng từ sự kích động, bệnh nhân phải được điều trị bằng sự kết hợp một an thần và lorazepam tiêm bắp. Bất kỳ benzodiazepin nào cũng có thể dùng đường uống, nhưng chỉ lorazepam thực sự được hấp thu qua đường tiêm bắp. Lorazepam có thể dùng đường tiêm tĩnh mạch với liều từ 1 – 3mg tùy thuộc vào thể trạng, cân nặng của bệnh nhân và mức độ kích động. 

Lorazepam là thuốc gì? Công dụng và liều dùng

Điều quan trọng cần chú ý là lorazepam tiêm tĩnh mạch bị chống chỉ định nếu bệnh nhân đang dùng clozapin, vì đã có một số ca ngừng thở và chết vì sự kết hợp này. Việc sử dụng nó cũng nên tránh nếu nồng độ rượu trong máu cao hoặc có sự nghi ngờ bị nhiễm độc các thuốc ngủ gây an dịu.

Các thuốc an thần không điển hình đã trở thành phổ biến dùng dạng tiêm bắp và đã chứng minh cho tính hiệu quả của nó. Tuy nhiên, nó có khuynh hướng đắt tiền và không thể có sẵn trong khoa cấp cứu.

XỬ TRÍ LÂU DÀI

Xử trí lâu dài bệnh nhân bạo lực là xác nhận tính chính xác của chẩn đoán và điều trị các phức bộ triệu chứng đặc biệt.

Đối với bệnh nhân trầm cảm, các thuốc chống trầm cảm bao gồm chống trầm cảm ba vòng, các thuốc ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRIs) có thể hữu ích. Có bằng chứng là SSRIs có thể làm tăng bạo lực cho chính bệnh nhân và người khác trong một vài tuần đầu tiên của điều trị, nên sự theo dõi sát trong thời kỳ này được khuyến cáo. Một số vai trò làm giảm hành vi gây hấn và xung động có thể hiện diện trong các tác nhân một cách độc lập với tác dụng chống trầm cảm của chúng.

Lithium được sử dụng làm giảm sự gây hấn. Các thử nghiệm kinh điển đã chỉ ra nó có hiệu quả cho xung động gây hấn độc lập với các tác dụng chống hưng cảm của thuốc. Các thuốc chống co giật cũng được sử dụng với một số thành công trong việc làm giảm xung động và gây hấn.

Thuốc giải lo âu không phải benzodiazepin, buspiron (BuSpa) được sử dụng như một tác nhân tại các thời điểm trầm cảm, lo âu, bồn chồn, gây hấn.

Các thuốc phong bế thụ thể beta được sử dụng để điều trị gây hấn. Propranolol (inderal) được sử dụng cho hành vi gây hấn có liên quan tới chứng đứng ngồi không yên trong những liều thấp từ 10 – 20mg, uống 3 – 4 lần/ngày. Liều lượng này đòi hỏi chuẩn độ tăng lên để tránh các tác dụng phụ (như chậm nhịp tim, chóng mặt liên quan đến giảm huyết áp), nó được sử dụng ở những liều chuẩn độ từ từ cao hơn trong các trường hợp xung động có liên quan dến tổn thương não và trong các bệnh nhân bị rối loạn bùng nổ từng cơn. Liều tới 100mg chia nhiều lần thường được sử dụng. Giảm liều từ từ là cần thiết trước khi ngừng hẳn thuốc phong tỏa thụ thể beta như propranolol để tránh xuất hiện các triệu chứng bật trở lại như nhịp tim nhanh, lo âu.

Các thuốc phong bế thụ thể alpha và beta có hữu ích trong các ác mộng có liên quan với rối loạn stress sau sang chấn và đã được sử dụng cho xung động trong mất trí. Thuốc phong bế beta được sử dụng cho bệnh nhân kích động mạn tính gồm có nalodal uống 40 – 120mg/ngày, metoprolol 200 – 300mg/ngày. Clonidin và guanfacin cùng có thể hữu ích cho một số bệnh nhân.

Các benzodiazepin (như clonazepam) có thể hữu ích trong một số trường hợp có xung động gây hấn. Mất ức chế đã được báo cáo như là tác dụng phụ của của liệu pháp benzodiazepin; nếu điều này xảy ra nó nên được chú ý trong tiền sử bệnh nhân và trong tương lai, việc sử dụng các benzodiazepin nên tránh.

Các thuốc kích thích tâm thần có thể có một số tác dụng cho các xung động gây hấn ở trẻ em bị rối loạn giảm chú ý (ADD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Nó cũng có thể có tác dụng cho các triệu chứng còn lại của ADHD ở người lớn; bupropion và desipramin cũng được sử dụng cho rối loạn này với lợi ích cho một số bệnh nhân.

LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC

Tham khảo các chương trình xử trí kích động sử dụng tiếp cận tâm lý trị liệu là hữu ích. Trong các chương trình này các bệnh nhân được học các kỹ thuật không bạo lực về sự tự khẳng định mình (như diễn tả sự làm mất tác dụng và nỗi đau buồn của họ bằng lời nói thay vì thân thể), kiểm tra các ý nghĩ của họ và sự phân tích chúng từ các phản ứng hành vi tự động.

Tâm Lý Trị Liệu Là Gì? 8 Phương Pháp Trị Liệu Phổ Biến Hiện Nay - Tâm Lý Học

Liệu pháp nhóm với các cá nhân khác mà họ đang cố gắng đối phó với các vấn đề kích động có thể cũng có kết quả. Tuy nhiên, các phương pháp như vậy không nên được sử dụng độc lập trong việc đánh giá các nguyên nhân có thể khác của hành vi kích động như hoang tưởng suy đoán và rối loạn lưỡng cực với xung động hưng cảm.

Hậu quả pháp lý của những lời đe dọa và các hành động kích động có thể ngăn chặn, làm thoái chí sau khoảng thời gian dài

KINH NGHIỆM XỬ TRÍ KÍCH ĐỘNG CỦA CHÚNG TÔI

−   Hỏi gia đình và người hộ tống để sơ bộ tìm hiểu nguyên nhân, hoàn cảnh phát sinh trạng thái kích động.

−   Tìm liệu pháp tâm lý thích hợp làm dịu ngay tình trạng kích động của bệnh nhân như: giải thích, an ủi hoặc cởi trói cho bệnh nhân.

−   Nếu bệnh nhân đồng ý cho khám bệnh cần phải khám ngay toàn thân, các thương tích, dấu hiệu thần kinh khu trú, tình trạng nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc.

−   Nếu bệnh nhân không cho khám bệnh thì cần phải cố định và tiêm các loại thuốc như: haloperidol, seduxen, gardenan; không nên tiêm aminazin.

−   Đối với rối loạn tâm thần nội sinh như: tâm thần phân liệt, kích động của pha hưng cảm của rối loạn cảm xúc lưỡng cực, nhân cách bệnh đã mạn tính có thể dùng aminazin theo cách sau:

+   Aminazin 25mg x 3 – 4 ống; haloperidol 5mg x 1 – 2 ống; pipolphen 0,05 x 1 ống, trộn lẫn tiêm bắp sâu; gardenan 0,2 x 1 ống, tiêm bắp. Nếu không hết kích động thì tiêm nhắc lại liều thuốc như trên từ 2 – 3 lần cách nhau 6 – 8 giờ.

+   Những rối loạn tâm thần nội sinh mới điều trị lần đầu hoặc rối loạn tâm thần ở người cao tuổi đã điều trị nhiều lần thì có thể cho tiêm: haloperidol 5mg x 1 – 2 ống và pipolphen 0,05 x 1 ống, trộn lẫn tiêm bắp sâu; gardenan 0,2 x 1 ống, tiêm bắp. Có thể dùng thêm seduxen 10mg x 1 ống, glucose 30% x 10ml trộn lẫn tiêm tĩnh mạch chậm. Liều thuốc trên có thể nhắc lại 2 – 3 lần cách nhau 6 – 8 giờ.

−   Nếu không có các thuốc trên thì bắt buộc phải tiêm aminazin nhưng cần tiêm liều nhỏ tăng dần và phải cố định tốt không để bệnh nhân đứng dậy đột ngột gây hạ huyết áp tư thế. Cụ thể là:

  •   Giờ đầu: aminazin 25mg x 1 – 2 ống, tiêm bắp sâu.
  •   Nếu chưa hết kích động thì giờ thứ 2 – 3 tiêm tiếp: aminazin 25mg x 2 – 4 ống, pipolphen 0,05 x 1 ống, dimedron 0,1 x 1 – 2 ống trộn lẫn tiêm bắp sâu.

+   Nếu giờ thứ 6 chưa hết kích động, tiếp tục tiêm liều thuốc như giờ thứ 3. Thời gian dùng thuốc tiêm từ 3 – 5 ngày liền. Song song với tiêm thuốc trấn tĩnh cần phải truyền dịch bù nước, điện giải và giải độc. Khi bệnh nhân tỉnh dậy cần phải động viên cho bệnh nhân ăn uống và thầy thuốc phải có mặt ngay để làm liệu pháp tâm lý hợp lý cho bệnh nhân. Khi bệnh nhân hết trạng thái kích động cho bệnh nhân uống thuốc và theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc, tìm nguyên nhân cụ thể để điều trị theo nguyên nhân. Các trường đặc biệt cần thiết thì phải làm sốc điện kết hợp.

−   Đối với rối loạn tâm thần thực tổn như: rối loạn tâm thần do nhiễm khuẩn, do chấn thương sọ não, do nội tiết, do mạch máu não, do sốt rét, do nhiễm độc,… việc dùng thuốc hướng tâm thần đặc biệt là thuốc trấn tĩnh phải hết sức thận trọng. Nếu cần chỉ nên dùng các thuốc an tĩnh như seduxen, valium,… nhưng điều chủ yếu phải điều trị nguyên nhân mới có kết quả. Song song với dùng thuốc cần phải truyền dich để bù nước, điện giải và giải độc cho bệnh nhân.

−   Chăm sóc hộ lý: quản lý bệnh nhân ở buồng riêng, khu vực riêng để tránh ồn ào ảnh hưởng đến bệnh nhân khác; buồng bệnh phải thoáng mát, dễ quan sát, không để bệnh nhân tiếp xúc với các vật dụng nguy hiểm. Theo dõi sát cho đến khi bệnh nhân ngủ yên.

Hộ lý là gì, những đặc điểm khác biệt so với điều dưỡng

−   Kết hợp thuốc và liệu pháp tâm lý có thể hiệu quả hơn phương thức chỉ dùng một loại. Xử lý lâu dài bệnh nhân có khuynh hướng bối rối bạo lực trong điều trị liên tục với các nhà điều trị khác nhau, sử dụng các thuốc tác dụng kéo dài.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN HƯNG CẢM CẤP TÍNH

XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN HƯNG CẢM CẤP TÍNH

                      Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

KHÁI NIỆM

Tùy thuộc vào thể và giai đoạn của bệnh mà các triệu chứng biểu hiện ở mỗi bệnh nhân là khác nhau. Những bệnh nhân có ý nghĩ hoặc dự định tự sát có thể cần được điều trị cấp cứu tại bệnh viện tâm thần. Những bệnh nhân mới được chẩn đoán nên được khám và đánh giá toàn diện về sức khỏe cơ thể và tâm thần.

Các loại rối loạn lưỡng cực:

  • Rối loạn lưỡng cực I: bệnh nhân đã từng bị ít nhất một giai đoạn hưng cảm điển hình với nhiều giai đoạn trầm cảm chủ yếu.
  • Rối loạn lưỡng cực II: hiếm có biểu hiện hưng cảm mạnh. Thay vào đó họ trải qua các giai đoạn hưng cảm nhẹ (tính hấp tấp, bốc đồng nhưng không mạnh mẽ như các triệu chứng của hưng cảm). Các giai đoạn hưng cảm này luân phiên với các giai đoạn trầm cảm chủ yếu.

Một dạng nhẹ của rối loạn lưỡng cực được gọi là khí sắc chu kỳ đặc trưng bởi các giai đoạn hưng cảm nhẹ và trầm cảm nhẹ với những dao động khí sắc ít nghiêm trọng. Những bệnh nhân rối loạn lưỡng cực II hoặc rối loạn khí sắc chu kỳ có thể được chẩn đoán nhầm là trầm cảm.

Những điều bạn nên biết về bệnh rối loạn lưỡng cực - Tư vấn tâm lý

Rối loạn lưỡng cực được ước lượng gây tác động đến 4% dân số Mỹ, với chi phí hàng năm trên 45 tỷ đô la. Tỷ lệ rối loạn lưỡng cực trong đời là 1% so với 6% của trầm cảm đơn cực. Tính phổ biến của rối loạn lưỡng cực I không khác nhau ở nam và nữ, trong khi đó rối loạn lưỡng cực II phổ biến ở nữ hơn nam. Rối loạn lưỡng cực tác động đến con người ở mọi lứa tuổi.

Hậu quả: Rối loạn lưỡng cực gây tử vong đáng kể bao gồm: tự sát và ảnh hưởng có hại đến xã hội và chức năng nghề nghiệp, làm tăng nguy cơ ly dị và thất nghiệp. Tự sát gây chết xảy ra xấp xỉ 10 – 15% bệnh nhân có rối loạn lưỡng cực I. Hơn một nửa số bệnh nhân có rối loạn lưỡng cực I có tiền sử lạm dụng chất. Có một tỷ lệ cao liên quan giữa lạm dụng cocain và rối loạn lưỡng cực. Một vài nghiên cứu cho thấy khoảng 30% bệnh nhân lạm dụng rượu, thuốc gây nghiện có đủ các tiêu chuẩn cho rối loạn lưỡng cực.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Tỷ lệ mắc rối loạn lưỡng cực cao hơn ở những người có biến chứng xung quanh thời điểm khi được sinh ra. Những trẻ em mất cha hoặc mẹ sớm trong đời có vẻ dễ phát triển bệnh hơn ở thời kỳ trưởng thành.

Rối loạn lưỡng cực là gì? Dấu hiệu triệu chứng của bệnh?

Tiền sử gia đình có người mắc rối loạn trầm cảm hoặc rối loạn lưỡng cực cũng làm tăng nguy cơ mắc rối loạn lưỡng cực.

ĐÁNH GIÁ VÀ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Rối loạn lưỡng cực có thể khó được nhận ra nếu các triệu chứng của hưng cảm và trầm cảm không rõ ràng trong các pha ban đầu của bệnh. Rối loạn lưỡng cực có liên quan với tỷ lệ cao về tự sát, lạm dụng chất. Việc nhận định sớm và xử trí thích hợp có thể cải thiện kết quả điều trị.

3.1. Rối loạn lưỡng cực I – pha hưng cảm

Giai đoạn này kéo dài từ vài ngày tới vài tháng, bao gồm:

−   Tăng khí sắc.

−   Quá trình tư duy nhanh.

−   Tăng hoạt động.

−   Tăng năng lượng.

−   Thiếu khả năng tự kiểm soát.

−   Khoa trương với các hoang tưởng, có điệu bộ oai vệ, tin tưởng có năng lực siêu nhân đặc biệt.

−   Thu hút tâm trí vào các hoạt động có mục đích: xã hội, lao động, tình dục.

−   Hành vi coi thường, lôi cuốn mạnh mẽ vào các hoạt động yêu thích có nguy cơ gây ra hậu quả quá đáng: đầu tư kinh doanh không hiệu quả, mua sắm vô độ,…

−   Ăn uống say sưa.

−   Giảm hoặc ít nhu cầu ngủ.

−   Kích động hoặc kích thích và tâm trạng không ổn định.

−   Rối loạn cảm xúc có thể đủ nghiêm trọng để gây ra suy giảm rõ ràng chức năng nghề nghiệp hoặc hoạt động xã hội thông thường hoặc mối quan hệ với người khác hoặc cần thiết nhập viện để ngăn chặn tác hại đối với người khác và chính họ. Các dấu hiệu loạn thần như các hoang tưởng, ảo giác có thể nổi bật.

Dễ bị kích động là vì sao và nên xử lý bằng cách nào

Dễ bị kích động và tâm trạng không ổn định có thể là dấu hiệu của RLLC I

3.2.  Rối loạn lưỡng cực II – pha hưng cảm nhẹ

Pha này có thể kéo dài 4 ngày. Các triệu chứng tương tự như những gì đã thấy trong pha hưng cảm của rối loạn lưỡng cực I nhưng cường độ nhẹ hơn. Các rối loạn đó bao gồm:

−   Khoa trương lòng tự trọng hoặc hoang tưởng khuếch đại.

−   Giảm nhu cầu ngủ.

−   Nói quá nhiều.

−   Tư duy phi tán.

−   Rối loạn chức năng thực hiện.

−   Tăng hoạt động có mục đích, kích động tâm thần vận động.

−   Rối loạn cảm xúc không đủ nghiêm trọng để gây ra suy giảm rõ ràng về mặt xã hội hoặc chức năng nghề nghiệp, cũng chưa nguy hiểm đến mức phải nhập viện và thường không có triệu chứng loạn thần. So với rối loạn lưỡng cực I, rối loạn lưỡng cực II yếu hơn về cường độ, ít nghiêm trọng hơn, không có triệu trứng loạn thần và không gây ra suy giảm rõ ràng.

Rối loạn hoang tưởng: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách điều trị

Khoa trương lòng tự trọng hoặc hoang tưởng khuếch đại có thể là dấu hiệu của RLLC II

3.3. Rối loạn lưỡng cực I và II – pha trầm cảm

Trong cả hai loại của rối loạn lưỡng cực, trầm cảm có triệu chứng rất nặng bao gồm:

−   Buồn dai dẳng.

−   Mệt mỏi và bơ phờ.

−   Rối loạn giấc ngủ như là quá buồn ngủ hoặc không có khả năng ngủ.

−   Rối loạn ăn uống.

−   Ăn mất ngon, giảm cân hoặc ăn nhiều, tăng cân.

−   Cảm thấy tuyệt vọng, không xứng đáng, tội lỗi.

−   Khó tập trung, khó ra quyết định, giảm trí nhớ.

−   Giảm sút quan hệ bạn bè.

−   Giảm sút hoạt động ưa thích.

−   Suy nghĩ dai dẳng về cái chết dẫn đến ý tưởng và hành vi tự sát.

Bệnh trầm cảm - nó đáng sợ như thế nào? | VIAM

   Rối loạn lưỡng cực có nguy cơ tự sát cao.

Trong từng thời kỳ của mỗi giai đoạn, các bệnh nhân đều có thể lạm dụng rượu, các chất gây hại khác. Điều này làm cho các triệu chứng trở nên xấu thêm.

3.4. Rối loạn lưỡng cực loại hỗn hợp

Trong rối loạn lưỡng cực loại hỗn hợp có sự chồng chéo giữa các pha hưng cảm và trầm cảm. Các triệu chứng hưng cảm và trầm cảm có thể xảy ra đồng thời hoặc kế tiếp nhau nhanh chóng.

3.5. Rối loạn lưỡng cực chu kỳ nhanh

Chu kỳ nhanh xảy ra tới 20% các ca rối loạn lưỡng cực. Các thời kỳ hưng cảm và trầm cảm thay phiên nhau thường xuyên; điều này xảy ra ít nhất 4 lần trong một năm. Trong một số ca chu kỳ rất nhanh các bệnh nhân dao động giữa giai đoạn hưng cảm và trầm cảm vài lần trong vòng chu kỳ 24 giờ. Có thể khó nhận ra loại này trong rối loạn lưỡng cực hỗn hợp.

3.6. Rối loạn chu kỳ

Rối loạn chu kỳ được đặc trưng bởi chu kỳ hưng cảm với trầm cảm mà không có trầm cảm chủ yếu. 1/3 các bệnh nhân có rối loạn chu kỳ có thể phát triển thành rối loạn lưỡng cực I hoặc II sau này.

RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC DO TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ VÀ DO THUỐC

Nhiều tình trạng bệnh lý có thể phát triển thành hưng cảm, trầm cảm hay triệu chứng loạn thần.

4.1. Các bệnh, tình trạng cơ thể gây ra rối loạn lưỡng cực

−   Chuyển hóa: rối loạn cân bằng điện giải, tăng urê huyết, thiếu vitamin (B12, B1, acid folic).

−   Lạm dụng rượu, ma túy: nhiễm độc, hội chứng cai của rượu và hoặc các thuốc được kê đơn, các chất cấm (amphetamin, cocain, opiat, chất gây ảo giác).

−   Bệnh thần kinh: đa xơ cứng, Huntington, Willson, chấn thương đầu, đột quỵ não, các cơn cục bộ phức tạp, đau đầu Migraine, các khối u (nguyên phát, đặc biệt ở não trung gian hoặc não thất ba) và khối di căn thứ phát), bệnh Parkinson.

−   Bệnh truyền nhiễm: HIV, giang mai thần kinh, viêm não Herpes, Influenza, viêm não St.Louis.

−   Các tình trạng khác: độc tố, nhiễm độc kim loại nặng, nhiễm độc khí CO, bệnh collagen thành mạch, bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, rối loạn nội tiết (bao gồm: bệnh tuyến giáp (cường hoặc nhược giáp), bệnh tuyến thượng thận…).

Thuốc điều trị rối loạn lưỡng cực

     Cần chú ý các đặc điểm của tình trạng cơ thể như thay đổi của ý thức, giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, các bất thường nội tiết và xét nghiệm xác định sàng lọc độc chất để chẩn đoán rối loạn lưỡng cực.

4.2. Các thuốc có liên quan đến rối loạn lưỡng cực

−   Thuốc chuyên khoa thần kinh tâm thần: các thuốc ức chế MAO, thuốc chống trầm cảm (TCAs, SSRIs, SNIRs và các thuốc khác), methylphenidat, disulfiram, levodopa, bromocriptin.

−   Thuốc tim mạch: captopril, hydralazin.

−   Thuốc nội tiết: corticosteroid, các hormon tuyến giáp.

−   Hỗn hợp: baclofen, bromid, procarbazin, cimetidin, isoniazid, modafinil.

Rối loạn tâm lý lưỡng cực: Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị - Nhà thuốc FPT Long ChâuCÁC TÌNH TRẠNG BỆNH TÂM THẦN KẾT HỢP

−   Các bệnh tâm thần kết hợp có thể làm phức tạp chẩn đoán chính xác về rối loạn lưỡng cực và tạo ra các khó khăn xử trí lâm sàng. Những vấn đề này xuất hiện từ ý nghĩ, dự định tự sát, hoặc các cố gắng tự sát trước đây. Điều quan trọng cần chú ý là có từ 15% – 20% các bệnh nhân đã có rối loạn lưỡng cực và không được quan tâm đến vấn đề tự sát.

−   Các tình trạng khác làm tăng nguy cơ cố gắng tự sát:

+   Các rối loạn nhân cách.

+   Lạm dụng hoặc phụ thuộc rượu và các chất

+   Các rối loạn lo âu.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

6.1. Rối loạn lưỡng cực với tâm thần phân liệt

Các nhà lâm sàng có thể quy sự hiện diện của các triệu chứng loạn thần, đặc biệt là hoang tưởng và ảo giác cho tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, không phải mọi chứng loạn thần đều là tâm thần phân liệt. Theo tiến trình chiều dọc nó bao gồm trầm cảm, hưng cảm hoặc các giai đoạn hỗn hợp xảy ra đồng thời với các triệu chứng loạn thần, tiến trình này không phù hợp cho chẩn đoán tâm thần phân liệt. Mặc dù các thuốc kháng thần không điển hình được sử dụng cho cả hai tình trạng này, trong đó tâm thần phân liệt nhìn chung có vẻ ít đáp ứng thiết thực với điều trị và sự trở lại kém với mức độ chức năng trước đó.

Thuốc Lithium: Công dụng, chỉ định và lưu ý khi dùng

Các bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực có thể dùng thuốc chống co giật hoặc lithium hiệu quả, tuy nhiên với bệnh lý tâm thần phân liệt thì không phù hợp

6.2. Rối loạn lưỡng cực với rối loạn cảm xúc phân liệt

Rối loạn cảm xúc phân liệt trước tiên là một rối loạn loạn thần với hai dạng là: trầm cảm và hưng cảm. Kiểu rối loạn cảm xúc phân liệt lưỡng cực được biểu hiện bằng một thời kỳ không ngắt quãng của bệnh mà trong suốt thời kỳ đó các triệu chứng của tâm thần phân liệt xảy ra đồng thời với các triệu chứng của trầm cảm chủ yếu, hưng cảm hoặc các giai đoạn hỗn hợp; cũng như vậy, các triệu chứng loạn thần trong cùng thời kỳ xuất hiện kéo dài ít hơn hai tuần trong khi còn các triệu chứng nổi bật về khí sắc. Cách điều trị tương tự như cách điều trị rối loạn lưỡng cực.

6.3. Trầm cảm đơn cực với trầm cảm lưỡng cực

Bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực cần tìm kiếm sự giúp đỡ hơn vì một giai đoạn trầm cảm. Thực tế có khoảng 16% các bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực không trải qua một giai đoạn hưng cảm cho đến khi họ đã trải qua 3 hoặc nhiều hơn các giai đoạn trầm cảm.

Một số đặc điểm khác nhau giữa trầm cảm lưỡng cực và trầm cảm đơn cực: để phân biệt với trầm cảm đơn cực hay trầm cảm tái diễn thì các thầy thuốc cần lưu ý rằng trầm cảm lưỡng cực thường có tiền sử gia đình có rối loạn lưỡng cực, cơn đầu tiên thường trước 25 tuổi, thường phát theo mùa trong năm, lâm sàng trầm cảm không điển hình; 

  • Loạn thần thường khởi phát trước 35 tuổi, đáp ứng điều trị nhanh, thuốc chống trầm cảm gây đảo pha (sang hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ). 
  • Những giai đoạn trầm cảm thường ngắn (thường dưới 3 tháng), trầm cảm đơn cực thường kéo dài 6 – 9 tháng. 
  • Trầm cảm lưỡng cực hay có nhiều giai đoạn tái phát trầm cảm nặng (> 3 lần), hay gặp trầm cảm lưỡng cực sau sinh. 
  • Có những cơn trầm cảm hỗn hợp: xuất hiện hưng cảm nhẹ trong giai đoạn trầm cảm nặng; và trầm cảm lưỡng cực dễ bị lạm dụng chất.

6.4. Rối loạn lưỡng cực với rối loạn cảm xúc do một chất

Có đến 60% các bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực lạm dụng rượu và chất tại một thời điểm nào đó trong tiến trình bệnh lý. Điều này khiến việc chẩn đoán và điều trị là khó khăn hơn nhiều vì lạm dụng chất thường là một phương pháp tự điều trị và cai nghiện có thể tạo nên các triệu chứng hưng cảm hoặc các triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng. 

Cocain - Các loại chất gây nghiện | Bảo vệ tương lai

Cocain ở một người dùng nhiều có thể tạo ra những dao động cảm xúc bất thường rất giống với biểu hiện rối loạn lưỡng cực.

6.5. Các lưu ý ở trẻ em và người trưởng thành

Rối loạn lưỡng cực ở trẻ em và người trưởng thành có thể được chẩn đoán không phù hợp như là rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Trong một số trường hợp ADHD ở trẻ em và người trưởng thành có thể là dấu hiệu cho sự phát sinh rối loạn lưỡng cực. 

Cả ADHD và rối loạn lưỡng cực thường gây ra giảm chú ý và rối loạn chức năng thực hiện; hai rối loạn này có thể khó phân biệt, đặc biệt ở trẻ em. 

Điều quan trọng cần nhớ là các thời kỳ hưng cảm và hưng cảm nhẹ xảy ra trong rối loạn lưỡng cực nhưng không có trong ADHD.

XỬ TRÍ

Những bệnh nhân hưng cảm cấp cần được nhập viện điều trị. 

Mối quan hệ thầy thuốc & bệnh nhân | Giác Ngộ Online

Việc xử trí bệnh nhân có thai bị rối loạn lưỡng cực đòi hỏi duy trì cộng tác giữa thầy thuốc điều trị bệnh nhân và thầy thuốc khoa cấp cứu. 

Những bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực khuyến khích kế hoạch sinh đẻ, để cho các thuốc an thần giảm từ từ. Nguy cơ tái phát tăng khi ngưng thuốc đột ngột. Tái phát trong thai kỳ phải được điều trị tích cực với thuốc ổn định khí sắc. Bệnh nhân có thể cần nhập viện.

Trong thời kỳ sau sinh, các triệu chứng cảm xúc xấu hơn có thể xảy ra, bao gồm chu kỳ nhanh đôi khi dai dẳng khó chữa.

Cách nhận biết và phòng tránh trầm cảm sau sinh

Triệu chứng của bệnh nhân thời kỳ sau sinh có thể xấu đi và có nguy cơ tái phát rối loạn lưỡng cực.

7.1. Điều trị bằng thuốc

Việc điều trị rối loạn lưỡng cực hiện nay tập trung hầu hết cho  liệu pháp dược lý tâm thần. Thông thường kết hợp thuốc là cần thiết.

Điều trị trầm cảm liên quan với rối loạn lưỡng cực có phần khác với rối loạn đơn cực. Những ca trầm cảm nhẹ có thể được điều trị với một thuốc ổn định khí sắc như lithium. Khi thuốc chống trầm cảm được sử dụng thì việc ổn định khí sắc cần phải đạt được, lựa chọn lamotrigine là tốt nhất.

TOP 7 Thuốc An Thần Cho Trẻ Sơ Sinh Và Những Lưu Ý Cần Nhớ

    Các triệu chứng loạn thần trong giai đoạn hưng cảm nên được điều trị bằng thuốc an thần.

  • Kết hợp an thần mới với lithium hoặc thuốc chống co giật
  • Kết hợp thuốc chống trầm cảm với thuốc chống co giật được sử dụng trong việc điều trị trầm cảm trong rối loạn lưỡng cực I và sự kết hợp thuốc olanzapin và fluoxetin hydrochlorid đã được sự chứng minh có hiệu quả.
  • Sử dụng chống trầm cảm đơn trị liệu cho rối loạn lưỡng cực vẫn còn tranh cãi vì có thể sớm dẫn đến hưng cảm hoặc rối loạn chu kỳ nhanh. Từ năm 2004, người ta đã nhận ra một vài thuốc chống trầm cảm làm tăng hành vi tự sát ở trẻ em và tuổi thanh niên bị trầm cảm, còn ở người lớn bị trầm cảm thì không rõ ràng.
  • Một số can thiệp thuốc khác

 Thuốc an thần: benzodiazepin, clozapin (clozaril)

 Thuốc chẹn kênh calci (nimodipin, nimotop)

 Thuốc đồng vận alpha adrenergic

 Điều trị không dùng thuốc

  • Liệu pháp sốc điện
  • Kích thích từ xuyên sọ (TMS)
  • Tâm lý liệu pháp

TÓM LẠI

Ở một số bệnh nhân rối loạn lưỡng cực, các giai đoạn sớm xảy ra cách nhau nhiều năm. Các giai đoạn xuất hiện thường xuyên hơn sau nhiều năm kèm theo giảm dấu hiệu giảm chức năng. Nữ giới bị rối loạn lưỡng cực có khuynh hướng bị nhiều giai đoạn trầm cảm hơn, trong khi đó nam giới khuynh hướng trải qua nhiều giai đoạn hưng cảm.        

Hiện nay việc điều trị rối loạn lưỡng cực có hiệu quả và có nhiều cách lựa chọn, trong đó có sự kết hợp các thuốc chống co giật và thuốc an thần.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

 

 

 

 XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN TRẦM CẢM MỨC ĐỘ NẶNG

XỬ TRÍ CẤP CỨU BỆNH NHÂN TRẦM CẢM MỨC ĐỘ NẶNG

       Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

KHÁI NIỆM VỀ TRẦM CẢM

Trầm cảm là một bệnh lý phổ biến, gây gánh nặng cho xã hội ngang bằng với bệnh tim về mức độ nặng nề, tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị. Hỏi bệnh nhân về triệu chứng trầm cảm là rất quan trọng. Bởi vì rất nhiều bệnh nhân biểu hiện các tổn thương thứ phát có liên quan đến trầm cảm như chấn thương, nghiện rượu và các triệu chứng cơ thể khác không thể giải thích được. Khi đã được chẩn đoán, trầm cảm phải được điều trị triệt để bằng rất nhiều thuốc và tâm lý liệu pháp mới có hiệu quả.

Trầm cảm là một bệnh lý phổ biến, gây gánh nặng cho xã hội ngang bằng với bệnh tim về mức độ nặng nề, tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị.

Trầm cảm là một bệnh lý phổ biến nhưng chưa được nhận biết một cách đầy đủ, và không phải lúc nào cũng được nhận ra một cách dễ dàng bởi vì họ biểu hiện các khó chịu về mặt cơ thể rất khác nhau mà không thể tìm ra được bất kỳ nguyên nhân nào. Họ miêu tả các triệu chứng u sầu của mình chỉ là do hoàn cảnh xã hội gây ra như là có vấn đề về thần kinh hoặc cuộc sống tâm hồn mất cân bằng, bị căng thẳng hoặc chỉ là buồn chán.

Một vài bệnh nhân trầm cảm không muốn thừa nhận rằng họ mắc một bệnh gây suy yếu sức khỏe nghiêm trọng và bắt đầu cản trở khả năng của họ trong việc duy trì chức năng xã hội và nghề nghiệp. Hơn nữa, bệnh nhân trầm cảm thường mắc các bệnh lý tâm thần khác như nghiện rượu, nghiện chất và gây khó khăn hơn trong việc xác định bệnh trầm cảm. Nếu xác định bệnh nhân có nguy cơ tự sát cao thì việc điều trị nội trú tại bệnh viện là bắt buộc.

DSM-5 định nghĩa giai đoạn trầm cảm chủ yếu là bệnh nhân phải có một giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần, được đặc trưng bởi khí sắc u sầu và mất thích thú trong hầu hết các hoạt động. Bệnh nhân trầm cảm còn phải có ít nhất 4 triệu chứng, biểu hiện bằng các rối loạn chức năng sinh học và tâm thần (như rối loạn cảm giác ngon miệng), những thay đổi trong thói quen giấc ngủ và mức độ năng lượng, giảm ham muốn tình dục, cảm giác vô dụng, vô vọng và tội lỗi, tái diễn ý nghĩ về cái chết và tự sát.

 

5 dấu hiệu thường gặp ở bệnh trầm cảm

Trong rất nhiều nghiên cứu tỷ lệ mắc trầm cảm trong dân cư khoảng 2% đến 25%. Tỷ lệ có khuynh hướng cao hơn trong một số nhóm dân cư (ví dụ: nữ giới, độc thân, thất nghiệp, vị thành niên, nhập cư và mắc bệnh ở giai đoạn cuối). Theo Hội Tâm thần học Việt Nam (2002), tỷ lệ rối loạn trầm cảm nặng là 2,8% dân số.

NGUYÊN NHÂN CỦA TRẦM CẢM

Nguyên nhân chính xác của trầm cảm chưa được hiểu biết đầy đủ. Tuy nhiên, rõ ràng rằng các tác nhân sinh học và xã hội kết hợp với nhau để gây nên một giai đoạn trầm cảm trên lâm sàng với các tiêu chuẩn của trầm cảm chủ yếu. Do đó, trầm cảm là sự kết hợp tác động giữa tổn thương hệ gen và các căng thẳng tâm lý xã hội. Nhiều chất dẫn truyền thần kinh bao gồm dopamin, norepinephrin và serotonin được đưa ra nhưng không một chất nào trong số chúng có khả năng giải thích đầy đủ trầm cảm được hình thành như thế nào và được giải quyết ra sao bằng các thuốc tác động đến là các chất dẫn truyền thần kinh. Một vài giả thuyết mới hơn đề cập tới vai trò của các steroid hoạt hóa thần kinh có vai trò điều chỉnh đến các thụ cảm thể của GABA.

Thiếu hụt serotonin là nguyên nhân gây suy nhược thần kinh, rối loạn lo âu, trầm cảm.jpg

Thiếu hụt serotonin có thể dẫn đến trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn thần kinh thực vật

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC CHẨN ĐOÁN TRẦM CẢM

Trầm cảm là một bệnh có khả năng điều trị triệt để, các thầy thuốc có nhiều lựa chọn điều trị trầm cảm mang lại kết quả an toàn và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tuy nhiên, cần tìm ra các thuốc hoặc các bệnh cơ thể khác gây nên hoặc làm nặng thêm giai đoạn trầm cảm.

3.1. Các thuốc có thể gây nên hoặc làm nặng thêm trầm cảm

Một vài thuốc phổ biến sử dụng có thể gây nên trầm cảm, các loại đó bao gồm: reserpin (điều trị tăng huyết áp) nhưng không còn được sử dụng bởi nguy cơ cao gây rối loạn trầm cảm. Các thuốc điều trị tăng huyết áp khác như alpha – methyldopa, propranolol, prazosin, clonidin và guanethidin cũng có thể liên quan đến biểu hiện trầm cảm trên lâm sàng. Việc ngừng sử  dụng các thuốc này đôi khi có hiệu quả trong điều trị giai đoạn trầm cảm. Digitalis, glucosid được sử dụng trong điều trị bệnh suy tim ứ huyết và rung nhĩ; tuy nhiên, các thuốc này cũng có liên quan đến khởi phát của một giai đoạn trầm cảm nhẹ ở những bệnh nhân lớn tuổi tham gia nghiên cứu. Nếu có thể thay thế các thuốc này trong điều trị suy tim sẽ làm nhẹ các triệu chứng trầm cảm. Corticosteroid được chỉ định trong điều trị viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống và các bệnh viêm mạn tính khác cũng có khả năng gây nên trầm cảm. Sử dụng corticoid cũng có liên quan đến biểu hiện từ giai đoạn hưng cảm nhẹ đến giai đoạn hưng cảm. Sự sản xuất dư thừa corticoid nội sinh trong hội chứng Cushing có khả năng liên quan đến trầm cảm.

Các thuốc tránh thai đường uống chứa hàm lượng cao progestin có khả năng gây nên trầm cảm. Các thuốc tránh thai mới chứa progestin ít hơn có thể được dùng để thay thế. Các thuốc ức chế H2-histamin như cimetidin, thuốc ức chế bơm proton, indomethacin và các kháng sinh như isoniazid (INH), cyclosterin và nalidixic acid có liên quan đến trầm cảm. Disulfiram, các thuốc chống ung thư (như vincristin sulfat và vinblastin sulfat), organo phosphat và các thuốc điều trị Parkinson (như levodopa) cũng có liên quan đến trầm cảm. Chú ý rằng, các thuốc điều trị Parkinson như các thuốc đồng vận D2 có liên quan đến việc gây nên phấn khích và hưng cảm nhẹ.

Các triệu chứng cai caffein, nicotin, amphetamin, cocain và các thuốc kích thần khác, các thuốc an dịu gây ngủ như các barbiturat và các benzodiazepin kéo dài liên quan với trầm cảm. Các thuốc an thần với tác dụng phụ là hội chứng ngoại tháp có liên quan đến “triệu chứng thiếu hụt” đôi khi gây nên khó khăn cho chẩn đoán phân biệt với trầm cảm.

Halothan Là Thuốc Gì? Liều Lượng, Cách Dùng, Lưu Ý Và Giá Bán

Các thuốc gây mê (như halothan và phenylephrin), các thuốc chống co giật (như baclofen và pentazocrin), các opioid hiện tại đều có liên quan đến cảm xúc u sầu.

Việc đánh giá lại tác dụng của các thuốc nên được xem xét nếu các bệnh nhân trầm cảm cần phải dùng bất kỳ loại nào trong số các loại thuốc này.

3.2. Các tình trạng bệnh lý có thể gây nên hoặc làm trầm trọng thêm trầm cảm.

Có rất nhiều tình trạng bệnh lý có thể gây nên hoặc làm nặng thêm trầm cảm. Các bệnh lý này cần được xem xét khi chẩn đoán phân biệt ở bệnh nhân trầm cảm, bao gồm các tình trạng nhiễm khuẩn như: cúm, viêm gan, viêm não do virus, viêm phổi do virus và ở một vài trẻ vị thành niên là bệnh truyền nhiễm; các bệnh khác có liên quan đến trầm cảm như Brucella, thương hàn, sốt rét, lao, giang mai, bệnh amip, bệnh do Giardia, bệnh giun stroryylus, ung thư tụy, ung thư phổi, bạch cầu dòng lympho và u não.

HỘI CHỨNG NGỦ NGÁY - NGỪNG THỞ KHI NGỦ

Ngưng thở khi ngủ, thiếu oxy do nhiều nguyên nhân và tắc động mạch mạc treo được báo cáo là có liên quan đến trầm cảm.

Cũng như rối loạn nội tiết như là nhược giáp, cường giáp và bệnh Addison, bệnh crohn, thời kỳ mãn kinh, trầm cảm sau sinh, đái tháo đường, chứng tăng tiết insulin, suy tuyến yên và bệnh to cực cũng có liên quan đến giai đoạn khí sắc trầm cảm.

Các tình trạng bệnh lý khác gây nên trầm cảm bao gồm: các rối loạn trao đổi chất (như tăng urê máu, hạ natri máu, hạ kali máu, tăng cao bicarbonat, acid uric trong huyết thanh); sự thiếu hụt dinh dưỡng (như bệnh thiếu vitamin PP, vitamin C, vitamin B1, vitamin B12, acid folic, thyridoxin, sắt và protein); các bệnh lý hệ tiêu hóa (như xơ gan, bệnh viêm ruột, bệnh Whipple, viêm tụy, ung thư tụy) cũng có thể có liên quan lớn đến trầm cảm.

Các bệnh viêm mạn tính như Lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm tắc động mạch, bệnh viêm động mạch tế bào khổng lồ cũng được cho là có liên quan đến trầm cảm. Các bệnh hệ thống thần kinh trung ương cũng có liên quan như bệnh Parkinson, đột quỵ, đau xơ cơ. Bệnh Huntington, máu tụ dưới màng cứng mạn tính và động kinh thùy thái dương, có khả năng gây nên giai đoạn trầm cảm như là hậu quả trực tiếp của phần não bị tổn thương. Rất nhiều bệnh tự miễn thường gây nên trầm cảm như là bệnh cảnh lâm sàng thứ phát.

ĐÁNH GIÁ VÀ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

Bệnh nhân trầm cảm biểu hiện mệt mỏi, xanh xao do mất ngủ; người gầy gò, quần áo rộng lùng thùng bởi sút cân do giảm cảm giác ngon miệng; mắt mở nhỏ nhất có thể, đi lại chậm chạp hoặc ngồi xuống với hai vai buông thõng và nhìn chằm chằm xuống nền nhà; hoạt động tâm thần vận động bị giảm sút, bệnh nhân có thể biểu hiện lo lắng và bồn chồn, hai tay vặn vẹo vào nhau với khuôn mặt căng thẳng.

Bệnh nhân cần được tiếp cận bằng cách thức thật sự thận trọng. Các nguyên nhân của họ đến phòng khám cần phải được tìm hiểu và bệnh nhân cần được kể lại bệnh sử của mình. Nếu bệnh nhân tập trung vào các triệu chứng cơ thể thì điều đó cũng được chấp nhận và bác sĩ không nên chặn lời. Các câu hỏi nên hỏi về thói quen giấc ngủ, cảm giác ngon miệng, cảm giác vô vọng và những suy nghĩ về tự sát. Nếu bệnh nhân thừa nhận có ý nghĩ tự sát, bác sĩ cần tìm hiểu về bất cứ kế hoạch tự sát cụ thể nào.

Bệnh sử trầm cảm và đáp ứng với bất kỳ thuốc nào nên được chú ý. Bác sĩ nên hỏi về các thuốc chống trầm cảm được dùng ở các thành viên khác nhau trong gia đình hoặc thuốc chống trầm cảm tương tự có thể có hiệu quả với bệnh nhân.

Cần hỏi về việc sử dụng rượu hoặc nghiện chất và đánh giá liệu rằng bệnh nhân có căng thẳng tâm lý nặng nề gần đây không (như mất việc, cái chết của một người thân, hoặc được chẩn đoán mắc phải một bệnh trầm trọng). Bác sĩ cũng nên hỏi về các phương pháp mà bệnh nhân sử dụng để đối phó với các triệu chứng trầm cảm và các triệu chứng cơ thể. Thông tin khách quan, nếu có thể, từ vợ hoặc chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình và bạn bè của bệnh nhân thường rất hữu ích.

Top 4 Bệnh viện tâm thần uy tín tại Hà Nội - toplist.vn

Tại thời điểm hoàn thành đánh giá lâm sàng, bệnh nhân nên được trấn an rằng các mối quan tâm của họ đã được hiểu rõ và rằng bác sĩ đang lưu tâm về vấn đề của họ.

Biểu hiện của bất kỳ trạng thái bệnh lý nên được loại trừ và bệnh sử về sử dụng thuốc cần được thu thập một cách triệt  để, để loại trừ các thuốc có thể góp phần gây nên trầm cảm. Nếu các thuốc này được tìm thấy, sự tham khảo ý kiến của các bác sĩ điều trị đầu tiên (người đã kê các loại thuốc trên) là cần thiết để thay thế bằng các loại thuốc điều trị tiếp theo (ví dụ như các thuốc chẹn beta có ít ái lực với lipid thay cho propranolon hoặc chất ức chế enzym chuyển angiotensin thay thế cho thuốc điều trị tăng huyết áp mà có thể góp phần gây nên trầm cảm…).

Các nghiên cứu xác định bất thường nội tiết, các xét nghiệm đánh giá sự thiếu hụt vitamin B12, acid folic và các yếu tố vi lượng cần được thực hiện bởi vì các rối loạn này đôi khi đều biểu hiện rất kín đáo và khó nhận ra.

Các loại ảo tưởng/ ảo giác thường gặp | Vinmec

Trầm cảm mức độ nặng bao giờ cũng kèm theo các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác.

ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

Điều trị bệnh nhân trầm cảm đòi hỏi cách tác động nhiều mặt bởi vì cơ chế bệnh sinh của trầm cảm là đa yếu tố.

Điều trị trầm cảm thường tập trung vào các triệu chứng gây khó chịu nhất đối với bệnh nhân. Nếu mất ngủ và giảm cảm giác ngon miệng là triệu chứng nổi bật thì lựa chọn thông thường là mirtazapin 15 mg, tăng dần trong vòng 3 – 4 tuần để đạt đến liều 30 – 60mg.

Đối với những bệnh nhân có triệu chứng lo âu đi kèm thì paroxetin 20 – 30mg có thể là một lựa chọn tốt. Có nhiều bằng chứng cho thấy thuốc chống trầm cảm hai tác động như thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin/norepinephrin (như venlafaxin và duloxetin) có hiệu quả hơn trong điều trị các triệu chứng tâm thần của trầm cảm, đặc biệt trầm cảm được đi kèm với các triệu chứng cơ thể và triệu chứng viêm đa dây thần kinh mà có liên quan đến bệnh tiểu đường.

Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng có hiệu quả tốt trong điều trị trầm cảm chủ yếu. Có một vài nghiên cứu đề nghị thuốc chống trầm cảm 3 vòng là liệu pháp đặc biệt hữu hiệu trong điều trị trầm cảm nặng; tuy nhiên, các thuốc này có nguy cơ gây độc khi dùng quá liều.

Bupropion cho thấy có hiệu quả khi điều trị phối hợp ở những bệnh nhân không đáp ứng với các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (như fluoxetin, paroxetin, sertralin). Buprobion không gây triệu chứng rối loạn chức năng như là các thuốc SSRIs hiện tại.

Kiểm soát các bệnh lý cơ thể khác thường có hiệu quả giúp thuyên giảm giai đoạn trầm cảm. Bất kỳ tình trạng nghiện rượu hoặc ma túy kết hợp đều phải được tìm ra. Trầm cảm do rượu có xu hướng cải thiện trong 2 – 4 tuần. Nếu bệnh nhân vẫn biểu hiện trầm cảm một cách đáng kể sau khoảng thời gian trên thì bệnh nhân mắc bệnh trầm cảm đó là nguyên phát và cần được điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm.

Thuốc chống trầm cảm được sử dụng để cải thiện giấc ngủ và kích thích thèm ăn, phụ thuộc vào tác dụng phụ của thuốc này. Mất ngủ và giảm cảm giác ngon miệng thường đáp ứng đầu tiên với các thuốc chống trầm cảm, đặc biệt là mirtazapin; mức độ năng lượng cải thiện sau 2 – 4 tuần kế tiếp. Ở giai đoạn này, có một điều trái ngược là gia tăng nguy cơ tự sát khi mà thể lực được nâng lên và các triệu chứng trầm cảm khác chưa được cải thiện. Nếu xảy ra đúng thời điểm mà không có sự giám sát một cách đầy đủ, bệnh nhân có thể thực hiện các ý tưởng tự sát của mình.

Một số loại thuốc chống trầm cảm phổ biến và những lưu ý khi sử dụng

Bệnh nhân nên được giải thích rõ ràng về khoảng thời gian có đáp ứng với các thuốc chống trầm cảm để họ không chán nản với sự cải thiện triệu chứng chậm chạp.

Nếu không có sự cải thiện sau 4 tuần, liều thuốc cần nâng lên và theo dõi tiếp theo trong 4 tuần. Nếu vẫn không có đáp ứng trong khoảng thời gian này, chiến lược sử dụng các thuốc có tác động hỗ trợ bao gồm lithium với liều trong huyết tương thấp nhất là 0,6 mmol/l.

Cần phối hợp thuốc an thần (chống loạn thần), ngày nay các an thần mới thường được ưu tiên sử dụng.

 LƯU Ý

Điều trị triệu chứng lo âu kết hợp bằng các thuốc giải lo âu bởi vì lo âu được xem như yếu tố nguy cơ độc lập của tự sát. Giới thiệu các nhóm hỗ trợ đặc biệt có thể mang lại hiệu quả lâu dài. Bác sĩ cần có số điện thoại của bệnh nhân và gia đình trong trường hợp bệnh nhân không đến khám được hàng tuần.

Thảo luận về sự méo mó nhận thức và khuyến khích bệnh nhân đưa ra nhận định về cuộc sống của mình: Nhận ra nguy cơ tự sát và giám sát bệnh nhân cẩn thận trong suốt giai đoạn khí sắc phục hồi – khi mà mức độ năng lượng được cải thiện nhưng trầm cảm vẫn duy trì. Theo dõi biểu hiện của ý tưởng tự sát (như là bỏ các món quà và thú cưng…) và xem xét điều trị nội trú.

SSRIs được chú ý gia tăng nguy cơ tự sát ở bệnh nhân trong vài tuần điều trị đầu tiên. Sắp xếp khám bệnh nhân ngoại trú điều trị bằng SSRIs, đồng thời thông báo cho gia đình về  giai đoạn có nguy cơ và đề nghị họ gọi cho bác sĩ  nếu bệnh nhân biểu hiện khí sắc xấu đi hoặc thường xuyên cáu gắt. Nếu bệnh nhân tự sát thực sự, thực hiện như hướng dẫn trong phần cấp cứu hành vi tự sát và xem xét điều trị nội trú tự nguyện  hoặc bắt buộc.

Đề nghị và thảo luận lựa chọn ECT sớm trong giai đoạn điều trị trầm cảm nặng, bao gồm cả nguy cơ của tự sát.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

 

 

 

MỐI LIÊN QUAN GIỮA BỆNH LÝ TOÀN THÂN VÀ NGUY CƠ TỰ SÁT

MỐI LIÊN QUAN GIỮA BỆNH LÝ TOÀN THÂN VÀ NGUY CƠ TỰ SÁT

Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

Nhiều bằng chứng chỉ ra mối liên quan giữa nguy cơ tự sát và bệnh ung thư, chấn thương đầu và bệnh dạ dày. Bệnh nhân mắc AIDS có nguy cơ tự sát cao gấp 16 đến 36 lần so với cộng đồng dân cư. Tự sát ở bệnh nhân mắc bệnh cơ thể thường có liên quan đến các bệnh lý tâm thần kết hợp như trầm cảm, nghiện chất và mất trí. Các bác sĩ cần đánh giá bệnh nhân cẩn thận và có kế hoạch điều trị kết hợp bệnh lý cơ thể và rối loạn tâm thần trước khi cho bệnh nhân ra viện.

Bệnh giai đoạn cuối và nguy cơ tự sát: đánh giá, điều trị trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác cũng như điều trị đau ở bệnh giai đoạn cuối giúp bệnh nhân từ bỏ ý định tự sát và lựa chọn cuộc sống. Bác sĩ cần kết hợp liệu pháp tâm lý và liệu pháp hóa dược để giảm đau và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

 Một số lưu ý:

  – Có tác giả khuyến cáo rằng điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm và các thuốc chỉnh khí sắc gây nên phụ thuộc  thuốc. Các nhà lâm sàng nên kết hợp điều trị cả liệu pháp tâm lý và liệu pháp hóa dược.

– Một sự tiến bộ gần đây là sự kết hợp điều trị giữa liệu pháp chống trầm cảm và điều trị cai nghiện. Thông thường, người nghiện nặng thường nhận thấy tình trạng rối loạn trầm cảm thuyên giảm sau cai nhưng cũng có nhiều trường hợp phải tiếp tục điều trị bằng liệu pháp chống trầm cảm.

– Các bác sĩ cũng cần lưu ý tầm quan trọng của niềm tin tôn giáo để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh nhân có ý tưởng tự sát.

“Lời hứa an toàn”:

Bệnh nhân có ý tưởng tự sát không muốn nhập viện và họ hứa sẽ kiềm chế và giữ an toàn, nếu ý tưởng tự sát vượt mức kiểm soát, họ sẽ đến khám bác sĩ. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên an tâm tuyệt đối là bệnh nhân sẽ chấp hành hoàn toàn vào lời hứa đó. Lời hứa chỉ có ý nghĩa với các trường hợp có phương thức tự sát khó gây tử vong – đó là các trường hợp bệnh nhân chỉ gây sự chú ý và yêu cầu sự giúp đỡ.

Dấu hiệu nhận biết bệnh nhân trầm cảm đang có ý định tự sát

Sự phủ nhận tự sát:

Các bác sĩ cũng cần lưu ý rằng bệnh nhân sẽ phủ nhận là mình có ý tưởng tự sát khi được thăm khám. Nếu bệnh nhân có bệnh sử xu hướng tự sát thì cũng đủ để cho một can thiệp cấp cứu, thậm chí khi bệnh nhân từ chối là có ý tưởng tự sát.

Hầu như không có một tiêu chuẩn nào để tiên lượng tự sát và tự sát là kết quả tổng hợp từ nhiều yếu tố và thường là các yếu tố khó xác định. Để tiên lượng cho ý tưởng tự sát cần nhờ vào khả năng chuyên môn của người thầy thuốc xem xét các đặc điểm như bệnh sử, các yếu tố có liên quan. Người thầy thuốc cần lập kế hoạch điều trị triệt để đối với bệnh nhân tự sát. Bên cạnh đó, cần nắm chắc thông tin về kết quả khám xét và thông tin từ người thân. 

Hầu hết bệnh nhân có ý tưởng tự sát không hẳn là sẽ có hành vi tự sát. Tuy nhiên, các bệnh nhân có ý tưởng tự sát cũng cần được bác sĩ thăm khám. Đánh giá về ý tưởng tự sát cả khi thăm khám cũng như quá trình theo dõi bệnh nhân.

Rối loạn tâm thần biểu hiện ở hầu hết bệnh nhân có ý tưởng tự sát. Các bệnh nhân này cần được hỏi các câu hỏi chuyên biệt về các tác nhân gây stress cũng như cần có kế hoạch điều trị chuyên biệt.

Làm sao không bị stress khi chăm sóc người già, người bệnh - Tuổi Trẻ Online

Gia đình, bạn bè và những người thân khác cần được tham gia vào quá trình điều trị. Cần kết hợp điều trị bằng thuốc và liệu pháp tâm lý đối với bệnh nhân có ý tưởng tự sát.

  1. TỰ SÁT DƯỚI GÓC ĐỘ Y XÃ HỘI HỌC

Tự sát thường có liên hệ với trạng thái tuyệt vọng hoặc do một số rối loạn tâm thần bao gồm trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, nghiện rượu, ma túy… có thể đóng một vai trò quan trọng dẫn đến quyết định tự sát. Ở nước ta trong những năm gần đây, tỷ lệ tự sát trong cộng đồng đang có xu hướng tăng.

Tự tử, tự sát, tự vẫn hay tự kết liễu… đều là những từ ngữ chỉ chung một hiện tượng khi con người thực hiện hành vi tự gây ra cái chết đối với bản thân mình. Đó là một sự lựa chọn có chủ tâm suy nghĩ, cố ý tự làm hại bản thân mình với mong muốn được chết. Một hiện tượng khác là tự gây hại, tự gây thương tích có khi trở thành hành vi tự sát, đang có xu hướng tăng trong giới trẻ cũng cần được quan tâm.

Hội chứng tự ngược đãi bản thân (Self Harm) hiểm họa khó lường

Hội chứng tự ngược đãi bản thân (Self Harm) hiểm họa khó lường

8.1. Một số yếu tố tác động

– Rối loạn tâm thần: thường xuyên xuất hiện tại thời điểm tự sát với các ước tính từ 87% – 98%. Khi phân loại các rối loạn tâm thần trong các vụ tự sát có 30% trường hợp bị rối loạn cảm xúc (rối loạn lưỡng cực, rối loạn trầm cảm), 18% lạm dụng chất gây nghiện, 14% bị tâm thần phân liệt (dân gian thường gọi là điên) và 13% rối loạn nhân cách. Khoảng 10% người tử vong ở bệnh nhân tâm thần phân liệt do tự sát. Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất với số lượng được chẩn đoán ngày càng tăng trên toàn thế giới và thường là yếu tố thúc đẩy tự sát.

– Nghiện chất: ma túy (tự nhiên, bán tổng hợp, tổng hợp), rượu.

– Yếu tố sinh học:

+ Yếu tố di truyền: sự ảnh hưởng di truyền có liên quan đến một số bệnh lý như bệnh tâm thần (trầm cảm, tâm thần phân liệt…).

+ Yếu tố sinh hoá: các bất thường ở não, đặc biệt là hệ serotonin đã được chứng minh có liên quan. Những người tự tử bằng các biện pháp bạo lực, bốc đồng như treo cổ, bắn vào mình, nhảy từ trên cao xuống… thường có sự giảm acid 5 – hydroxy – indol – acetic – acid (5HIAA), một chất chuyển hoá của serotonin trong dịch não – tủy.

+ Bệnh cơ thể: là yếu tố đi kèm thường gặp của tự sát. Những người có nguy cơ cao là người nhiễm HIV/AIDS, bệnh ác tính, chấn thương cột sống…

– Yếu tố xã hội: tự sát như một hình thức thách thức và kháng nghị, tự sát để thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật, tự sát để phục vụ mục đích quân sự, tự sát như là một cách để giải thoát…

– Tín ngưỡng tôn giáo, sự ngược đãi, yếu tố gia đình; yếu tố học tập và nghề nghiệp: trong học tập, áp lực trong học tập, bị điểm kém, bị thầy cô giáo phạt, bị bạn bè trêu chọc… Trong nghề nghiệp, thất bại trong nghề nghiệp, bị mất việc, bị sạt nghiệp, bị vỡ nợ… Quan hệ yêu đương: chia tay, có thai, phá thai.

– Yếu tố tâm lý: hành vi tự sát dù chịu ảnh hưởng ít nhiều từ các yếu tố xã hội nhưng xét cho cùng hành vi ấy chỉ mang tính chất cá nhân. Những người có hành vi tự tử luôn có những lý do riêng xuất phát từ chính bản thân của nạn nhân và các mối quan hệ xã hội khác, hành vi tự tử được thực hiện bằng cách nào thì cũng mang những ý nghĩa riêng mà đôi khi chỉ có bản thân nạn nhân mới thấu hiểu.

8.2. Tự sát liên quan đến bệnh lý tâm thần

Ý định tự sát thường đến trong đầu bệnh nhân chỉ vài phút trước khi hành động, vì vậy họ chỉ hành động một cách bộc phát không có sự chuẩn bị gì. Các yếu tố nguy cơ cao cho tự sát là nam giới, sống cô lập, thất nghiệp, trầm cảm, mất hy vọng và có tiền sử tự sát. Tự sát có thể diễn ra bất kỳ giai đoạn nào nhưng thường xảy ra trong giai đoạn cấp và các lần tái phát của bệnh tâm thần phân liệt. Tự sát cũng hay xảy ra trong vòng 6 tháng sau khi bệnh nhân ra viện, đặc biệt 3 tháng đầu. Nhiều tác giả cho rằng, sau khi ra viện, bệnh nhân không kiếm được việc làm hoặc mất việc làm hoặc không thể tiếp tục học tập; mâu thuẫn với những thành viên khác trong gia đình, uống thuốc củng cố không đều làm nguy cơ tự sát tăng lên.

Trầm cảm có tỷ lệ 3 – 4% dân số, tự sát có thể gặp ở 50 – 70% số trường hợp trầm cảm. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, không thể dự đoán một cách chính xác bệnh nhân trầm cảm nào có ý định tự sát hay không và khi nào tự sát. Động cơ tự sát của bệnh nhân là mong muốn cao độ chấm dứt một trạng thái cảm xúc đau khổ, sự tra tấn đang hành hạ cơ thể bệnh nhân. Đôi khi tự sát có thể do hoang tưởng ảo giác chi phối. Ý tưởng và hành vi tự sát là một trong các nhóm triệu chứng phổ biến của trầm cảm. Khoảng 40 – 80% số trường hợp tự sát ở lứa tuổi 14 – 19 có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán cho một giai đoạn trầm cảm.

Uống nhiều rượu bia có thể làm giảm tới 28 năm tuổi thọ! | VIAM

Người nghiện ma túy, rượu thường tự sát trong hội chứng cai, sảng rượu, xung đột gia đình, bế tắc trong cuộc sống… nghiện game online, nghiện cờ bạc cũng có thể có vấn đề như rượu và ma túy.

Rối loạn nhân cách là nhóm nguy cơ tự sát đặc biệt cao bởi xu hướng rối loạn trong các mối quan hệ cá nhân – xã hội – gia đình, dễ bị những rối loạn khí sắc cấp tính và có những hành vi xung đột bất thường.

Các yếu tố tâm lý ở những người có ý tưởng và hành vi tự sát: xung đột tình cảm là yếu tố quan trọng và gặp ở hầu hết các trường hợp. Ở thanh thiếu niên, người ta nhận thấy phần lớn có các stress tâm lý thúc đẩy trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra hành vi tự sát. Tuổi có tỷ lệ tự sát cao nhất là 20 – 29. Tự sát của thanh thiếu niên ở độ tuổi 14 – 19 đang ngày càng tăng.

 8.3. Những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tự sát

Kịp thời phát hiện những trường hợp có vấn đề về bệnh lý hoặc tiền sử bệnh tật của bản thân, gia đình. Những người có tiền sử bệnh tâm thần hoặc đã từng xảy ra hành vi tự sát, lối sống, quan hệ xã hội bất thường, người có nói đến từ tự sát, đe dọa tự sát, thất vọng, buồn chán… Gia đình đã có người mắc bệnh tâm thần hoặc đã có người tự sát, ly hôn, ly thân, thất bại trong công việc…

Đối với bệnh nhân tâm thần cần phải được thầy thuốc chuyên khoa tâm thần thăm khám và hướng dẫn điều trị. Việc điều trị cần tích cực, kịp thời, đầy đủ thuốc và thời gian. Tuyên truyền vận động cai nghiện ma túy và cai nghiện rượu cũng góp phần làm giảm tỷ lệ tự sát trong nhân dân.

Cần đề nghị sự giúp đỡ của người có chuyên môn ngay cả khi người bệnh từ chối. Không để người đó ở một mình, không được thề giữ bí mật, không có các hành động tỏ ra bị sốc hoặc phán xét. Việc chữa trị không chỉ bằng thuốc mà phải kết hợp với liệu pháp nhận thức và hành vi. Chỉ ra cho họ cách giải quyết các vấn đề mà họ gặp phải, cách nhìn nhận mới về bản thân và thế giới của họ. Giúp mọi người hiểu biết về những tác nhân có nguy cơ, những dấu hiệu cảnh báo về tự sát và khả năng sẵn sàng hỗ trợ, có thể trực tiếp hoặc thông qua phương tiện truyền thông.

Tỷ lệ tự sát trong nhân dân đang ngày một gia tăng, đặc biệt ở những người mắc bệnh tâm thần. Để giảm tỷ lệ tự sát, cần phát hiện sớm người có nguy cơ để có biện pháp giúp đỡ họ thoát ra khỏi trạng thái bi quan tiêu cực và điều trị bệnh có hiệu quả cho họ.    

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

 

 

 

CẤP CỨU BỆNH NHÂN CÓ HÀNH VI TỰ SÁT

CẤP CỨU BỆNH NHÂN CÓ HÀNH VI TỰ SÁT

        Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

KHÁI NIỆM

     Bệnh nhân có ý định tự sát, thường xảy ra ở các cá nhân mất đi động lực của cuộc sống. Khi người bệnh tại thời điểm tự gây hại cho bản thân, họ bắt đầu cảm nhận như là họ không còn một lựa chọn nào khác. Ở Việt Nam mỗi năm có hàng chục ngàn người chết vì tự sát, nhiều hơn rất nhiều số người chết do tai nạn giao thông.

Trầm cảm dẫn đến tự sát, cách nhận biết trẻ vị thành niên có ý định tự sát

Trầm cảm lâu ngày có thể dẫn đến ý nghĩ tự sát

     Tại Hoa Kỳ, có hơn 31.000 trường hợp chết vì tự sát mỗi năm, trung bình 80 trường hợp mỗi ngày. Có 33% dân số thực hiện hành vi tự sát tại một thời điểm nào đó trong suốt cuộc đời của mình. Tự sát xếp thứ 5 trong các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở Hoa Kỳ, nam có nguy cơ tử vong do tự sát cao gấp 4 lần so với nữ; tuy nhiên, nữ có toan tự sát (tự sát không chết) cao hơn nhiều so với nam giới. Bên cạnh tử vong do tự sát, có hơn nửa triệu trường hợp toan tự sát mỗi năm, trung bình 1300 trường hợp mỗi ngày và 1 trường hợp mỗi phút. Nguyên nhân chủ yếu của tự sát: 90% là mắc các bệnh lý tâm thần (như nghiện chất, trầm cảm, lo âu, tâm thần phân liệt và rối loạn nhân cách) hoặc kết hợp các rối loạn tâm thần khác với nghiện chất (và lạm dụng chất). Bệnh nhân tự sát thường được các phòng cấp cứu hoặc được người nhà, bạn bè, cơ quan pháp luật đưa đến phòng khám chuyên khoa tâm thần.

CÁCH ĐÁNH GIÁ

     Hầu hết bệnh nhân lưỡng lự về tự sát thường cảm thấy giảm bớt ý tưởng hơn khi được các bác sĩ quan tâm và chia sẻ với họ. Một vài bệnh nhân chưa có biểu hiện rõ ràng của rối loạn tâm thần hoặc ý định tự sát thì bác sĩ cần nêu các câu hỏi như có một vài lần anh/chị cảm thấy buồn hoặc ức chế hoặc có một vài vấn đề trong cuộc sống mà anh chị nghĩ về cái chết? Hoặc anh/chị có lần nào dự định tự sát?

     Bệnh nhân thường nêu ra các câu trả lời gián tiếp. Ví dụ như tôi chán lắm rồi, tôi đang khủng hoảng, tôi không có giá trị gì. Các câu trả lời này thường tương xứng với các câu hỏi mà bác sĩ nêu ra. Bên cạnh hỏi về thời gian và khởi phát ý tưởng tự sát, các bác sĩ cũng cần khảo sát về mức độ nguy hiểm đến tính mạng của ý định và kế hoạch tự sát; cần tìm hiểu xem người bệnh có ý định tự sát từ bao giờ, có sự việc gì dẫn đến ý định tự sát, ý định tự sát có thường xuyên không, người bệnh có nghĩ rằng mình đang bị khủng hoảng không, có nghĩ rằng cuộc sống không còn ý nghĩa nữa không? Điều gì trong cuộc sống làm người bệnh cảm thấy tồi tệ hơn, điều gì trong cuộc sống làm người bệnh cảm thấy tốt hơn, có kế hoạch kết thúc cuộc đời mình không, khả năng kiểm soát ý định tự sát của người bệnh như thế nào? Có khả năng loại bỏ ý định tự sát hoặc gọi ai đó để giúp đỡ không, điều gì giúp người bệnh ngăn cản ý định tự sát?

    2.1. Tìm hiểu về kế hoạch tự sát

    Có dự định mua thuốc gây ngộ độc cho cơ thể, có nghĩ đến lễ tang của mình và phản ứng của người khác về cái chết của mình không? Đã chuẩn bị tự sát? Có thay đổi di chúc hoặc bảo hiểm mạng sống hoặc sở hữu riêng?

Cuộc "vấn đáp" giữa con người và tự tử, cái kết "nóng" (Phần 2) - Viện Tâm  lý Giáo dục Braincare

    2.2. Đánh giá các tác nhân gây stress

    Một câu hỏi mở rất quan trọng để đánh giá các tác nhân gây stress. Ví dụ: mối quan hệ của bạn trong gia đình (hoặc trong công việc) như thế nào? và sức khỏe của bạn như thế nào? (hoặc kể về các tác nhân gây stress khác như tài chính, tình trạng hôn nhân, gia đình, luật pháp và nghề nghiệp). Cần tìm hiểu về tình trạng trầm cảm của người bệnh: có bao giờ thấy buồn hoặc cảm giác trống rỗng và các cảm giác này diễn ra ít nhất trong hai tuần vừa rồi, khó vào giấc ngủ và khó giữ giấc ngủ, cảm thấy mệt mỏi và giảm sút năng lượng. Giảm cảm giác ngon miệng hoặc ăn quá nhiều, mất các hứng thú và sở thích hầu hết các hoạt động. Cảm giác buồn về chính bản thân mình, khó tập trung, cảm thấy sốt ruột, bồn chồn hoặc đứng ngồi không yên, căng thẳng, lo âu và dễ nổi cáu, có cơn hoảng sợ kịch phát gần đây?

Trầm cảm dẫn đến tự sát, cách nhận biết trẻ vị thành niên có ý định tự sát

     2.3. Đánh giá về nghiện chất và rượu, các yếu tố nguy cơ

     Các yếu tố nguy cơ của tự sát: nữ có toan tự sát (tự sát nhưng không chết) cao gấp bốn lần so với nam giới. Nam có khả năng tự sát thành công cao gấp ba lần nữ giới. Nam ưu tiên lựa chọn súng làm phương pháp tự sát trong khi nữ lựa chọn uống thuốc độc hoặc thuốc chữa bệnh quá liều.

     Nguy cơ tự sát tăng cùng với tuổi, tuy nhiên, bệnh nhân trẻ lại có toan tự sát cao hơn. Người bệnh lớn tuổi thường chết ngay ở lần tự sát đầu tiên. Tỷ lệ tự sát ở người đồng tính cao hơn ở người bình thường. Người hồi giáo có tỷ lệ tự sát thấp nhất, tiếp đến là người Công giáo, Do Thái và Tin Lành. Tỷ lệ tự sát cao ở người độc thân, ly dị, ly thân và goá bụa (đặc biệt nếu như không có con). Người độc thân thường có tỷ lệ tự sát cao gấp hai lần so với người đã kết hôn. Tỷ lệ tự sát ở người thất nghiệp cao hơn ở người có việc làm ổn định. Tỷ lệ tự sát tăng ở bệnh nhân có thành viên gia đình toan tự sát hoặc tự sát chết, 40% đến 80% số trường hợp tự sát chết có tiền sử toan tự sát ở thành viên trong gia đình. Toan tự sát trước đó, đã từng điều trị bệnh tâm thần tại bệnh viện và biểu hiện của các bệnh lý tâm thần kết hợp như trầm cảm, rối loạn lo âu, loạn thần mà có ảo thanh ra lệnh và nghiện chất, bệnh lý nặng thời kỳ cuối hoặc mắc bệnh cơ thể trầm trọng gần đây. Cảm thấy tuyệt vọng, không có sự giúp đỡ, tội lỗi và tự ty, có chấn thương tâm lý.

   2.4. Tâm thần phân liệt

   Đặc biệt tâm thần phân liệt khởi phát ở độ tuổi trẻ thường có nguy cơ tự sát cao và thường khó được tiên lượng cho ý tưởng. Bệnh nhân có ảo thanh ra lệnh là tiếng người ra lệnh cho bệnh nhân tự sát thì có nguy cơ tự sát cao nhất. Hoang tưởng bị truy hại, hoang tưởng tự buộc tội cũng có nguy cơ tự sat cao. Khi đánh giá biểu hiện của trầm cảm ở bệnh nhân tâm thần phân liệt mà hiện tại không có biểu hiện loạn thần, cần phân biệt với trầm cảm sau phân liệt – một bệnh lý có nguy cơ tự sát cao.

Điều trị giảm chứng ảo thanh ở bệnh nhân tâm thần phân liệt | Vinmec

Bệnh nhân có ảo thanh ra lệnh là tiếng người ra lệnh cho bệnh nhân tự sát thì có nguy cơ tự sát cao nhất

   2.5. Rối loạn nhân cách

   Rối loạn nhân cách thể ranh giới thường lặp đi lặp lại toan tự sát và hành vi tự sát cũng như thường nhập viện tại khoa cấp cứu. Các bác sĩ đừng bao giờ cho rằng những bệnh này thực hiện hành vi tự sát chỉ là để gây sự chú ý.

Rối loạn đa nhân cách là gì? | Vinmec

Trước khi ra viện, bệnh nhân cần được khảo sát bằng các câu hỏi sau:

– Anh/chị có còn nghĩ đến cái chết và tự giết bản thân?

– Có kế hoạch về cách để tự sát không?

– Đã chuẩn bị dụng cụ, phương thức tự sát chưa?

– Có kháng cự lại ý tưởng tự sát và còn ảo giác nữa không?

Cần lưu ý rằng biểu hiện của nghiện chất và rối loạn cảm xúc làm gia tăng nguy cơ tự sát ở bệnh nhân rối loạn nhân cách ranh giới.

QUẢN LÝ

   Khi bệnh nhân được xác định có nguy cơ tự sát, người thầy thuốc cần xác định khi nào xảy ra (48 giờ hoặc ít hơn), gần đây (vài ngày hoặc vài tuần) hoặc thời gian đã lâu. Cách tiếp cận của quản lý bệnh nhân tự sát là đánh giá mức độ tự sát.

   Mức độ tự sát được xem là nghiêm trọng khi bệnh nhân có dự định kết liễu cuộc sống, có kế hoạch tự sát và có phương thức tự sát sẵn có. Nghiêm trọng nhất là bệnh nhân có cảm giác tuyệt vọng và biểu hiện loạn thần (như ảo thanh ra lệnh bệnh nhân phải tự giết mình). Trong trường hợp này, bệnh nhân cần phải nhập viện điều trị ngay. Hơn nữa, bệnh nhân cần phải được giữ ở một buồng an toàn riêng trong khi chờ đợi được nhập viện. Bệnh nhân không được ở một mình, thậm chí trong thời gian ngắn. Nếu bệnh nhân từ chối được giúp đỡ hoặc cầm vũ khí, cần phải có lực lượng an ninh hoặc cảnh sát hỗ trợ cho bệnh nhân nhập viện. Bên cạnh đó, cần phải phát hiện và loại bỏ súng, thuốc có thể gây tử vong, và các phương tiện có thể gây tự sát khác.

    Bệnh nhân có nguy cơ tự sát mang tính nhất thời thường mắc kết hợp trầm cảm và nghiện rượu hoặc trầm cảm đi kèm với hoảng sợ kịch phát và các biểu hiện khác của lo âu. Mặc dù không cần nhập viện cấp cứu nhưng cần phải can thiệp đối với bệnh nhân ngay. Bác sĩ cần yêu cầu phải có người nhà hoặc bạn thân ở bên cạnh để giúp bệnh nhân đối phó với cơn khủng hoảng. Cần phải có số điện thoại để gọi khẩn cấp cũng như khám định kỳ để bệnh nhân có thể tiếp xúc thường xuyên với bác sĩ điều trị.

Ứng dụng tâm lý liệu pháp trong điều trị

  Minh họa: Trong trường hợp tự sát có nguy cơ xa thì cần điều trị bằng thuốc và liệu pháp tâm lý để làm giảm các tác nhân gây stress tâm lý.

ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC

    4.1. Nguyên tắc chung

     Các thuốc điều trị trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác cần được bắt đầu và duy trì. Nếu bệnh nhân nghiện rượu hoặc các chất gây nghiện khác, bệnh nhân cần được cai.

     Khi chọn các thuốc điều trị bệnh nhân có ý tưởng tự sát, nguy cơ của việc sử dụng quá liều để tự sát cần được lưu ý. Các thuốc chống trầm cảm ba vòng như imipramin và amitriptylin và thuốc ức chế MAO như phenelzin mặc dù có hiệu quả cao nhưng cũng gây ngộ độc ở liều cao và có thể được sử dụng làm phương thức tự sát. Các thuốc mới hơn như thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRIs) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin/ norepinehprin (SNRIs) có hiệu quả cao và an toàn hơn các thuốc chống trầm cảm ba vòng. Bệnh nhân mắc lo âu và mất ngủ kết hợp có thể có hiệu quả điều trị tốt bằng các thuốc có tác dụng an dịu như benzodiazepin. Các thuốc chống loạn thần có thể được chỉ định trong các trường hợp có loạn thần.

5 loại thuốc có thể gây rối loạn tâm thần

   Bệnh nhân tự sát cần được theo dõi cẩn thận về các tác dụng phụ của thuốc để tránh các biến chứng không mong muốn

    Sử dụng các thuốc chống trầm cảm SSRIs có thể gây nên rối loạn chức năng tình dục như giảm khoái cảm, giảm ham muốn tình dục của cả nam và nữ. Nhưng trầm cảm cũng gây nên giảm ham muốn tình dục nên việc rối loạn chức năng tình dục không hẳn luôn luôn do thuốc chống trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm đều cần thời gian dài để đạt hiệu quả tối đa (thường mất khoảng vài tuần). Phải đợi đến khi thuốc có tác dụng để giải thích cho người nhà của bệnh nhân cần được phải tiếp tục cho bệnh nhân điều trị.

    Bệnh nhân tự sát cần được theo dõi cẩn thận về các tác dụng phụ của thuốc. Để tránh các biến chứng không mong muốn, bác sĩ cần giải thích cho bệnh nhân về tác dụng phụ cũng như thời gian cần thiết để các tác dụng phụ đó thuyên giảm. Bệnh nhân cần được giải thích rằng các tác dụng phụ là thường gặp và sẽ thuyên giảm theo thời gian.

   4.2. Điều trị lo âu và mất ngủ

    Bởi vì lo âu và mất ngủ làm gia tăng toan tự sát nên các triệu chứng này cần được điều trị triệt để bằng các liệu pháp chống trầm cảm. Benzodiazepin ít gây tử vong, thậm chí ở liều cao, trừ khi được sử dụng cùng với các tác nhân gây ức chế thần kinh trung ương khác và/hoặc rượu. Benzodiazepin nên được điều trị liên tục trong 2 đến 3 ngày để các thuốc chống lo âu khác có hiệu quả.

Rối loạn lo âu: nhận diện và xử trí đúng để tránh biến chứng

    Các bệnh nhân có tiền sử không đáp ứng với các thuốc chống trầm cảm và biểu hiện triệu chứng trầm cảm chủ yếu có loạn thần cần được điều trị bằng sốc điện.

  4.3. Điều trị nghiện chất

   Bệnh nhân say ma túy hoặc loạn thần có ý tưởng tự sát cần được giữ trong phòng riêng và có sự giám sát chặt chẽ liên tục. Nếu bệnh nhân trở nên nguy hiểm, kích động, gây hấn và xung động thì cần có sự có mặt của nhân viên bảo vệ và cảnh sát. Thông thường, bệnh nhân say ma túy cần được điều trị dài ngày nên những bệnh nhân này cần được nhập viện hơn là tại phòng giam giữ.

  4.4. Các thuốc chống loạn thần

   Các thuốc chống loạn thần được điều trị các triệu chứng loạn thần của bệnh nhân tự sát ở khoa cấp cứu. Mặc dù, hầu hết các thuốc có hiệu quả điều trị các rối loạn tâm thần nhưng các thuốc không có tác dụng phòng ngừa tự sát. Riêng clozapyl được khuyến cáo điều trị tâm thần phân liệt kháng thuốc và dự phòng tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. Mặc dù chưa có những bằng chứng trong điều trị rối loạn phân liệt cảm xúc, clozapyl vẫn được sử dụng để dự phòng tự sát ở những bệnh nhân này. Vì clozapyl có thể gây nên chứng giảm bạch cầu hạt, nên cần xét nghiệm số lượng bạch cầu hàng tuần trong 3 tháng đầu và cứ mỗi hai tuần trong thời gian tiếp theo.

LIỆU PHÁP SỐC ĐIỆN

Phương Pháp Sốc Điện Chữa Trầm Cảm Có Hiệu Quả Không?

   Liệu pháp sốc điện (ECT) là phương pháp có hiệu quả tốt đối với các trường hợp trầm cảm mức độ nặng có loạn thần cũng như các trường hợp không dung nạp thuốc và không đáp ứng với liệu pháp điều trị. Tuy nhiên, tác dụng của ECT không duy trì kéo dài và bệnh nhân có thể tái phát trầm cảm. Vì vậy, sau khi kết thúc liệu trình ECT, bệnh nhân cần được tiếp tục điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm và các thuốc chống loạn thần khác. Bên cạnh đó, một vài bệnh nhân cần được điều trị duy trì bằng ECT.

BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC

  – Giải quyết khủng hoảng.

  – Liệu pháp tâm lý: liệu pháp tâm lý cần được áp dụng trong điều trị bệnh nhân tự sát. Bên cạnh điều trị bằng thuốc chống trầm cảm, liệu pháp tâm lý giải quyết được những vấn đề căn bản của trầm cảm. Liệu pháp tâm lý cần được thực hành và mục đích giải quyết các vấn đề hiện tại. Bệnh nhân được khuyến khích đi cùng chồng/vợ hoặc người nhà bởi vì sự hiểu biết của gia đình có ích cho việc cải thiện của bệnh nhân. Không có gì là bất thường khi cho gia đình biết về tác dụng phụ của thuốc trước khi bệnh nhân được dùng thuốc. Bệnh nhân trầm cảm thường tập trung vào cảm giác đau bên trong cơ thể. Nghe được thông tin tốt từ người bên ngoài giúp cho bệnh nhân tin tưởng vào hiệu quả của liệu pháp điều trị trầm cảm.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

CẤP CỨU TÂM THẦN BỆNH NHÂN MÊ SẢNG

CẤP CỨU TÂM THẦN BỆNH NHÂN MÊ SẢNG

        Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

1. KHÁI NIỆM

Sảng là biến chứng hay gặp trong bệnh viện cũng như trong chăm sóc ban đầu tại gia đình, là bệnh lý khó chẩn đoán và ít được điều trị kịp thời, do đó làm gia tăng chi phí điều trị, kéo dài thời gian nằm viện và nguy cơ tử vong cao. Biện pháp phòng ngừa là đánh giá đầy đủ dinh dưỡng, các bệnh lý cơ thể và tâm thần, các thuốc đã sử dụng. Để có hiệu quả tối đa, cần điều trị theo nguyên nhân; không điều trị thích đáng các nguyên nhân gây sảng làm gia tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.

Sảng là bệnh lý cấp cứu không những trong chuyên ngành tâm thần mà còn ở trong các chuyên ngành khác. Sảng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tình trạng kích động ở bệnh nhân trên 65 tuổi. Tần suất xuất hiện sảng cao ở các bệnh nhân điều trị nội trú. Biểu hiện của sảng thường chỉ ra tình trạng rối loạn chuyển hóa có ảnh hưởng đến não. Nhiều nguyên nhân, đơn độc hoặc kết hợp đều có khả năng là nguyên nhân gây sảng.

Bệnh tâm thần phân liệt: triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị

Sảng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tình trạng kích động ở bệnh nhân trên 65 tuổi

Khi khám bệnh nhân nghi ngờ sảng, bác sĩ cần luôn chú ý đến các bệnh lý bị che giấu có thể là nguyên nhân gây ra sảng và cần điều trị trực tiếp các nguyên nhân này. Tình trạng kích động cấp tính cần được kiểm soát bằng thuốc và đôi khi phải được cố định tại giường để đề phòng tự gây chấn thương trong suốt giai đoạn suy giảm nhận thức và mất sự phê phán.

Theo DSM – 5 của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, sảng là tình trạng suy giảm đáng kể trên lâm sàng chức năng nhận thức hoặc trí nhớ so với khả năng bình thường trước đây của người bệnh. Các biểu hiện khác của sảng bao gồm: suy giảm hoặc rối loạn chức năng tiếp nhận, ảo giác. Những rối loạn này mang tính nhất thời, bệnh nhân thường kích động vào ban đêm và ngủ gà vào ban ngày. Bệnh cảnh lâm sàng của sảng rất đa dạng bởi vì bệnh nhân có thể trở nên tỉnh táo trong thời gian ngắn và cường độ của sảng lại dao động trong ngày. Tình trạng sảng nặng hơn có thể liên quan đến sự thay đổi của ca trực hoặc xảy ra vào lúc hoàng hôn khi các kích thích khác nhau lấn át hoạt động của não đang bị ức chế.

Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng sảng là tình trạng khá phổ biến ở bệnh nhân điều trị nội trú. Bệnh nhân già và bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật là các đối tượng có nguy cơ cao nhất (15% đến 18% số bệnh nhân phẫu thuật nói chung, ít nhất 30% số bệnh nhân phẫu thuật tim mạch và 50% số bệnh nhân phẫu thuật tại khớp háng mắc sảng tại một thời điểm nào đó trong quá trình nằm viện).

Thông thường, sảng làm gia tăng nguy cơ tử vong cho bệnh nhân. Các báo cáo cho thấy rằng 25% đến 70% bệnh nhân già mắc sảng trong quá trình điều trị nội trú tử vong trong bệnh viện; 25% đến 33% sẽ tử vong trong vòng 6 tháng từ khi ra viện.

Để hiểu rõ mức độ nghiêm trọng của sảng là so sánh sảng với ngừng tim. Sảng chỉ ra rối loạn chức năng sinh lý của giai đoạn suy giảm khả năng đáp ứng của cơ thể với môi trường bên trong cũng như đối với môi trường bên ngoài cơ thể. Sảng thường là yếu tố chỉ điểm cho bệnh lý nghiêm trọng và bệnh lý tiềm tàng trong cơ thể. Để đạt hiệu quả điều trị tốt đối với bệnh nhân sảng, cần xác định và điều trị kịp thời các bệnh lý này.

Các yếu tố nguy cơ của sảng bao gồm:

– Phẫu thuật chỉnh hình.

– Phẫu thuật tim mạch.

– Suy giảm chức năng nhận thức có liên quan đến bệnh lý khác.

– Suy giảm thị lực, thính lực.

– Mất nước, suy dinh dưỡng.

– Viêm nhiễm thứ phát ở não, gan.

– Trong quá trình gây mê hoặc phẫu thuật.

– Sử dụng benzodiazepin, opioid hoặc corticoid.

– Dẫn lưu Foley.

2. ĐÁNH GIÁ LÂM SÀNG

2.1. Chẩn đoán sảng

Đối với bệnh nhân sảng cần thiết phải khai thác bệnh sử, tiền sử cũng như khám thực thể và xét nghiệm cơ bản. Đôi khi, bệnh nhân không thể cung cấp đầy đủ thông tin tiền sử, bệnh sử thì thu thập thông tin qua người nhà là hết sức quan trọng.

Các xét nghiệm cận lâm sàng cơ bản sau đây nhằm phát hiện các bệnh lý gây ra sảng: điện giải, urê, creatinin, glucose máu, công thức bạch cầu, xét nghiệm nước tiểu. Nếu bệnh nhân có biểu hiện viêm phổi, cần thiết phải chụp Xquang tim phổi. CT hoặc MRI sọ não cũng cần được thực hiện để loại trừ căn nguyên chấn thương chảy máu não hoặc đột quỵ. Các xét nghiệm khác như nồng độ thuốc trong máu, khí máu, amoniac máu và các xét nghiệm chuyên biệt khác cũng cần được thực hiện trong các trường hợp khó xác định nguyên nhân.

Đo điện não đồ (EEG) để chẩn đoán rối loạn giấc ngủ

Điện não đồ rất có giá trị trong chẩn đoán sảng. Biểu hiện điện não đồ ở bệnh nhân sảng bao gồm là các sóng chậm, lan tỏa, ngoại trừ sảng run (sảng do cai rượu) thì sóng điện não đặc trưng là các sóng nhanh và biên độ lớn. Điện não là phương pháp đơn giản, rẻ tiền và có thể áp dụng rộng rãi để xác định chẩn đoán. Điện não có thể xác định các bệnh lý chuyên biệt như bệnh Creutzfeldt – Jakob, chứng ngủ rũ và động kinh tiềm ẩn.

2.2. Các bệnh lý có thể gây nên sảng

Nhiễm khuẩn hệ tiết niệu là nguyên nhân phổ biến gây nên rối loạn tâm thần và sảng ở người già cả trong bệnh viện cũng như trong chăm sóc ban đầu tại gia đình. Nhiễm khuẩn thường thầm lặng, không có các biểu hiện thông thường trong giai đoạn toàn phát…

Hội chứng cai rượu: hội chứng cai rượu và sảng có thể xuất hiện ở phòng điều trị hoặc phòng phẫu thuật khi bệnh nhân được nhập viện vì các bệnh lý cấp tính, tiền sử uống rượu thường khó được phát hiện vì bệnh nhân che giấu. Các bác sĩ cần chú ý đến triệu chứng mạch nhanh và run tay để nhanh chóng xác định hội chứng cai rượu trước khi sảng rượu xảy ra.

Tổn thương hệ thần kinh do rượu - Tuổi Trẻ Online

 

Rượu có thể gây tổn thương đồng thời cả hệ thần kinh trung ương và ngoại biên

Ngộ độc các chất gây nghiện: có nhiều bằng chứng chứng minh tình trạng ngộ độc cấp amphetamin, cocain, PCP (phencyclidine), LSD (lysergic acid diethylamid) và các chất gây ảo giác khác cũng có thể gây nên sảng.

Các rối loạn khác: viêm phổi ở người già, suy tim có thể gây nên giảm oxy máu và sảng. Suy tim do bất kỳ nguyên nhân nào cũng có thể gây nên sảng. Nhược giáp và cường giáp mức độ nặng có khả năng gây nên sảng. Tăng đường máu và hạ đường máu gây suy giảm chức năng não. Rối loạn điện giải cấp tính gây ra bởi vã mồ hôi hoặc nôn và các nguyên nhân khác cũng gây nên sảng.

– Sử dụng opioid quá liều gây ức chế hô hấp, giảm oxy máu và gây sảng. Tình trạng này có thể điều trị dễ dàng bằng naloxon. Liều naloxon có thể lặp lại do hiệu quả đối kháng ngắn với opioid của naloxon.

– Quá liều các thuốc benzodiazepin có thời gian bán thải ngắn như alprazolam (xanax) và triazolam (halcion) có thể gây sảng. Nếu bệnh nhân không thường xuyên sử dụng benzodiazepin thì tình trạng sảng có thể được điều trị bằng flumazenil (romazicon), 0,2mg trong 15 phút đầu và nhắc lại cứ mỗi một phút, liều tối đa là 1 đến 2mg. Điều lưu ý là theo dõi cơn co giật do thuốc.

NHẬN BIẾT VÀ XỬ TRÍ CƠN ĐỘNG KINH | Vinmec

Động kinh có thể gây sảng. Tiền sử động kinh thường dễ phát hiện và khi đó có những dấu hiệu của động kinh như biểu hiện của các chấn thương và tiểu dầm.

– Chấn động não đôi khi gây nên sảng thời gian ngắn. Nhiễm trùng hệ thống thần kinh trung ương có thể gây nên ức chế hệ thống thần kinh, thiếu máu cục bộ tạm thời cũng gây nên tình trạng lú lẫn và sảng. U não gây tăng áp lực nội sọ, dẫn đến sảng và rối loạn cảm xúc.

– Ngộ độc metal và carbon monoxyd có thể dẫn đến sảng do rối loạn chuyển hóa ở não và suy giảm oxy não. Ngộ độc lithium có thể gây nên sảng và kéo dài vài ngày cho đến 1 tuần sau khi nồng độ lithium trong máu trở về bình thường.

– Rối loạn chức năng nội tiết của tuyến yên, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến cận giáp và tuyến giáp có thể gây nên sảng do rối loạn hằng định nội môi trong cơ thể. Bệnh lý gan kết hợp với chứng táo bón, chế độ ăn giàu protein và các thuốc như valproic acid và topiramat dùng kết hợp hay đơn độc có thể gây nên tăng amoniac máu và gây nên sảng. Suy thận và các rối loạn trong hệ thống tiết niệu làm tăng urê máu và dẫn đến sảng thứ phát. Bệnh nhân già thường ít nhậy cảm với biểu hiện khát nước và tình trạng không cung cấp đủ nước có thể có nguy cơ gây nên sảng.

– Suy hô hấp và suy giảm hoạt động hệ thống tim mạch là các nguyên nhân còn lại gây nên suy giảm hoạt động tâm thần, trong đó có chứng loạn nhịp tim (như rối loạn nút xoang…) cũng gây nên sảng.

– Thiếu hụt vitamin B12, acid folic, thiamin và axid nicotinic gây nên hội chứng suy nhược và trong đó có bệnh cảnh của sảng.

– Sốt cao và nhiễm khuẩn huyết sau phẫu thuật gây nên tình trạng sảng nặng nề. Sảng sau phẫu thuật thường do sự rối loạn nước, điện giải, mất máu và ảnh hưởng của các thuốc gây mê.

– Các thuốc gây sảng: nhiều thuốc có khả năng gây sảng, bất cứ các thuốc nào gây nên tác dụng phụ kháng cholinergic như khô miệng, nhìn mờ, táo bón đều có thể gây sảng nếu sử dụng với liều cao hoặc được kết hợp với các thuốc kháng cholinergic khác. Các thuốc kháng cholinergic bao gồm thuốc kháng Parkinson như benztropin (cogentin) và các thuốc chống loạn thần hiệu lực thấp như chlopromazin (thorazin).

– Insulin, thuốc hạ huyết áp có thể gây sảng do làm giảm cân bằng điện giải hoặc gây huyết áp thấp. Glycosid tác dụng trên tim mạch (như digoxin) có thể gây sảng với liều thông thường ở người lớn tuổi. Các thuốc gây ảo giác như PCP là thuốc gây tình trạng sảng có kích động và loạn thần.

– Các tác nhân khác có thể gây sảng nhưng khả năng thấp hơn như disulfiram và các thuốc chẹn thụ thể H2 như famotidin, ranitidin và cimetidin. Các thuốc giảm đau NSAIDs như diclofenac và indomethazin đôi khi cũng gây sảng.

3. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

3.1. Mất trí

So sánh đặc điểm của sảng và mất trí:

Sảng Mất trí
Khởi phát cấp tính của tình trạng suy giảm chức năng nhận thức cùng với ức chế chức năng tâm thần khác xảy ra vài giờ hoặc vài ngày Khởi phát của tình trạng suy giảm chức năng nhận thức diễn ra từ từ, xảy ra từ vài tháng đến hàng năm. Nếu là đột quỵ thì lại gây suy giảm chức năng sống một cách đột ngột
Thường có liên quan đến các nguyên nhân có thể phục hồi Thường là bệnh lý tiển triển, ngày càng nặng dần và dẫn đến sa sút; ngoại trừ mất trí liên quan đến nhược giáp, giảm vitamin B12, phù não áp lực bình thường, giang mai và mất trí liên quan đến rượu là có thể hồi phục hoàn toàn
Thường có hoang tưởng và ảo giác Ảo giác thường ít gặp, ngoại trừ mất trí do bệnh Lewy
Dấu hiệu sinh tồn thường rối loạn Thường ít rối loạn
Bệnh nhân biểu hiện lo âu, sợ hãi và bất an Bệnh nhân biểu hiện sự ức chế
Tăng tỷ lệ tử vong trong năm tiếp theo Mất trí biểu hiện tiến triển trong nhiều năm
Điều trị bằng thuốc an thần trong thời gian ngắn có hiệu quả Điều trị bằng thuốc an thần trong thời gian dài làm gia tăng tỷ lệ tử vong
Xảy ra ở mọi lứa tuổi Xuất hiện ở độ tuổi cao

 

     3.2. Tâm thần phân liệt

Chẩn đoán phân biệt sảng với tâm thần phân liệt tương đối dễ dàng bởi vì tâm thần phân liệt là bệnh lý kéo dài suốt đời mà khởi phát thường ở độ tuổi trẻ trong khi sảng thường xảy ra trong thời gian đầu nằm viện do các bệnh lý nặng, cấp tính. Hơn nữa, hoang tưởng nếu xảy ra trong sảng thì diễn ra trong thời gian ngắn và không mang tính chất kỳ quái như trong trong tâm thần phân liệt.

Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là bệnh lý kéo dài suốt đời mà khởi phát thường ở độ tuổi trẻ trong khi sảng thường xảy ra trong thời gian đầu nằm viện do các bệnh lý nặng, cấp tính.

    3.3. Hưng cảm

Chẩn đoán phân biệt sảng với hưng cảm nhờ vào khảo sát cảm xúc của bệnh nhân. Mặc dù sự rối loạn chú ý xảy ra ở cả sảng và hưng cảm nhưng trạng thái cảm xúc của sảng thường không đúng với thực tại. Hưng cảm nặng có thể biểu hiện sảng đi kèm do sự cạn kiệt năng lượng gây ra rối loạn chuyển hóa nếu hưng cảm không được điều trị. Không như trong sảng, một bệnh sử đầy màu sắc của hưng cảm bao gồm tiêu tiền quá mức, tăng hoạt động tình dục, tự cao, tăng hoạt động ưu thích.

Bệnh hưng cảm có loạn thần - dấu hiệu nhận biết và cách điều trị

Hưng cảm nặng có thể biểu hiện sảng đi kèm do sự cạn kiệt năng lượng gây ra rối loạn chuyển hóa nếu hưng cảm không được điều trị

   3.4. Trầm cảm

   Tình trạng bàng quan trong sảng có thể giống trầm cảm nhưng có nhiều biểu hiện khác biệt. Bệnh cảnh lâm sàng của trầm cảm là mất hứng thú và vô cảm nhưng vẫn có khả năng có sự chú ý chứ không ức chế hoàn toàn sự chú ý và cảnh giác như trong sảng. Bệnh nhân sảng không có các triệu chứng đặc trưng của trầm cảm như cảm giác vô vọng, vô giá trị và ý định tự sát. Tuy nhiên, bệnh nhân sảng cũng có thể có hành động gây nguy hiểm đối với chính bản thân họ. Họ có thể hoảng sợ và tự gây ra tai nạn do sự chi phối của hoang tưởng và ảo giác. Sự rối loạn chú ý bị suy giảm nghiêm trọng ở bệnh nhân sảng khi so với trầm cảm. Bệnh nhân trầm cảm có rối loạn giấc ngủ nhưng rối loạn này tương đối nhẹ hơn so với sảng. Tuy nhiên, cũng cần chú ý bệnh nhân trầm cảm cũng có thể mắc sảng do các bệnh lý cơ thể nặng khác gây nên.

4. ĐIỀU TRỊ

4.1. Nguyên tắc chung

 Điều trị sảng có nhiều sự khác biệt nổi bật, bao gồm: xác định và điều trị các bệnh lý gây nên sảng, giải thích cho người nhà về những rối loạn hành vi một cách đột ngột của bệnh nhân.

 – Xác định các rối loạn điện giải và dinh dưỡng.

– Kiểm tra các dấu hiệu sinh tồn bị suy giảm, khám toàn thân và thực hiện các xét nghiệm để xác định các nguyên nhân và chỉ định điều trị.

– Giải thích các biến chứng có thể xảy ra đối với bệnh nhân cho người nhà.

– Cố gắng duy trì một kíp riêng biệt để chăm sóc, điều trị bệnh nhân.

– Đảm bảo mọi sự đi lại, thăm hỏi của người thân ở bên ngoài phòng bệnh.

– Duy trì nước, điện giải trong suốt quá trình hậu phẫu và thực hiện các bước phòng ngừa rối loạn điện giải.

– Nếu cần thiết, giảm số lượng và liều lượng các thuốc đang sử dụng.

– Đảm bảo chức năng của hệ tiêu hoá và thận tiết niệu để nhanh chóng xác định, điều trị kịp thời.

– Giải quyết triệt để sốt và các rối loạn do sốt gây nên ở trẻ em; khuyến khích sự có mặt của bố mẹ và người khác nếu có thể. Tránh làm cho bệnh nhân cảm giác quá ngột ngạt hoặc đơn độc.

Tất cả các thuốc chưa thật sự cần thiết cần phải loại bỏ ngay lập tức. Các dấu hiệu sinh tồn cần được chú ý. Bệnh nhân cần được bảo vệ khỏi chấn thương do ngã và cũng cần tránh tự làm tổn thương do tự rút dây truyền tĩnh mạch và các ống dẫn lưu. Bệnh nhân cần phải có một người chăm sóc liên tục trong quá trình rối loạn ý thức và nhận thức. Sự có mặt của gia đình giúp bệnh nhân sảng bớt lo âu.

4.2. Các thuốc điều trị

Phương án điều trị sảng tập trung vào điều chỉnh rối loạn chuyển hóa và điều trị các bệnh lý tiềm ẩn. Haloperidol, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, 2 đến 5mg, cứ mỗi 30 phút nếu cần, cùng với liều thấp của benzodiazepin có thể giảm bớt tình trạng kích động ở bệnh nhân sảng. Tiêm tĩnh mạch haloperidol thường gây nên tác dụng phụ là triệu chứng ngoại tháp và giảm dẫn truyền thần kinh cơ khi tiêm liều cao. Bệnh nhân cần được theo dõi điện tim chặt chẽ để đề phòng kéo dài khoảng QT.

Có nhiều báo cáo về gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sảng có kích động và sử dụng thuốc an thần không điển hình kéo dài. Olanzapin có hiệu quả nhanh và có dạng thuốc 5mg và 10mg. Dạng dung dịch của risperidol, 0,5mg đến 1mg được được chỉ định mỗi giờ cho đến khi đạt liều tối đa là 4mg. Liều cao hơn ít khi được sử dụng nhưng nếu chỉ định cần phải điều trị các triệu chứng ngoại tháp, hạ huyết áp tư thế đứng. Kinh nghiệm điều trị sảng bằng các thuốc này còn hạn chế.

Quetiapin cũng có hiệu quả điều trị sảng. Tuy nhiên, tác dụng phụ bao gồm buồn ngủ, chóng mặt do tụt huyết áp, thỉnh thoảng khó nuốt và triệu chứng ngoại tháp. Liều khởi đầu của quetiapin là 12,5mg đến 50mg mỗi ngày.

Phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với sảng có liên quan đến căng trương lực, hội chứng an thần kinh ác tính và hưng cảm là liệu pháp sốc điện.

Can thiệp sau sảng: bệnh nhân cảm giác bối rối và nhậy cảm đối với các hành vi trong sảng. Liệu pháp hỗ trợ cần được thực hiện để làm giảm cảm giác khó chịu của gia đình gây ra bởi hành vi của bệnh nhân trong quá trình sảng. Gia đình cũng cần được cung cấp thông tin về nguy cơ sảng xảy ra ở người lớn tuổi do giảm khả năng tự chăm sóc bản thân, uống thuốc không được đầy đủ. Gia đình và bản thân người bệnh khó chấp nhận việc theo dõi sát bệnh nhân. Do đó, các dịch vụ của xã hội và chuyên khoa tâm thần cần được ưu tiên.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

 

 

 

THUỐC SỬ DỤNG TRONG CẤP CỨU TÂM THẦN

THUỐC SỬ DỤNG TRONG CẤP CỨU TÂM THẦN

        Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

1. NHỮNG ĐIỂM CHUNG

Việc sử dụng các loại thuốc trong tình huống cấp cứu để giảm kích động có thể được yêu cầu trước khi bệnh nhân bình tĩnh trở lại, lượng thuốc phải đủ để kiểm soát tình hình. Mặc dù các thuốc hướng thần nói chung tương đối an toàn, nhưng một liều lượng thuốc cao hoặc liều dùng lại kết hợp với các loại thuốc khác có thể gây ra những hội chứng như là hội chứng an thần kinh ác tính và hội chứng serotonin. Đây là những trường hợp cấp cứu phải được điều trị ngay lập tức và yêu cầu nhập viện.

Hiện nay trên thị trường có nhiều thuốc hướng thần, tuy nhiên trong các ca cấp cứu, tại thời điểm bệnh nhân bị tâm thần nặng hoặc quá hưng phấn kết hợp với xu hướng bạo lực cần có sự lựa chọn thuốc. Một số thuốc thường được sử dụng nhóm benzodiazepin như là thuốc chống lo âu lorazepam, loại thuốc chống loạn thần điển hình như thuốc an thần kinh haloperidol (haldol) và những loại thuốc chống loạn thần không điển hình có thể được dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với hình thức tiêm bắp. Các loại thuốc này sẽ được thảo luận sâu hơn ở phần sau.

Nhiều người cảm thấy rằng việc sử dụng thuốc khẩn cấp với ý định cụ thể để khống chế bệnh nhân là tàn nhẫn. Điều này là không đúng. Sẽ tàn nhẫn hơn nếu như để một người trong tình trạng loạn thần nghiêm trọng, bị kích động hoặc để tình trạng bạo lực tiếp diễn.

Khống chế bằng thuốc là quan trọng khi bệnh nhân có xu hướng tự làm tổn thương chính mình

Khi việc khống chế về thân thể là không đủ, bệnh nhân tiếp tục chống lại việc bị khống chế hoặc tiếp tục thể hiện hành vi bạo lực với khả năng tự gây thương tích – sự khống chế bằng thuốc là cần thiết.

Cần lưu ý rằng sự khống chế về thân thể có thể không dễ dàng đạt được; đôi khi, bệnh nhân trong tình trạng điên cuồng hoặc lo sợ phải chiến đấu với chính họ và cố gắng để chạy trốn khỏi các bác sĩ. Sử dụng sức lực (với đông đảo nhân viên) có thể đủ để đưa bệnh nhân vào phòng cách ly nếu như cần thiết hoặc cho dùng thuốc khẩn cấp.

Tuy nhiên, đôi khi bệnh nhân có thể tin rằng họ đang chiến đấu để sống và có thể cực kỳ khỏe mạnh, với một sự đột biến cảm xúc. Có thể phải yêu cầu 5 người để khống chế bệnh nhân trong trường hợp này. Năm là số lượng nhân viên được yêu cầu, mỗi một người giữ 1 chân hoặc 1 tay, và một người còn lại giữ đầu. Nếu việc sử dụng thuốc được xem là cần thiết thì người thứ 6 sẽ đảm nhận. Phải giữ bệnh nhân cho đến khi thuốc có tác dụng (lúc này phải cố định bệnh nhân vào giường bằng dây). Bệnh nhân cần phải được kiểm tra liên tục các thương tích có thể. Cần thiết phải cách ly những bệnh nhân bạo lực để giảm thiểu sự kích thích.

Khi bệnh nhân không hợp tác, có thể là do rối loạn tâm thần, do thuốc hoặc do lạm dụng chất gây nghiện, những thông tin của bệnh nhân trở nên cực kỳ quan trọng về lịch sử bệnh tật, thiết lập chức năng cơ bản và hướng điều trị.

Các bác sĩ bắt buộc phải rất cẩn thận đối với sự an toàn của chính họ và tránh ở gần những bệnh nhân bạo lực nếu như không có các nhân viên khác ở cạnh. 

Không gian và lối thoát phải phù hợp với các bác sĩ lâm sàng nếu bệnh nhân tiếp tục có xu hướng bạo lực. 

Các nhân viên hỗ trợ, nhân viên kỹ thuật và y tá được đào tạo để đối phó với loại tình huống này phải luôn sẵn sàng.

2. CÁC THUỐC TẠI KHOA CẤP CỨU CHO TÌNH TRẠNG LOẠN THẦN

Các loại thuốc dùng để cấp cứu loạn thần cần phải luôn có sẵn trong khoa cấp cứu.

2.1. Benzodiazepin – thuốc bình thần

Loại thuốc tiêm benzodiazepin phải luôn sẵn có. Lorazepam (ativan), 1 hoặc 2mg, uống hoặc tiêm  bắp là sự lựa chọn đầu tiên khi muốn làm dịu thần kinh. Lorazepam có tác dụng nhanh, dễ quản lý và hiệu quả tương đương khi uống và tiêm – khiến cho loại thuốc này trở nên dễ dàng hơn để tính toán liều lượng. 

Thuốc An Thần Gây Ngủ Là Gì? Loại Nào Tốt Và Lưu ý?

Thuốc bình thần Benzodiazepin 

Thuốc này cũng được tin cậy hơn và dễ hấp thụ khi tiêm hơn là các thuốc khác cùng loại. Nếu lý do bệnh nhân kích động vì cai rượu, việc sử dụng lorazepam là phương pháp điều trị đầu tiên. Cần thận trọng khi sử dụng nếu bệnh nhân có bệnh về đường hô hấp (ví dụ: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [COPD], chứng ngưng thở khi ngủ) vì nó có thể gây suy hô hấp.

2.2. Thuốc chống loạn thần
2.2.1. Haloperidol

Haloperidol (haldol) đã được sử dụng rộng rãi trước khi các loại thuốc tiêm chống loạn thần không điển hình ra đời (xem phần sau). Haloperidol là thuốc chống loạn thần điển hình có hiệu quả cao mà có thể dùng kết hợp với lorazepam hoặc seduxen trong cùng một ống tiêm. Do tác dụng phụ của haloperidol (đặc biệt là gây hội chứng ngoại tháp) nên thông thường thuốc benzodiazepin hoặc pipolphen được sử dụng kết hợp. Những thuốc này không chỉ giúp giải quyết tình trạng ngoại tháp do thuốc mà còn nâng cao hiệu quả an thần của haloperidol. Các tác dụng phụ bao gồm: chứng nghẹo cổ nghiêm trọng (các cơ bị đau buộc cơ thể phải chuyển sang các cơ bên cạnh) và bệnh giả Parkinson – một loại bệnh làm suy giảm khả năng vận động. Sử dụng lâu dài các loại thuốc chống loạn thần điển hình như là haloperidol và fluphenazin (một loại thuốc an thần kinh nhóm phenothiazin) có thể dẫn đến tình trạng rối loạn vận động muộn (các cơ mặt, hàm, lưỡi… cử động bất thường).

Để xử trí cấp cứu các trạng thái kích động, chúng tôi thường phối hợp thuốc như sau:

(1) Aminazin 25mg x 3 ống

(2) Haloperidol 5mg x 2 ống

(3) Pipolphen 0,05 x 1 ống

Ba thuốc trộn lẫn tiêm bắp sâu. Tùy từng trường hợp có thể thay đổi liều lượng.

Ngoài ra, một số trường hợp sử dụng thêm diazepam 10mg x 1 ống tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.

2.2.2. Các loại thuốc chống loạn thần không điển hình

– Gần đây, các loại thuốc chống loạn thần không điển hình đã có sẵn để tiêm bắp, bao gồm thuốc điều trị tâm thần phân liệt olanzapin (zyprexa) và thuốc điều trị rối loạn khí sắc lưỡng cực ziprasidon.

+ Olanzapin: olanzapin có thể tiêm bắp với liều lượng 10mg nhắc lại sau 2 giờ, với liều lượng tối đa là 30mg/24h, cho đến khi đạt được hiệu quả mong muốn. Các tác dụng phụ bao gồm hạ huyết áp theo tư thế (orthostatic hypotension) và QT kéo dài.

+ Ziprasidon: liều khuyến cáo của ziprasidon là tiêm bắp 10mg sau 2 giờ hoặc tiêm bắp 20mg sau 4 giờ, với liều lượng tối đa có thể tiêm bắp là 40mg/24h. Tác dụng phụ chủ yếu là QT kéo dài; do vậy, chống chỉ định thuốc này với việc sử dụng đồng thời thuốc chống loạn nhịp nhóm I và III với bất kỳ ai gần đây bị nhồi máu cơ tim.

– Quản lý sử dụng các loại thuốc chống loạn thần không điển hình: việc sử dụng các loại thuốc này nên chuyển từ tiêm bắp sang uống càng sớm càng tốt. Lợi thế của thuốc là giảm các sự cố loạn trương lực cơ cấp, ít có nhu cầu sử dụng đồng thời với các loại thuốc khác như là lorazepam, diphenhydramin hay benzodiazepin; tuy nhiên, điều bất lợi là thuốc cũng gây hạ huyết áp theo tư thế, QT kéo dài. Các loại thuốc chống loạn thần không điển hình khác như aripiprazol (abilify), clozapin (lozaril), quetiapin (seroquel), iprasidon (geodon) cũng hay được sử dụng.

3. NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ NGHIÊM TRỌNG CỦA THUỐC HƯỚNG THẦN

Những tác dụng phụ đáng sợ nhất của các loại thuốc thuộc ngành Tâm thần dược học là hội chứng serotonin và hội chứng an thần kinh ác tính.

3.1. Hội chứng serotonin
3.1.1. Khái niệm

Hội chứng serotonin thường xảy ra do các chất như chất thuộc nhóm ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs) và ức chế tái hấp thu serotonin và noradrenalin (SNRIs). Thông thường, hội chứng này bị gây ra bởi sự kết hợp của một số loại thuốc như benzodiazepin, buspiron (BuSpar), bupropion (wellbutrin), sertralin (zoloft), fluoxetine (prozac), paroxetin (paxil), citalopram (celexa) và thuốc ức chế moanoamin oxydase khác (MAOIs) với thuốc chống trầm cảm 3 vòng. Các chất khác với ảnh hưởng tương tự như là dextromethorphan và lithium liên quan đến việc tăng thêm nguy cơ xảy ra hội chứng serotonin. Khi đơn trị liệu được sử dụng và hội chứng serotonin xảy ra, thường thì đây là kết quả của việc sử dụng liều cao những loại thuốc này hoặc có thể không đủ thời gian để cơ thể đào thải hết khi chuyển từ MAOIs sang SSRIs.

Có ba đặc điểm trong tiêu chí chẩn đoán hội chứng serotonin là lú lẫn, hưng cảm cường độ nhẹ hoặc thay đổi trạng thái tâm thần và kích động.

Những triệu chứng khác bao gồm giật rung cơ, run, rùng mình, toát mồ hôi, mất phối hợp, sốt, tiêu chảy. Các trường hợp nghiêm trọng của hội chứng serotonin có thể do tăng tổn thương cơ bắp, tăng các creatin (một sản phẩm chuyển hóa protein trong cơ). Thận không lọc kịp, có thể gây ra chứng suy thận. Nhiễm toan hô hấp hoặc suy hô hấp, hội chứng đông máu rải rác nội mạch có thể xuất hiện. Co giật, hôn mê và tử vong, mặc dù hiếm vẫn có thể xảy ra.

3.1.2. Chẩn đoán

Không có sẵn các test để xác định chẩn đoán hội chứng serotonin. Tuy nhiên, các bác sĩ đã khuyến cáo tất cả các bệnh nhân nghi ngờ mắc hội chứng serotonin cần phải trải qua các xét nghiệm cơ bản, bao gồm đánh giá chức năng gan và thận, điện phân, xét nghiệm CPK (creatin  phosphoki-nase), glucose, điện tâm đồ; xét nghiệm máu toàn bộ; số lượng tiểu cầu,  thời gian prothrombin (PT) và thời gian thromboplastin từng phần nếu như xảy ra tình trạng suy hô hấp nặng, đặc biệt với việc tăng thân nhiệt hoặc giảm huyết áp, là dấu hiệu có thể dẫn đến tử vong.

3.1.3. Điều trị

Không có phương pháp điều trị đặc hiệu hội chứng serotonin. Phải ngừng ngay lập tức việc sử dụng các chất serotonin, mà phần lớn là SSRI hoặc IMAO. Nếu bệnh nhân bị kích động thì cần sử dụng benzodiazepin; suy hô hấp cần phải theo dõi và đặt nội khí quản là cần thiết.

Nếu nhiệt độ cơ thể bệnh nhân được tăng lên, giảm hoạt động và bù nước, điện giải. Trường hợp trầm trọng, cần đưa bệnh nhân vào phòng chăm sóc đặc biệt để giảm sát. Nếu cơn co giật tăng, tiêm tĩnh mạch diazepam 10mg, có thể nhắc lại sau 15 phút nếu cần thiết. Phương pháp điều trị cụ thể là:

– Cycloheptadin 8mg uống sau 2 giờ, tăng lên liều tối đa là 32mg/24h; liều thấp nhất dường như không có hiệu quả.

– Sử dụng than hoạt tính là cần thiết nếu như bị nghi ngờ ngộ độc. Trong trường hợp này, gây nôn không được khuyến cáo do hệ thần kinh trung ương có thể bị ức chế.

– Liệu pháp sốc điện (ECT) cũng là phương pháp điều trị được lựa chọn.

– Bromocriptin được sử dụng trong phương pháp điều trị hội chứng an thần kinh ác tính nhưng không được khuyến cáo trong điều trị hội chứng serotonin vì ảnh hưởng của nó.

3.2. Hội chứng an thần kinh ác tính
3.2.1. Khái niệm

Hội chứng an thần kinh ác tính (NMS) là tác dụng phụ hiếm gặp nhưng nghiêm trọng khi dùng thuốc chống loạn thần. Nó có xu hướng kéo dài hơn và khởi phát chậm hơn so với hội chứng serotonin.

Hội chứng này có liên quan đến việc sử dụng thuốc an thần kinh, đặc biệt là những trường hợp mới sử dụng. Các triệu chứng bao gồm tăng thân nhiệt, sốt cao, bệnh nhân mất tự chủ, tăng huyết áp, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh và trong tình huống nghiêm trọng có thể hạ huyết áp. Các biểu hiện của hệ thần kinh trung ương ban đầu có thể mất phối hợp, rối loạn định hướng, lú lẫn ý thức, thậm chí hôn mê có thể gặp, đặc biệt trường hợp nghiêm trọng như co giật, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương dễ dẫn đến hôn mê. Hiệu ứng thần kinh cơ bao gồm tăng động quá, mất điều hòa, run rẩy, rùng mình, cứng cơ và các chi. Các triệu chứng về hệ tiêu hóa chủ yếu là tiêu chảy, đau bụng dường như không xảy ra trong hội chứng an thần kinh ác tính (khác với hội chứng serotonin).

Thận trọng với thuốc an thần kinh

Sốt cao, mất tự chủ, tăng huyết áp, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh có thể là dấu hiệu của Hội chứng an thần kinh ác tính (NMS)

Trong một số trường hợp nặng, tổn thương tế bào gan; suy thận cấp có thể xảy ra dẫn đến chứng globin cơ niệu kịch phát. Trong nhiều trường hợp nghiêm trọng hơn, nhịp thở nhanh có thể dẫn đến suy hô hấp. Sự tham gia của hệ thống cơ xương được phản ánh trong các triệu chứng giật rung cơ và tăng phản xạ với chứng globin cơ niệu kịch phát.

Xét nghiệm: tăng bạch cầu là phổ biến, tăng kali huyết, giảm natri huyết, tăng chỉ số CPK, tăng men gan.

Các biến chứng có thể gặp: tiêu cơ vân suy thận, co giật, trong một số trường hợp nghiêm trọng, hội chứng đông máu rải rác nội mạc có thể xảy ra, thậm chí gây tử vong.

3.2.2. Phương pháp điều trị

– Chưa có phương pháp điều trị hiệu quả nào được biết đến đối với hội chứng an thần kinh ác tính. Dưới đây là những phương pháp điều trị đã được sử dụng: ngay lập tức ngừng sử dụng các thuốc an thần kinh và bất kỳ kháng dopamin nào khác, hỗ trợ các chức năng vì các vấn đề phát sinh (như giảm thân nhiệt hoặc sốt), điều chỉnh nước và điện giải.

– Thuốc: dantrolen (dantrium) 1mg/kg bằng cách nhanh chóng tiêm tĩnh mạch liên tục cho đến khi có hiệu quả hoặc cho đến khi đạt liều tối đa là 8mg/kg trong suốt giai đoạn cấp, đối với thời kỳ lui bệnh thì dùng 4 – 8mg/kg/24h chia làm 4 lần uống từ 1 đến 3 ngày; hoặc bromocriptin (parlodel) 1,25 – 2,5mg hàng ngày, có thể đến liều tối đa là 100mg; hoặc amantadin (symadin) 100 – 300mg hàng ngày chia làm nhiều lần; hoặc levodopa (dopa) 300 – 1200mg/ngày chia làm nhiều lần; hoặc benztropin (cogentin) 1 – 2mg x 2 lần/ngày; hoặc clonazepam (klonopin) 1 – 2mg x 2 lần/ngày.

– Liệu pháp sốc điện, đặc biệt đối với những trường hợp kháng thuốc.

– Nhập viện và hỗ trợ các chức năng là rất cần thiết và có khả năng phải nghỉ tại phòng chăm sóc đặc biệt đối với cả hội chứng serotonin và hội chứng an thần kinh ác tính.

3.2.3. Dự phòng

Để dự phòng NMS khi sử dụng thuốc hướng thần nói chung, đặc biệt các an thần nhóm neuroleptic cần hết sức thận trọng. Phải dùng liều tăng dần, không dùng liều cao ngay; khi có biểu hiện NMS cần dừng thuốc và theo dõi sát bệnh nhân. Khi xác định hội chứng này phải tích cực xử trí.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương. Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

 

 

 

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN TRONG CHĂM SÓC

SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN

                                  Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức                                                              

  1.   Tổng quan các rối loạn tâm thần ở vị thành niên và thanh niên 

     Sức khỏe tâm thần không chỉ là không mắc bệnh lý tâm thần, mà đó là trạng thái mà cá nhân có thể thực hiện năng lực của mình, có thể thích nghi với những áp lực bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và có thể đóng góp cho cộng đồng.

    Rối loạn tâm thần là tình trạng bất thường đủ nghiêm trọng về nhận thức, điều hòa cảm xúc, hay hành vi của một người; gây ra đau khổ hay mất khả năng trong công việc và hoạt động xã hội quan trọng khác.

    Khi trẻ vị thành niên và thanh niên đến khám hoặc tư vấn về sức khỏe sinh sản, chúng ta có thể gặp những người có vấn đề sức khỏe tâm thần. Đó là những người tiền sử hoặc hiện tại mắc rối loạn tâm thần, hoặc những người đến vì các triệu chứng cơ thể của rối loạn tâm thần như đau, mệt mỏi, ăn ngủ kém, rối loạn kinh nguyệt, di tinh, mộng tinh, khó khăn trong quan hệ vợ chồng, họ có thể cho rằng họ mắc các bệnh liên quan tình dục, sinh sản, giới tính… Vì vậy vấn đề sức khỏe tâm thần trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe vị thành niên và thanh niên rất đáng quan tâm.

  1. Một số rối loạn tâm thần trong chăm sóc sinh sản vị thành niên và thanh niên

2.1. Các rối loạn tâm thần thời kỳ mang thai và sau sinh

    Rối loạn tâm thần thời kỳ mang thai và sau sinh là một quá trình biến đổi sinh lý, sinh hóa phức tạp diễn ra với các mức độ khác nhau làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người mẹ và ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất cũng như tâm thần của đứa trẻ khi sinh.

  Các dấu hiệu rối loạn tâm thần khi mang thai

– Rối loạn stress cấp và trường diễn: Rối loạn này xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong thời gian mang thai và dễ làm tăng nguy cơ tử vong sơ sinh, trong thực tế thì ít được mọi người chú ý đến. Nguy cơ bị stress có thể gây tác hại lập tức và dài hạn cho thai, tác hại ở chỗ làm thời gian thai kỳ ngắn hơn, dễ sinh non, thai chết lưu, hay gặp ở 3 tháng đầu thai kỳ. Nếu stress xảy ra ở 3 tháng cuối thì nguy cơ cao nhất là thai sinh nhẹ ký.

– Rối loạn stress sau sang chấn: Chiếm khoảng 3,5% ở những phụ nữ mang thai, dễ có nguy cơ cao thai bị lạc chỗ, sảy thai, nôn nhiều và chuyển dạ sớm.

– Rối loạn trầm cảm: Chiếm khoảng 13 – 20% số phụ nữ mang thai. Trầm cảm liên quan đến các tai biến như sảy thai, chảy máu trong thời gian thai kỳ, sức đề kháng động mạch tử cung cao và gia tăng nguy cơ sinh mổ. Trầm cảm dễ dẫn đến những hành vi có hại cho sức khỏe thai nhi ở bà mẹ hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng ma túy và tăng cân.

Rối loạn stress ở phụ nữ mang thai dễ gây nguy cơ cao thai bị lạc chỗ, sảy thai, nôn nhiều và chuyển dạ sớm.

– Rối loạn ăn uống: Chiếm 1,4% đối với chứng chán ăn tâm thần, 1,6% đối với chứng ăn vô độ. 3,7% đối với dạng hỗn hợp của 2 rối loạn trên. Bệnh nhân mắc chứng ăn vô độ dễ có nguy cơ sảy thai cao gấp 2 lần, nguy cơ cao về đái tháo đường, thai nhẹ ký.

– Rối loạn lưỡng cực giai đoạn hưng cảm: Tuy hiếm gặp nhưng nguy cơ cao chẳng hạn như: gia tăng hoạt động tình dục, hoạt động thể lực quá mức, lạm dụng ma túy.

– Ngoài ra có thể gặp các rối loạn mang tính chất tâm căn như nôn, buồn nôn. Nhất là mẹ mang thai trong 3 tháng đầu, một số khác thì tăng tiết nước bọt. Thường gặp là lo âu nhẹ, chóng mặt, tức ngực, sợ chết khi đẻ, sợ sinh con bệnh tật… có thể giảm triệu chứng này ở tháng thứ 4 và tái xuất hiện trạng thái lo âu trước khi sinh.

Chóng mặt, tức ngực có thể là dấu hiệu rối loạn tâm thần khi mang thai

   Những rối loạn tâm thần sau khi sinh:

 – Lú lẫn, hoang tưởng cấp: thường xảy ra trong khoảng 20 ngày đầu. Tiến triển nhanh từ ngày thứ 3, đột ngột xuất hiện tình trạng lú lẫn, hoang tưởng (có thể cả mê mộng) tăng về chiều tối. Hoang tưởng bị hại tập trung vào đứa con (cho là đứa con sinh ra không phải của mình) đôi khi kèm theo trầm cảm – lo âu.

– Trầm cảm sau sinh:

 + Trầm cảm nặng gặp ở 10% các bà mẹ sau sinh.

 + Tâm thần phân liệt có thể khởi phát sau sinh.

– Các biện pháp cần thiết:  Nhập viện, tách mẹ và con (để đảm bảo an toàn cho con). Loại trừ các nguyên nhân phụ khoa (sót rau, nhiễm trùng…). Khi trạng thái của mẹ đã thuyên giảm cần cho gặp con trước sự giám sát y tế để tái lập mối quan hệ mẹ – con. Nếu điều kiện cơ sở cho phép, nên cho cả mẹ lẫn con cùng nằm viện. 

– Vấn đề phòng ngừa: Trong thời kỳ thai nghén, nếu có rối loạn nhẹ, người mẹ cần được động viên, nâng đỡ của chồng và gia đình, cần được nghỉ ngơi, làm việc nhẹ nhàng; nếu có các rối loạn tâm thần nặng cần đưa đến khám tại cơ sở chuyên khoa tâm thần.

– Ở thời kỳ sau sinh, nếu bị trầm cảm nhẹ khi được động viên, nâng đỡ thì phần lớn sẽ trở lại bình thường, nếu bị trầm cảm nặng cần có chỉ định dùng thuốc chống trầm cảm. Khi có rối loạn hành vi kích động dữ dội hoặc trầm cảm nặng cần nhập viện để được điều trị, cách ly đảm bảo an toàn cho con.

2.2.  Ảnh hưởng tinh thần sau sảy thai

Sảy thai kéo theo một loạt các ảnh hưởng nặng nề về tinh thần. Cảm giác tội lỗi và tức giận, có thể đổ lỗi cho bản thân vì sự bất cẩn của mình. Có thể sẽ đổ lỗi cho người khác mặc dù điều đó có vẻ vô lý. Cảm thấy ghen tị và cáu kỉnh với những phụ nữ mang thai khác và có thể nuôi dưỡng lòng căm thù đối với họ.

Trầm cảm và đau khổ, khó chịu hoặc thất vọng, tuyệt vọng, trống rỗng, buồn bã. Lờ đờ, kiệt sức, buồn ngủ hoặc mất ngủ, rất đói hoặc không đói. Đau khổ, lo lắng, vô thức, thiếu tập trung vào việc đưa ra quyết định, ghi nhớ mọi thứ. Xu hướng tự sát và những cơn đau ngẫu nhiên xuất hiện. Sảy thai không chỉ tàn phá cơ thể bạn mà còn khiến bạn tổn thương về tinh thần.

Cách giải tỏa: Đừng tự trách mình, vì đó không phải lỗi của bạn. Bác sĩ sẽ giúp bạn hiểu được nguyên nhân của vấn đề. Tránh căng thẳng, nói chuyện với người khác, tập thể dục. Liệu pháp tâm lý giúp đối phó với đau buồn. Thuốc chống trầm cảm nếu bị trầm cảm.

2.3. Các rối loạn tâm thần ở phụ nữ phá thai

Có một mối liên hệ giữa phá thai và tỉ lệ trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ và các tình trạng sức khỏe tâm thần khác nặng nề hơn. Thêm vào đó, những trường hợp có tiền sử về tâm thần có thể có nguy cơ cao bị tái phát hoặc nặng lên.

Phá thai cũng là nguyên nhân khiến chứng trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ trở nên nặng nề hơn

Trầm cảm sau khi phá thai: có từ 5 đến 30% các trường hợp phụ nữ rơi vào tình trạng trầm cảm sau khi phá thai. Nếu các triệu chứng của bệnh không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời sẽ khiến cho người mẹ càng trở nên buồn chán, tuyệt vọng và làm gia tăng nguy cơ tự sát.

Nguyên nhân trầm cảm do phá thai được xem là không nhân đạo và gây ra rất nhiều nỗi ám ảnh đối với người mẹ, đặc biệt là những trường hợp phá thai ngoài mong muốn. Sau khi phá thai, phụ nữ gặp phải nhiều sự kỳ thị, chỉ trích, những người thân bên cạnh không quan tâm, chia sẻ khiến cho họ cảm thấy cô đơn và chán nản.

Cách phòng tránh trầm cảm sau khi phá thai: Dành thời gian nghỉ ngơi nhiều hơn. Chú ý nhiều hơn về chế độ dinh dưỡng. Đảm bảo chất lượng giấc ngủ. Cân bằng cảm xúc. Học cách suy nghĩ tích cực và lạc quan. Cần sự quan tâm từ người thân.

Điều trị bằng liệu tâm lý. Đi chùa, đi picnic, làm từ thiện. Thay đổi cuộc sống tích cực hơn. Làm bản thân trở nên bận rộn bằng việc học tập hay công việc. Duy trì thói quen luyện tập thể dục thể thao, ngủ 7- 8 tiếng hằng ngày. Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, tìm kiếm những lời khuyên hữu ích thay vì chỉ giữ trong lòng. Nhiều trường hợp cần dùng thuốc chống trầm cảm, giải lo âu.

 2.4. Sang chấn tâm lý sau ly hôn

Là tình trạng khó có thể tránh khỏi nhưng điều quan trọng nhất là cả hai phải học cách vượt qua và làm quen với cuộc sống mới. Trong đó, một số người không thể vượt qua nỗi đau hậu ly hôn và phải đối mặt với các vấn đề tâm lý, tâm thần. Không ít người cảm thấy được giải thoát khỏi cuộc sống bức bối và không hạnh phúc sau khi ly hôn. Có thể nói, ly hôn gây ra những thay đổi đáng kể trong cuộc sống và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý. Sau sự kiện này, cả hai người đều phải mất một thời gian dài để có thể ổn định lại cảm xúc, tinh thần và sức khỏe thể chất. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp sang chấn tâm lý sau ly hôn dẫn đến các rối loạn tâm thần. 

Nếu cả hai cùng đồng tình với quyết định ly hôn, mức độ sang chấn sẽ nhẹ hơn so với trường hợp chỉ có 1 trong 2 người đơn phương đệ đơn ly hôn lên tòa. Sang chấn tâm lý khởi phát khoảng 6 – 12 tháng sau ly hôn. Đó là do tổn thương ẩn sâu bên trong sẽ lớn dần và gây ra các triệu chứng bất thường sau một khoảng thời gian. Có những trường hợp kích động và bất ổn ngay sau khi ly hôn. Điều này xuất phát từ nguyên nhân cụ thể dẫn đến ly hôn và đặc điểm tính cách của từng người.

Sang chấn tâm lý sau ly hôn có thể dẫn đến trầm cảm, rối loạn lo âu và rối loạn stress.

Cảm xúc tê liệt và trống rỗng, một số người sẽ không tránh khỏi cảm giác đau khổ và tuyệt vọng. Có người phải đối mặt với sự đau khổ, buồn bã kéo dài và đôi khi phát triển thành các chứng rối loạn tâm thần.

Trí nhớ kém và khó tập trung, mệt mỏi, suy nhược, rối loạn giấc ngủ. Có cảm giác tội lỗi. Né tránh nhắc về sự kiện ly hôn, bi quan về mọi thứ. Sang chấn tâm lý sau ly hôn có thể dẫn đến trầm cảm, rối loạn lo âu và rối loạn stress.

Các biện pháp để vượt qua: Cần tin rằng mọi chuyện rồi sẽ qua, tập trung vào công việc và con cái. Gặp gỡ người thân và bạn bè, nâng cấp bản thân mỗi ngày, kết hợp với trị liệu tâm lý. Nếu nặng cần tư vấn tâm lý và thăm khám bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

2.5. Vấn đề bạo hành gia đình và hiếp dâm

    Đặc điểm chung

Bạo hành gia đình là một loại bạo lực về thể chất, tình cảm, tình dục diễn ra giữa những người có quan hệ (như các thành viên trong gia đình), những người liên quan tình cảm (sống cùng nhau), hoặc người có những mối quan hệ khác (như người chăm sóc của một người cao tuổi). Bạo hành gia đình không kể giới hạn về tuổi tác, chủng tộc, tầng lớp xã hội, trình độ học vấn, kinh tế là một khía cạnh quan trọng của sức khỏe và an toàn cộng đồng. Hàng năm Việt Nam có hơn 1.000 trẻ em bị xâm hại tình dục. Trung bình, 8 giờ có thêm một trẻ bị xâm hại khoảng 60% nạn nhân có độ tuổi từ 12 – 15. 29% nữ và 22% nam từng trải qua bạo hành về thể chất, tình dục, hoặc tâm thần. Có 3 loại bạo hành trẻ em: bỏ rơi, bạo hành thể chất và lạm dụng tình dục.

Bạo lực trẻ em là gì? Bạo lực trẻ em bị xử lý thế nào?

    Trẻ bị bạo hành có thể có chấn thương kín đáo ở đầu, ngực, bụng và các bộ phận khác. 

Sốc do mất máu kín đáo nhưng có thể do mất điện giải, nhiễm độc, rối loạn chức năng thần kinh trung ương, thêm nữa là do các vết rách hoặc bỏng, nhiễm trùng (như vỡ ruột non gây viêm phúc mạc…).

   Vấn đề tâm thần

Kém nhận thức bản thân, không tin hoặc không yêu người khác, hung hăng, gây rối, hành vi trái pháp luật; cơn thịnh nộ, hành vi tự hủy hoại hoặc tự bạo hành, ý tưởng tự sát; hành vi thụ động, thiếu tự tin, sợ hãi gia nhập một mối quan hệ mới, lo lắng, học tập sút kém; buồn rầu hoặc triệu chứng trầm cảm; lạm dụng thuốc ngủ và rượu; mất ngủ hoặc ác mộng, mảng hồi tưởng.

Việc điều trị trẻ bị bạo hành thể chất nên tương tự như điều trị trẻ bị chấn thương do tai nạn, chấn thương tâm lý. Cách ly nhanh chóng với người chăm sóc; việc phỏng vấn của cảnh sát, luật sư và dịch vụ bảo trợ xã hội, có thể là cần thiết.

  2.6.  Ấu dâm

Ấu dâm là một chứng rối loạn tình dục bao gồm những ham muốn tình dục đối với trẻ em dưới tuổi vị thành niên (khoảng dưới 14 tuổi). Người mắc bệnh (có người có hành vi ấu dâm nhưng không mắc bệnh) được xác định là người ít nhất 16 tuổi và lớn hơn trẻ bị hại ít nhất 5 tuổi.

Phương pháp điều trị ấu dâm: ấu dâm là một bệnh mãn tính, việc điều trị nên tập trung vào thay đổi hành vi trong thời gian dài. Liệu pháp điều trị là theo dõi và đoán trước các trường hợp có thể xảy ra hành động sai lầm để phòng tránh. Ngoài ra, các nhóm điều trị và bác sĩ tâm lý luôn được chỉ định để giúp người bệnh. Đôi khi bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc để làm giảm ham muốn tình dục. Các thuốc này bao gồm medroxyprogesterone acetate, thuốc làm giảm testosterone và các chất ức chế tái hấp thu serotonin cũng có thể được sử dụng; đồng thời bệnh nhân cần điều trị các bệnh như nghiện rượu hoặc nghiện chất kích thích nếu có.

Nhiều nước đã đưa ra những hình phạt rất nặng với hành vi “ấu dâm”: những kẻ ấu dâm sẽ bị “thiến” trước khi tống vào trại giam. Biện pháp trừng phạt này dành cho cả đàn ông và phụ nữ trên độ tuổi 21, áp dụng với các nạn nhân từ 12 tuổi trở xuống. “Thiến hóa học” là hình phạt buộc tội phạm lạm dụng tình dục phải dùng thuốc làm mất hết cảm giác ham muốn tình dục. Có ý kiến cho rằng, “thiến” chỉ có thể làm giảm ham muốn tình dục chứ không thể giúp ổn định tâm lý của những tên tội phạm.

Vì sao nên dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân càng sớm càng tốt?

Cha mẹ cần dạy trẻ cách tự bảo vệ bản thân từ sớm

Nạn nhân của ấu dâm sẽ bị tổn thương tâm lý và để lại hậu quả tinh thần rất nặng nề trong suốt cuộc đời bé gái. Tình trạng thường thấy của nạn nhân tội ấu dâm là hoảng loạn, hay gặp ác mộng, sợ người khác giới, luôn bị ám ảnh bị người đàn ông nào đó tấn công, luôn mặc cảm bản thân không còn trong sáng và hồn nhiên như các bạn cùng trang lứa. Khi đến tuổi trưởng thành, nếu không được cha mẹ, người thân và bạn bè cảm thông và chia sẻ, có 2 nguy cơ dễ xảy ra với bé: một là rối loạn chức năng tình dục, thích quan hệ với đàn ông đủ các lứa tuổi và trở thành một người buông thả; hai là không bao giờ giao cấu với người khác giới, sống mặc cảm và độc thân suốt đời.    

Cha mẹ, người thân và toàn xã hội nên nêu cao tinh thần bảo vệ trẻ em trước các đối tượng mắc bệnh lý (hoặc có hành vi) ấu dâm. Đối với trẻ em bị lạm dụng, mục đích quan trọng nhất là bảo vệ trẻ khỏi việc bị lạm dụng lần nữa; đôi khi nhiều trẻ bị lạm dụng cần phải nhập viện để điều trị tâm lý nếu trẻ bị hoảng loạn.

Những hành động cơ bạn giúp bé tự bảo vệ bản thân trước vấn nạn xâm hại tình dục

  1. Các triệu chứng và dấu hiệu về các rối loạn tâm thần ở vị thành niên và thanh niên

Người bệnh không đến với chúng ta để khám về sức khỏe tâm thần mà vì các triệu chứng cơ thể của bệnh lý tâm thần mà họ đến với chúng ta. Hoặc họ đi khám, điều trị các vấn đề của bà mẹ và trẻ em nhưng kèm theo đó họ có cả vấn đề sức khỏe tâm thần. Trước hết cần tìm hiểu thêm thông tin từ người nhà hoặc những người gần gũi với người bệnh để có thêm thông tin. Tìm hiểu những biểu hiện bất thường trong sinh hoạt hàng ngày, học tập, công việc, các mối quan hệ…

Các rối loạn tâm thần nội sinh do cơ thể tự sinh ra (có thể liên quan gen), có thể do bệnh cơ thể (rất nhiều bệnh cơ thể là nguyên nhân của một số rối loạn tâm thần, do chất tác động tâm thần hay do yếu tố môi trường (bị stress như thi trượt, bị phản bội, bị tra tấn, hiếp dâm, mất tiền, người thân chết đột ngột, chứng kiến tai nạn thảm khốc, động đất, núi lửa, chiến tranh, dịch bệnh…). Khi gặp một người nghi ngờ có vấn đề sức khỏe tâm thần chúng ta cần chú ý:

Những thay đổi bất thường về hành vi, lời nói, thói quen có thể là dấu hiệu giúp ba mẹ nhận ra chứng rối loạn tâm thần ở trẻ

– Quan sát bên ngoài: Vóc dáng, thể trạng, ăn mặc bình thường hay chải chuốt, vệ sinh sạch hay bẩn, tác phong nhanh nhẹn hay chậm chạp.

– Ý thức: Bệnh nhân có thể tỉnh hoặc rối loạn ý thức, rối loạn định hướng không gian, thời gian và bản thân.

– Lời nói và ngôn ngữ: Nhịp điệu nhanh hoặc chậm, lưu loát hay không, có diễn đạt được điều muốn nói, nhại lời, cú pháp bất thường.

– Khí sắc: Buồn, ít cười, rớm nước mắt, dễ khóc hoặc hay khóc lóc. Có thể lo âu, khoái cảm hay giận dữ. Có thể có biểu hiện vui vẻ quá mức, cười đùa, hát hò. Cảm xúc có thể phù hợp hay không với nội dung tư duy, có khi trái ngược với hoàn cảnh. Sợ chết hoặc muốn chết, có ý tưởng tự sát. Có khi mất phản ứng cảm xúc, vô cảm.

– Tri giác: có các ảo tưởng, ảo giác như nghe những âm thanh không có thực, có thể là tiếng nói khen chê, xúi dục người bệnh làm một việc gì đó, thường là gây hại. hoặc nhìn thấy, ngửi thấy những hình ảnh, mùi vị không có thực tại thời điểm đó.

– Tư duy: Có thể mở rộng sự liên tưởng, suy nghĩ huyền bí, quá mức, lai nhai, nhại lời, kết cấu và khả năng tư duy hợp lý, trẻ có thể có định kiến, ám ảnh với rất nhiều loại tư duy hay hành vi ám ảnh. Có thể có hoang tưởng với nhiều loại: bị truy hại, tự buộc tội, bị theo dõi, bị kiểm tra, bị chi phối…

– Hành vi: Sự phối hợp vận động, các hành vi bất thường như tăng hoặc giảm hoạt động, hành vi dị kỳ khó hiểu, căng trương lực, kích động, bất động, thích ở một mình, không tiếp xúc với xung quanh, đi lang thang, lạm dụng hoặc nghiện chất. nghiện game, cờ bạc, sex.…có hành vi tự hủy hoại thân thể hoặc tự sát.

– Trí nhớ: tăng hoặc giảm nhớ, hay quên, nhớ bịa…

– Chú ý: Tăng hoặc giảm, di chuyển chú ý nhanh hoặc chậm. Mất tập trung chú ý.

– Trí tuệ: chậm phát triển tâm thần hoặc sa sút trí tuệ.

– Rối loạn ăn uống: ăn ít, không ăn hoặc ăn nhiều, ăn vô độ, ăn bậy.

– Rối loạn giấc ngủ: khó vào giấc ngủ, ngủ ít, hay thức giấc, hay dậy sớm, mộng du, ác mộng, ngủ nhiều.

– Rối loạn bản năng tình dục với rất nhiều biểu hiện khác nhau.

– Tự hủy hoại bản thân ở thanh thiếu niên bao gồm cào xước mặt, cắt hoặc đốt da, cũng như đâm, đánh và lặp đi lặp lại chà xát da bằng thuốc tẩy hoặc muối trong trường hợp không có ý định chết.

– Khả năng học tập, lao động, chăm sóc bản thân, gia đình và con cái giảm. Có mối bất hòa trong gia đình và xã hội hay không.

– Có rất nhiều triệu chứng cơ thể của các rối loạn tâm thần có thể gặp như các triệu chứng đau: đau đầu, bụng, ngực, cơ, xương, khớp…Khó thở, chướng bụng đầy hơi, nôn, buồn nôn, nuốt nghẹn, nóng lạnh bất thường, vã mồ hôi, rối loạn nhịp tim và các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật khác. Có những ám ảnh nghi bệnh, các bệnh hiểm nghèo hay các bệnh thông thường. các triệu chứng này không phù hợp với tổn thương cơ thể.

– Ngược lại có rất nhiều các rối loạn tâm thần do bệnh cơ thể sinh ra, có rất nhiều bệnh cơ thể hoặc một số trạng thái sinh lý có thể có rối loạn tâm thần: các bệnh thần kinh, tim, phổi, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, da liễu, truyền nhiễm cơ xương khớp, các trạng thái mang thai, sinh đẻ, tiền kinh nguyệt…

– Ngoài ra những người có vấn đề về cơ thể, có thể có các rối loạn tâm thần kèm theo.

  1. Cách xử trí và dự phòng các rối loạn tâm thần

Đối với mỗi rối loạn tâm thần có cách xử trí khác nhau. Trước hết cần phối hợp với gia đình người bệnh quan tâm chăm sóc, nâng đỡ tinh thần và vật chất cho người bệnh. Cần chuyển người bệnh đi khám, tư vấn điều trị hoặc cấp cứu (tự sát, kích động, từ chối ăn) ở các cơ sở tâm thần. Các bệnh cơ thể cần điều trị chuyên khoa, nếu có rối loạn tâm thần cần mời các bác sĩ chuyên ngành tâm thần phối hợp điều trị. Tránh việc che dấu hoặc làm những việc không phù hợp như đi chùa chiền, đi cúng, dâng sao, giải hạn…

Để dự phòng các rối loạn tâm thần:

– Nuôi dưỡng, rèn luyện để trẻ có một thể chất khỏe mạnh.

– Giáo dục trẻ tự lập, trung thực, dám chịu trách nhiệm, biết nhận lỗi. Có ý chí, có nghị lực sẵn sàng vượt qua khó khăn, không ỷ lại, không lười biếng. Sống tử tế, bao dung, độ lượng, ứng xử văn minh. Có khả năng chống đỡ mọi sự cám dỗ, luôn cảnh giác và biết cách từ chối. Có chế độ sinh hoạt, ăn , ngủ, học tập và làm việc hợp lý.

Thấu Hiểu Con Cái: 10 Điều Cha Mẹ Nên Làm Để Lắng Nghe Con

 

Ba mẹ cần quan tâm đến cảm xúc và đồng hành cùng con trên chặng đường khôn lớn

– Gia đình luôn thể hiện sự quan tâm gần gũi con, luôn muốn lắng nghe cảm xúc và suy nghĩ của con. Một vài lời động viên đơn giản có thể giúp con cảm thấy thoải mái khi giãi bày cảm xúc với bố mẹ. Dành lời khen cho con về những việc mà con làm tốt cho dù là việc đơn giản. Khi con có vấn đề cần tìm giải pháp cho con. Lắng nghe ý kiến của con và cố gắng giải quyết vấn đề một cách bình tĩnh.

– Khi bản thân trẻ có vấn đề cần chia sẻ với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147