SỨC KHỎE TÂM THẦN: THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ NHỮNG TIẾN BỘ MỚI TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

           SỨC KHỎE TÂM THẦN: THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ NHỮNG TIẾN BỘ MỚI TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức
1.Khái niệm sức khỏe tâm thần

      Sức khỏe tâm thần bao gồm tình cảm, tâm lý và hạnh phúc xã hội của chúng ta. Nó ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ, cảm nhận và hành động. Nó cũng giúp xác định cách chúng ta ứng phó với căng thẳng, liên quan đến người khác và đưa ra lựa chọn. Sức khỏe tâm thần rất quan trọng ở mọi giai đoạn của cuộc sống, từ thời thơ ấu, thanh thiếu niên cho đến trưởng thành và tuổi già.

     Trong suốt cuộc đời, nếu gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, suy nghĩ, tâm trạng và hành vi của con người có thể bị ảnh hưởng. Nhiều yếu tố góp phần vào các vấn đề sức khỏe tâm thần, bao gồm:

    Các yếu tố sinh học, như gen hoặc các chất trung gian hóa học ở não. Các trải nghiệm sống như chấn thương hoặc lạm dụng. Tiền sử gia đình có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần luôn được quan tâm giúp đỡ và giải quyết và họ có thể trở nên tốt hơn, nhiều người hồi phục hoàn toàn.

       Gần đây định nghĩa về sức khỏe tâm thần đã thay đổi. Trước đây khỏe mạnh về tâm thần được hiểu là người không bị chẩn đoán với bất cứ một bệnh lý tâm thần nào. Ngày nay, sức khỏe tâm thần được nhìn nhận một cách tích cực hơn: sức khoẻ tâm thần tốt không chỉ là không có rối loạn về tâm thần mà đó còn là trạng thái khoẻ mạnh về mặt tâm trí, sức khỏe tâm thần là thành công của chức năng tâm thần, dẫn đến các hành vi có ích, các mối quan hệ thành công với người khác và cung cấp khả năng thích ứng với sự thay đổi và đối phó với mọi hoàn cảnh. Sức khỏe tâm thần là khả năng tận hưởng cuộc sống: là cách sống với hiện tại và những gì mình có; khả năng học được những bài học từ quá khứ và lập kế hoạch cho tương lai mà không trăn trở, sống mãi với những kỉ niệm đau buồn hoặc sự thất bại. Khả năng phục hồi và chống chọi với các sự kiện đó mà không mất đi sự lạc quan cũng như niềm tin của mình. Có khả năng thiết lập sự cân bằng trước rất nhiều phương diện của cuộc sống như thể chất, tâm lý, tinh thần, xã hội và kinh tế. Có thể tự nhận biết năng lực và sở thích của cá nhân, nuôi dưỡng những năng lực của mình để đạt được sự phát triển tối đa. Dễ dàng thích nghi trong những tình huống mới, tự điều chỉnh mong đợi của mình về cuộc sống, về chính bản thân mình và về người khác để giải quyết vấn đề gặp phải và để đạt được sự thoải mái hơn.

Những điều cần biết về liệu pháp sốc điện - Nhà thuốc FPT Long Châu

      Một số dấu hiệu cảnh báo sớm về vấn đề sức khỏe tâm thần là một hoặc nhiều cảm giác hoặc hành vi sau đây: ăn hoặc ngủ quá nhiều hoặc quá ít. Tách mình ra khỏi mọi người và các hoạt động thông thường. Có năng lượng thấp hoặc không có (mệt mỏi về tinh thần và thể chất). Cảm thấy tê liệt hoặc không có vấn đề gì quan trọng. Bị đau nhức không rõ nguyên nhân, cảm giác bất lực hoặc vô vọng. Hút thuốc, uống rượu nhiều hơn bình thường hoặc sử dụng ma túy. Cảm thấy bối rối khác thường, hay quên, khó chịu, tức giận, buồn bã, lo lắng hoặc sợ hãi. La hét hoặc tấn công người thân, gia đình và bạn bè. Trải qua sự thay đổi tâm trạng nghiêm trọng gây ra vấn đề trong các mối quan hệ. Có những suy nghĩ và ký ức dai dẳng mà không thể thoát ra khỏi đầu, nghe tiếng nói trong đầu hoặc có niềm tin những điều không đúng sự thật (hoang tưởng). Ý nghĩ làm hại bản thân hoặc người khác. Không có khả năng thực hiện các công việc hàng ngày như chăm sóc con cái, làm việc hoặc học hành.

    Bệnh lý tâm thần đề cập chung đến tất cả các rối loạn tâm thần có thể chẩn đoán, nó được đặc trưng bởi những thay đổi trong suy nghĩ, tâm trạng hoặc hành vi liên quan đến căng thẳng hoặc suy giảm chức năng. Một người phải chống chọi với vấn đề sức khỏe tâm thần của họ có thể trải qua căng thẳng, cô đơn, trầm cảm, lo lắng, các vấn đề về mối quan hệ, cái chết của người thân, suy nghĩ tự sát, đau buồn, nghiện ngập, tang động giảm chú ý, tự hủy hoại bản thân, tự gây chấn thương, tự đốt mình, rối loạn tâm trạng khác nhau hoặc các bệnh lý tâm thần khác có mức độ khác nhau, cũng như các khó khăn khi học tập, công việc hoặc cuộc sống. Bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học, nhân viên xã hội, điều dưỡng hoặc bác sĩ nói chung có thể giúp kiểm soát bệnh tâm thần bằng các phương pháp điều trị, tư vấn hoặc dùng thuốc.

Các nghiên cứu mới có thể giải thích tại sao liệu pháp sốc điện điều trị trầm cảm hiệu quả - Cổng thông tin Khoa học và Công nghệ

     Sức khỏe tâm thần tốt cho phép con người nhận ra tiềm năng đầy đủ của họ, đối phó với những căng thẳng của cuộc sống, làm việc năng suất, đóng góp ý nghĩa cho cộng đồng. Cuộc sống luôn chứa đựng những thử thách và khó khăn đòi hỏi chúng ta phải đối mặt. Chăm sóc sức khoẻ tâm thần nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân tận hưởng cuộc sống một cách tốt nhất trong hoàn cảnh của họ, ngay cả khi hoàn cảnh đó là rất khắc nghiệt khó khăn. 

2. Những tiến bộ mới về chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần

       Sự chuyển hướng khỏi phân tâm học vào cuối thế kỷ 20 đi kèm với những tiến bộ khoa học và lâm sàng quan trọng, từ phân tâm học sang tâm thần học sinh học. Sự phát hiện tình cờ về một loạt các loại thuốc tâm thần vào giữa thế kỷ 20 và những tiến bộ trong các phương pháp phân tử, di truyền và hình ảnh thần kinh đã thúc đẩy sự thay đổi này. Trên toàn cầu, tâm thần học nội trú tập trung chủ yếu vào các rối loạn tâm thần nghiêm trọng như tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực, trong khi tâm thần ngoại trú tập trung chủ yếu vào các rối loạn tâm thần phổ biến như trầm cảm, rối loạn lo âu và rối loạn sử dụng chất gây nghiện.

     Tâm thần học cá nhân hóa và chính xác là những khát vọng quan trọng của khoa học thần kinh lâm sàng. Quan điểm cho rằng các biện pháp can thiệp tâm thần cần phải được điều chỉnh một cách nghiêm ngặt cho từng bệnh nhân là có lý, do sự khác biệt đáng kể giữa các cá nhân trong bộ gen và biểu hiện của những người mắc chứng rối loạn tâm thần, cũng như sự khác biệt đáng kể trong phản ứng với các biện pháp can thiệp tâm thần hiện tại.

      70 năm qua đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về mô hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trên toàn thế giới. Nửa đầu thế kỷ 20 bị chi phối bởi sự phát triển của các bệnh viện tâm thần, đặc biệt là ở các nước phương Tây có thu nhập cao. Đến năm 1955, có 558.239 người mắc bệnh tâm thần nặng đang sống trong các bệnh viện tâm thần ở Mỹ, với tổng dân số lúc đó là 164 triệu người. Trong những năm sau đó, số giường bệnh ở bệnh viện tâm thần đã giảm đáng kể ở nhiều quốc gia có thu nhập cao, như một phần của xu hướng được gọi là phi thể chế hóa. Ở Anh, Mỹ, Úc, New Zealand và các nước Tây Âu, số giường bệnh ở bệnh viện tâm thần đã giảm 80-90% từ giữa những năm 1950 đến những năm 1996. Ở các nước thu nhập thấp, có 0,02 giường tâm thần trên 100.000 dân vào năm 2001 và con số này tăng lên 1,9 giường trên 100.000 dân vào năm 2020.

    Sự thành công của quá trình chuyển đổi sang chăm sóc dựa vào cộng đồng rất khác nhau trên khắp thế giới. Mặc dù các mô hình chăm sóc cộng đồng đã được phát triển, thử nghiệm và chứng minh là có hiệu quả trong các nghiên cứu mang tính bước ngoặt, nhưng có rất ít trường hợp quốc gia đầu tư một cách có hệ thống vào các mô hình này trên quy mô lớn, theo cách ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tâm thần của người dân.

       Năm 2020, 70% tổng chi tiêu của chính phủ cho sức khỏe tâm thần ở các nước thu nhập trung bình được phân bổ cho các bệnh viện tâm thần, so với 35% ở các nước thu nhập cao. Những khác biệt này cần được xem xét trong bối cảnh có sự bất bình đẳng toàn cầu lớn trong các cam kết của chính phủ đối với sức khỏe tâm thần nói chung. Trong khi các nước thu nhập cao chi 52,7 USD bình quân đầu người cho sức khỏe tâm thần thì các nước thu nhập thấp chi 0,08 USD bình quân đầu người.

       Tóm lại, mặc dù có sự phát triển của các dịch vụ dựa vào cộng đồng, chăm sóc hợp tác, các mô hình ra quyết định và phục hồi chung, nhưng sự thay đổi mô hình hướng tới việc thực hiện chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng hoạt động tốt và hiệu quả trên toàn cầu vẫn chưa có.

      Bên cạnh thuốc, liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) đã trở thành cốt lõi của một sự thay đổi quan trọng trong thực hành lâm sàng hướng tới việc sử dụng các liệu pháp tâm lý dựa trên bằng chứng. Một số loại trị liệu tâm lý khác cũng đã được nghiên cứu nghiêm ngặt, và thậm chí cả các liệu pháp tâm lý theo truyền thống chưa được khám phá bằng các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát, chẳng hạn như các liệu pháp định hướng phân tâm học và các liệu pháp trải nghiệm, giờ đây cũng đã được thử nghiệm bằng các phương pháp như vậy. Tuy nhiên, CBT cho đến nay là loại tâm lý trị liệu được nghiên cứu tốt nhất và do đó chiếm ưu thế trong quá trình chuyển đổi lĩnh vực này sang việc sử dụng các liệu pháp tâm lý dựa trên bằng chứng.

       Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cú hích hướng tới tâm thần học từ xa do đại dịch COVID-19 đã tiết lộ rằng công nghệ kỹ thuật số mang đến những cơ hội mới để cải thiện chẩn đoán tâm thần, mở rộng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần và thu thập lượng lớn dữ liệu cho nghiên cứu tâm thần.      

       Khái niệm về sức khỏe toàn cầu xuất hiện sau Thế chiến thứ hai, khi cần có các tổ chức xuyên quốc gia để phối hợp các nỗ lực y tế.  Xét về thực hành lâm sàng của tâm thần học, trong khi số lượng bác sĩ tâm thần và nhân viên chăm sóc sức khoẻ tâm thần khác đã tăng lên đáng kể trên toàn cầu, sự phân bổ không công bằng của họ vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Cứ bốn người dân thì có một người mắc rối loạn tâm thần vào một thời điểm nào đó trong đời, với tỷ lệ ở phụ nữ cao gấp đôi nam giới. Hai phần ba số người mắc bệnh tâm thần không nhận được sự chăm sóc mà họ cần. 70% người bệnh tâm thần không được điều trị.

       Sức khỏe tâm thần toàn cầu có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đưa ra một số mô hình và phương pháp tiếp cận đổi mới. Bao gồm: Chuyển đổi nhiệm vụ, liên quan đến việc sử dụng nhân viên chăm sóc sức khỏe không chuyên môn, được đào tạo và giám sát bởi các chuyên gia sức khỏe tâm thần.

      – Đầu tư cho sức khỏe tâm thần, chứng minh lợi tức đầu tư đối với các quốc gia mở rộng quy mô chăm sóc dựa vào cộng đồng.

      – Vận động chính sách mạnh mẽ hơn, phối hợp tốt hơn, với sự hợp tác giữa những người có kinh nghiệm sống và bác sĩ lâm sàng để vận động có được nhiều nguồn lực hơn cho việc chăm sóc sức khỏe tâm thần.

      – Giảm kỳ thị.

      – Giải quyết các yếu tố xã hội gây ra rối loạn tâm thần.

        Như vậy: Tâm thần học đã chứng kiến những chuyển biến từ cách tiếp cận tâm động học sang cách tiếp cận khoa học thần kinh, và từ chăm sóc tại cơ sở sang chăm sóc dựa vào cộng đồng.

        Kiến thức về rối loạn tâm thần đang dần được bồi đắp và hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân cũng như khả năng quản lý chúng đã tăng lên đáng kể theo thời gian. Sự tích hợp của khoa học thần kinh lâm sàng và sức khỏe tâm thần toàn cầu có thể tạo điều kiện thuận lợi cho những tiến bộ về sức khỏe tâm thần công cộng chính xác. Có khía cạnh chính trị xã hội của khoa học và y học. Quan điểm về tâm thần học là sự tích lũy kiến thức và cải thiện thực hành lâm sàng một cách đều đặn.      

       Ngày nay việc điều trị chủ yếu vẫn là sử dụng thuốc hướng thần (hóa trị liệu). Trong lĩnh vực hóa dược, thế giới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Các nhóm thuốc chống trầm cảm, an thần, bình thần, thuốc ngủ, thuốc chỉnh khí sắc… bên cạnh các thuốc truyền thống ngày nay có nhiều thuốc thuộc thế hệ mới, đặc biệt là các thuốc chống trầm cảm mới, an thần mới ra đời với nhiều ưu điểm hơn so với thuốc thế hệ cũ. 

    Một số liệu pháp không dùng thuốc vẫn tiếp tục đươc sử dụng và ngày càng phát triển như liệu pháp sốc điện, CBT, liệu pháp ánh sáng, liệu tháp thư giãn luyện tập, liệu pháp tâm lý, liệu pháp lao động, liệu pháp âm nhạc, phục hồi chức năng…  Các bệnh lý tâm thần vì vậy đã được điều trị có hiệu quả, nhiều bệnh nhân có thể trở lại cuộc sống bình thường.

3.Vấn đề sức khỏe tâm thần ở Việt Nam và thế giới, thực trạng và thách thức    

    Tại Việt Nam, theo điều tra của ngành Tâm thần học Việt Nam, tỷ lệ mắc 10 rối loạn tâm thần phổ biến trong năm 2002 là 14,8%, trong đó riêng rối loạn trầm cảm chiếm 2,85%. Tỷ lệ tự sát trong năm 2015 là 5,87 trên 100.000 dân. Hiện tại, Văn phòng WHO tại Việt Nam đang hỗ trợ Bộ Y tế phát triển mô hình lồng ghép sức khỏe tâm thần vào sức khỏe nói chung tập trung vào tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu. Số lượng bệnh nhân tâm thần phân liệt khoảng 450 000 người, trầm cảm nặng khoảng trên 2 triệu người. Cả nước có 2 bệnh viện tâm thần tuyến trung ương, 39 bệnh viện tâm thần tỉnh, thành, các tỉnh còn lại có khoa tâm thần trong bệnh viện đa khoa. Số lượng bác sỹ chuyên khoa tâm thần của Việt Nam theo TCYTTG là 0,32/100 000 dân, thực tế chúng ta có khoảng 0,7-0,8/100 000 dân.

        Các bệnh viện tâm thần chỉ tập trung điều trị các bệnh nhân loạn thần và chủ yếu là bằng thuốc, hóa trị liệu. Một số bệnh viện sử dụng sốc điện điều trị phối hợp. Các liệu pháp tâm lý chưa phát triển.  Dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần chủ yếu tập trung vào việc phát thuốc cho người bệnh đã từng điều trị ở các bệnh viện tâm thần, sau khi họ trở về nhà. Ngay cả hệ thống này, sau gần 20 năm triển khai, cũng mới chỉ bao phủ được 70% số xã và cũng mới chỉ tập trung vào tâm thần phân liệt, động kinh và đang bắt đầu thí điểm cho trầm cảm từ năm năm nay nhưng mới chỉ tại vài xã và hiện chưa có đánh giá để triển khai rộng.

            Có nhiều loại rối loạn tâm thần khác nhau, với các biểu hiện khác nhau. Chúng thường được đặc trưng bởi sự kết hợp của những suy nghĩ, nhận thức, cảm xúc, hành vi và mối quan hệ bất thường với người khác. Bao gồm: Trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, tâm thần phân liệt và các rối loạn tâm thần khác, mất trí nhớ, thiểu năng trí tuệ và rối loạn phát triển bao gồm tự kỷ. Tự sát là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở nhóm tuổi 15-29. 79% số vụ tự sát trên toàn cầu xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình, Tỷ lệ người bệnh trầm cảm ngày càng tang, nếu không được điều trị tốt mỗi năm có 800 000 người chết vì tự sát.

      Ghi nhận từ Hội nghị Tâm thần Quốc tế Châu Á tại Nhật Bản tập hợp bác sĩ chuyên khoa tâm thần (BSCKTT) của 21 quốc gia tài trợ, Liên hiệp các Hội Tâm thần Châu Á (Asian Federation of Psychiatric Association=AFPA), có sự đa dạng không thể tin được về các yếu tố ảnh hưởng số lượng và khả năng của các cơ sở chuyên ngành tâm thần ở Châu Á.

      Nhiều số liệu thống kê được đưa ra thể hiện qua khả năng chăm sóc sức khỏe tâm thần dân chúng là số lượng BSCKTT ở một số nước trong khu vực. Theo khảo sát định kỳ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về cơ sở chuyên khoa, sức khỏe, chỉ số bệnh và số BSCKTT/ 100,000 dân cho thấy Hoa Kỳ là nước có số BSCKTT đông nhất thế giới (16/100,000). So với các nước Đông Nam  Á 0,2/100, 000;  các nước Tây Thái bình dương 0,32/100,000. Số lượng này so với Châu Âu trong tương lai là 10/100,000. Mặt khác, có sự phân bổ không đồng đều giữa từng vùng góp phần vào khó khăn chung trong chăm sóc sức khỏe tâm thần. Ví dụ tại Trung Quốc, 80% BSCKTT sống làm việc ở vùng đô thị trong khi 80% dân số vẫn sống ở nông thôn. Campuchia chỉ có 50 BSCKTT cho dân số 10 triệu người, Banladesh 200/150 triệu dân, Ấn Độ 3500/1,4 tỷ dân, Trung Quốc 10000/1,4 tỷ dân. Nước Mỹ chỉ chiếm 5% dân số thế giới nhưng chiếm tới 30% BSCKTT toàn thế giới.

        GS Pichet Udomratn (Thái Lan), nhận định xu hướng địa lý, dân cư sẽ là yếu tố quan trọng tác động đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần trong các thập kỷ tới. Đó là lão hóa, đô thị hóa, sự gia tăng nạn nhân thảm họa và sự gia tăng kỹ thuật công nghệ số. tất cả những yếu tố trên đang hiện diện tại Hoa Kỳ cũng như VN chúng ta.

      Năm 1950 người cao tuổi Châu Á chiếm 44% dân số, nhưng đến năm 2050 sẽ là 62%. Ngày nay Châu Á chiếm khoảng 50% người sa sút trí tuệ trên toàn thế giới. Sự gia tăng này đòi hỏi không chỉ chăm sóc bệnh lý nội khoa và tâm thần mà còn là các dịch vụ xã hội cũng như các khó khăn khác nếu không có giải pháp phát triển. Hơn nữa, truyền thống tự chăm sóc người già trong tại nhà có thể ít được lựa chọn khi đô thị hóa phát triển, khi con cháu phân tán vì nghề nghiệp khác nhau. Và những vấn đề như trầm cảm, rối loạn tầm thần sau sang chấn, các rối loạn tự kỷ, sa sút trí tuệ, các bệnh liên quan sử dụng rượu và các loại ma túy. Dựa trên kết quả các nghiên cứu lớn cho thấy nghiện internet thật sự là một bệnh và hiện đã ảnh hưởng đến Châu Á và trong tương lai sẽ gia tăng nguyên nhân bệnh tâm thần.

      Các bệnh cơ thể đồng diễn với bệnh tâm thần cũng được đề cập. Tuổi thọ tăng sẽ xuất hiện nhiều bệnh cơ thể, trầm cảm và sa sút trí tuệ sẽ phổ biến hơn. Hơn nữa, với sự tiến bộ của y khoa, nhiều người bệnh trầm trọng sẽ sống lâu hơn. Cuối cùng sự xuống cấp, hủy hoại của môi trường sẽ gia tăng nhiều bệnh lý trầm trọng đường hô hấp và nhiễm trùng.

     Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 2020, trầm cảm là căn bệnh thứ hai tấn công sức khỏe con người (chỉ sau bệnh tim mạch). Mặc dù có mức độ ảnh hưởng lớn, nhưng trầm cảm chỉ là một phần của các chứng bệnh tâm thần ở người trẻ như lo âu, căng thẳng, bạo lực, tăng động, rối loạn giới tính đang diễn ra hằng ngày ở trường học và gia đình. Có 20% thanh thiếu niên có bệnh lý tâm thần.

       Người ta thấy, một nửa các bệnh lý về tâm thần khởi phát ở độ tuổi 14 nhưng phần lớn đều không được phát hiện hay điều trị. Trong đó, trầm cảm được xem là rối loạn tâm thần phổ biến thứ ba trong thanh, thiếu niên. Tự sát là nguyên nhân gây tử vong thứ hai trong nhóm độ tuổi từ 15 – 29. Việc sử dụng rượu và ma túy gây hại trong thanh, thiếu niên là vấn đề nổi cộm tại nhiều quốc gia, có thể dẫn đến các hành vi nguy cơ khác như có quan hệ tình dục hoặc điều khiển phương tiện giao thông không an toàn.

       Theo Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF), khoảng 8 – 29% trẻ em vị thành niên Việt Nam mắc các bệnh lý tâm thần. Rối loạn tâm thần được định nghĩa là sự kết hợp của những bất thường về suy nghĩ, quan niệm, cảm xúc, hành vi và mối quan hệ với người khác. Ngoài những rối loạn về mặt sinh học (trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt…), sức khỏe tâm thần, cũng có thể bị tác động bởi các yếu tố tâm lý xã hội gây căng thẳng.

      Theo báo cáo của nhiều nghiên cứu trong nước, 87% số trẻ em trong mẫu nghiên cứu có vấn đề về tâm lý. Ước tính tại Việt Nam có ít nhất ba triệu thanh, thiếu niên có các vấn đề về sức khỏe tâm thần nhưng chỉ có khoảng 20% trong số đó nhận được hỗ trợ y tế và điều trị cần thiết. Điều đó khiến một bộ phận còn lại tìm kiếm và sử dụng rượu, thuốc lá, game, cờ bạc và ma túy để “tự chữa”, xoa dịu các dấu hiệu của rối loạn tâm thần dẫn đến bệnh tình ngày càng nặng, thậm chí gây nguy hiểm với xã hội.

      Số liệu thống kê cho biết, khi mắc trầm cảm, nhiều người trẻ tự đối phó với bệnh tật, nhận thức phổ biến của người trầm cảm lại luôn nghĩ mình sẽ khỏi bệnh mà không cần ai giúp. Hiện chưa có một nghiên cứu riêng biệt về kỳ thị, phân biệt đối xử trên thanh, thiếu niên có vấn đề về rối loạn tâm thần, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy nhóm này sẽ phải chịu sức ép rất lớn khiến các em sẽ có cuộc sống ngày càng khép kín và bế tắc hơn.

      Một nghiên cứu của Tổng cục thống kê Việt Nam phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới mới đây cho thấy hơn một nửa phụ nữ Việt Nam từng bị bạo hành về thể xác, tình dục hay tinh thần trong đời. Theo một nghiên cứu khác, khoảng 75% số trẻ em từ 2- 14 tuổi ở Việt Nam từng bị cha mẹ, người chăm sóc và các thành viên khác trong gia đình bạo hành.

     Vì vậy, theo các chuyên gia, sự phối hợp, tham gia của các bên như xã hội, y tế và giáo dục trong các chương trình về sức khỏe tâm thần cho thanh, thiếu niên là vô cùng cần thiết. Đây là hành động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức cho thanh, thiếu niên cách chăm sóc sức khỏe bản thân, cũng như dạy các em cách hỗ trợ bạn bè cùng trang lứa và cho cả thầy cô, gia đình. 

4. Một số đề xuất

       Như phần trên đã trình bày, các vấn đề về sức khỏe tâm thần ngày càng tăng, nhu cầu chăm sóc điều trị vì vậy cũng ngày càng tăng nhưng chúng ta đang thiếu BSCKTT, thiếu bênh viện, thiếu phương tiên thuốc men…“Sức khỏe tâm thần”“sức khỏe tâm trí” là yếu tố rất quan trọng  cho một đời sống cá nhân hạnh phúc, một xã hội dân chủ, bền chặt và phát triển. Quan niệm về sức khỏe tâm thần còn chưa đúng, nhận thức chưa đầy đủ. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về quản lý và chăm sóc sức khỏe tâm thần, chúng tôi thấy cần có một giải pháp toàn diện, một chiến lược phát triển lâu dài cho ngành tâm thần học cả nước. Và nó đòi hỏi không chỉ ngành y tế mà cả xã hội phải vào cuộc. Trước hết cần đào tạo, xây dựng đội ngũ các BSCKTT đủ về số lượng và có chất lượng tốt, có chế độ, chính sách để thu hút các BS tốt nghiệp đại học loại giỏi, khá vào ngành tâm thần. Cần xây dựng đủ các bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh. Tăng cường kinh phí cho ngành tâm thần. Thường xuyên tuyên truyền sâu rộng vấn đề sức khỏe tâm thần cho toàn dân. Phòng ngừa cho tất cả mọi người; Xác định và can thiệp sớm cho những người có nguy cơ; chăm sóc và điều trị tích cực cho người bệnh, phục hồi chức năng. Giảm thiểu các nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần.

     Tài liệu tham khảo

  1. Cao Tiến Đức (2022), Các rối loạn tâm thần cấp cứu và điều trị. NXB

Y học, Hà Nội.

  1. Cao Tiến Đức, Bùi Quang Huy (2022), Giáo trình tâm thần học,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

  1. Tổ chức y tế thế giới (1992), Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD

– 10), các rối loạn tâm thần và hành vi, Geneve.

  1. American Psychiatric Association (1994), Diagnostic and statistical

manual of mental disorders, Fourth Edition (DSM -IV), Washington DC.

  1. American Psychiatric Association (2013), Diagnostic and statistical

manual of mental disorders, Fith Edition (DSM – 5), Washington DC.

  1. Dan J. Stein, 1 Steven J. Shoptaw, 2 Daniel V. Vigo (2022), Psychiatric diagnosis and treatment in the 21st century: paradigm shifts versus incremental integration. Official Journal of the World Psychiatric Asociation.
  2. Project Hope (2023), https://www.projecthope.org/the-global-mental-health-crisis-10-numbers-to-note.
  3. Queesland Brain Institute (2023), Half of World’s Population Will Experience a Mental Health Disorder. Harvard medical school, Boston.
  4. WHO (2022), International classification of diseases 11th edition (ICD-11).
  1. WHO (2019), https://www.who.int/health-topics/mental-health.

 

BỆNH NHÂN LẠM DỤNG MA TÚY VÀ CÁC CẤP CỨU LIÊN QUAN

       BỆNH NHÂN LẠM DỤNG MA TÚY VÀ CÁC CẤP CỨU LIÊN QUAN

Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy những người bị bệnh tâm thần do lạm dụng ma túy phổ biến hơn 2 – 3 lần trong dân số chung. Thầy thuốc chuyên khoa tâm thần có thể tư vấn cho bệnh nhân để giúp họ đối phó với các vấn đề về trạng thái say ma túy, cai ma túy và phục hồi chức năng sau cai ma túy. Các chất ma túy khác nhau có mức độ nhiễm độc của cơ thể trong trạng thái say ma túy, cai ma túy cũng khác nhau. Điều trị lạm dụng ma túy bằng thuốc cho một số lớn người có hiệu quả cao. Các phòng cấp cứu có thể tiếp nhận bệnh nhân khi họ cần giúp đỡ, can thiệp vào thời điểm khủng hoảng. Người bệnh thường có xu hướng phủ nhận bệnh tình, gây cản trở cho các bác sĩ khi cấp cứu, chẩn đoán và điều trị. Trong đó, thủ tục xét nghiệm nước tiểu đối với người bệnh thường xuyên có hành vi bất thường giúp tăng gấp đôi tỷ lệ phát hiện lạm dụng chất so với việc chỉ hỏi bệnh sử.

Các triệu chứng của hội chúng cai thường trái ngược với những tác động tạo ra khi một chất được đưa vào cơ thể. Thời gian bán hủy của thuốc hoặc chất gây nghiện dài ngắn khác nhau thì cường độ và thời hạn của hội chứng cai cũng dài ngắn khác nhau. Với hầu hết các chất, khởi phát triệu chứng của hội chứng cai là trong vòng vài giờ; triệu chứng nhiều hơn đáng kể vào ngày thứ hai, đến ngày thứ 5, bệnh nhân thường đã hồi phục.

Tỷ lệ đồng mắc rối loạn tâm thần với lạm dụng chất: dân số chung 17%, rối loạn trầm cảm 32%, tâm thần phân liệt 47%.

1. Một số chất lạm dụng phổ biến và các bất thường về thể chất.

– Cocain, metamphetamin, cannabis: Xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy, sút cân, có nguy cơ cao đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục; nhiễm độc liên quan đến co giật, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ      

– Phencyclidin hydrochlorid: Xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy. Có thể có rung giật nhãn cầu thẳng đứng, xuất hiện các hành vi kích động, giống với rối loạn tâm thần và các hội chứng hưng cảm.        

Xét nghiệm máu, nước tiểu, tóc, nước bọt có thể phát hiện các chất gây  nghiện nào? | Vinmec

Thời gian xét nghiệm có thể dương tính với các chất: Cocain, các chất chuyển hóa có thể được phát hiện cho đến 3 ngày.

– Cannabis, có thể xét nghiệm dương tính cho đến 4 tuần. Phencyclidin  hydrochlorid, 9 ngày. Methadon, 14 ngày. Morphin, 4 ngày. Barbiturat, 3 ngày đến 3 tuần.

 2. Lạm dụng ma túy liên quan đến các trường hợp khẩn cấp

– Nhiễm độc cocain: Cocain có dạng bột và dạng tinh thể. Nó được làm từ cây coca và gây ra một cái chết ngay lập tức, cảm xúc mãnh liệt và ham muốn nhiều hơn. Cocain có thể được hít bằng mũi dưới dạng bột, dùng đường tiêm dưới dạng lỏng, dạng tinh thể được đốt để hít. Bệnh nhân có thể được chuyển đến phòng cấp cứu vì kích động cấp tính, hoang tưởng hoặc trầm cảm nặng trong nhiễm độc hoặc hội chứng cai. Trạng thái say sau khi hút cocain đạt đến mức cao nhất trong vòng vài giây và có thời gian tác động kéo dài 15 phút đến một giờ. Ngộ độc cũng nhanh chóng khởi phát và có thể có ý tưởng tự sát. Các dấu hiệu của nhiễm độc cấp tính bao gồm: tăng huyết áp và co thắt mạch, có thể gây ra thiếu máu cục bộ ở các cơ quan quan trọng dẫn đến đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim, đột quỵ thoáng qua và vĩnh viễn, xuất huyết dưới nhện, tăng thân nhiệt, co giật. Bởi vì các đồng vận dopamin tăng quá mức trong ngộ độc làm xuất hiện các triệu chứng tâm thần có thể bao gồm ảo giác, cảm giác như kiến bò trên da, co giật và nghi thức ám ảnh. Một số trường hợp tăng đường huyết được đánh giá là không có tiền sử mắc bệnh tiểu đường cũng đã được báo cáo với việc sử dụng các chất kích thích như cocain.

Vấn đề lạm dụng thuốc cocain | Vinmec

Người sử dụng cocain lông mũi thường mất, vách ngăn mũi có thể bị mòn. 

– Bệnh nhân lạm dụng ma túy: Đồng tử co nhỏ trong ngộ độc thuốc phiện; có vết tích ở môi như vết bỏng, sẹo sau khi dùng miệng để hút chất kích thích; mất răng phía trước, có thể nhìn thấy được vết tích tiêm chích cũ và mới, có thể có các vùng viêm, mảng viêm, suy dinh dưỡng. Bệnh nhân thường có biểu hiện nhiễm độc hoặc hội chứng cai, trạng thái nhiễm độc có thể gây hoang tưởng, mê sảng.

Những biểu hiện sớm nhận biết người nghiện ma túy | VIAM

Hội chứng cai thuốc phiện được đánh dấu bởi sự giãn đồng tử, chảy nước mắt, tiêu chảy, chuột rút; bệnh nhân có thể có biểu hiện triệu chứng đau cơ thể.

– Quản lý: Trong trạng thái nhiễm độc, các triệu chứng kích thích và trầm cảm có xu hướng hết trong vòng 24 đến 48 giờ nhưng có thể kéo dài trong một số trường hợp. Nghỉ ngơi và chăm sóc hỗ trợ được chỉ định nếu bệnh nhân có ý tưởng tự sát hoặc giết người; cần phải nhập viện để được theo dõi chặt chẽ hơn.  

– Trong nhiễm độc, thuốc chẹn beta làm giảm sự kích thích và hạn chế nguy cơ biến chứng tim mạch. Các triệu chứng loạn thần có thể được kiểm soát với liều thấp của một thuốc chống loạn thần. Việc sử dụng quetiapine 50 – 100mg hoặc chlorpromazin với liều tương tự cũng có hiệu quả tốt. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân hoang tưởng nặng thì bất kỳ thuốc chống loạn thần nào cũng có thể đạt được sự thuyên giảm các cảm giác lo âu và ảo giác. Việc sử dụng củng cố thuốc như tiêm bắp benzodiazepin nên tránh vì thời gian để đạt đỉnh tác dụng ngắn làm tăng nguy cơ gây nghiện. Sự phục hồi: Cần tạo ra môi trường trong sạch, không có ma túy, loại bỏ các môi trường gây nên sự thèm muốn. Thành công của sự can thiệp dược chất liên quan chặt chẽ với một phương pháp tiếp cận tâm lý, tinh thần bao gồm trị liệu cá nhân và nhóm, các nhóm hỗ trợ và một môi trường cách ly hoàn toàn với chất gây nghiện.

– Lạm dụng methamphetamin và các chất kích thần khác, được ghi nhận là phổ biến hơn ở các vùng địa lý nhất định và trong cộng đồng nhỏ của xã hội, lạm dụng này có hậu quả tai hại với cá nhân và cộng đồng nơi người đó cư trú. Với cá nhân người sử dụng, chất này có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ quan khác nhau như cao huyết áp, loạn nhịp tim, mất ngủ, tăng tỷ lệ nhồi máu cơ tim và đột quỵ; ít thường xuyên nhưng rất nguy hiểm khác bao gồm co giật, suy nhược cơ bắp và hoại tử gan mang đặc điểm riêng; rối loạn tâm thần là thường xuyên, bao gồm: tăng lo âu, hưng cảm hoặc trầm trọng hơn là hoang tưởng, ảo giác bền vững trong một số bệnh nhân. Các chi phí cho việc sử dụng ma túy quá nhiều khiến người nghiện phải ăn trộm, ăn cắp và tội phạm bạo lực liên quan. Một người nghiện methamphetamin hiếm có khả năng duy trì cuộc sống gia đình bình thường. Đây có thể là nguyên nhân để bệnh nhân đến với bác sĩ.

3 kiểu ngứa da không bao giờ được gãi

– Lâm sàng: Bệnh nhân có thể cho thấy sự lo lắng cấp tính và hoang tưởng hoặc la hét và hành vi đòi hỏi thể hiện bằng kích động vận động. Hành vi rập khuôn được đánh dấu bằng cách khụt khịt mũi, răng cắn chặt răng, tìm kiếm vô mục đích và gãi, cào, cấu ở da cũng có thể là bằng chứng. Có thể là bằng chứng của vết kim tiêm, viêm mô tế bào và trầy da do gãi, cào, cấu. Thông thường mạch, huyết áp, và tần số hô hấp tăng cao và đồng tử giãn.

3. Dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng cai

Hội chứng cai sớm được đánh dấu bởi trầm cảm cấp tính và thèm thuốc mãnh liệt. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ, sau đó có thể ngủ quá mức và trở lại thèm ăn. Thèm thuốc có xu hướng xuất hiện trở lại trong thời gian theo chu kỳ, thường được kích hoạt bởi các tín hiệu khác nhau trong giai đoạn đầu và cuối của hội chứng cai. Hội chứng cai cấp tính có xu hướng kéo dài 2 – 3 ngày, nhưng mất khoái cảm và buồn rầu có thể kéo dài trong vài tuần, tâm trạng chán nản kéo dài hơn 4 – 6 tuần.

– Điều trị: Bệnh nhân say, lo lắng có thể được giảm nhẹ từ việc sử dụng các loại thuốc như lorazepam (ativan), 1 hoặc 2 mg, temazepam 15 – 30mg, làm giảm sự lo lắng cấp tính. Nếu hoang tưởng rầm rộ thì haloperidol hoặc fluphenazin 5mg cùng với lorazepam 2mg có thể là một lựa chọn phù hợp. Nếu có bằng chứng tăng trương lực cơ hoặc cứng cơ thì việc sử dụng các thuốc chống loạn thần như haloperidol hoặc fluphenazin nên tránh vì hiệu quả thấp, nhiều thuốc chống loạn thần như quetiapin (seroquel) hoặc chlorpromazin 50 – 100mg hay được dùng hơn. Hạ huyết áp tư thế đánh dấu bằng chóng mặt, khi phát sinh cần được theo dõi, nếu sau này được sử dụng để kiểm soát các triệu chứng tâm thần nhiễm độc. Có một số bằng chứng rằng các chất đồng vận dopamin như amantadin, bromocriptin và thuốc chống trầm cảm như bupropion và desipramin hữu ích cho một số bệnh nhân thèm muốn chất kích thích.

SUY DINH DƯỠNG - PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ EXSON

Bệnh nhân nghiện methamphetamin có thể bị đói và bị suy dinh dưỡng.

Điều trị dài hạn là cung cấp một chương trình phục hồi chức năng làm cho các cá nhân tham gia gắn kết với nhau hơn để làm tăng động lực cho họ. Hành vi trị liệu có thể giúp tăng các kỹ năng đối phó và làm mất dần dần các triệu chứng của sự thèm muốn. Sự tham gia của gia đình rất hữu ích cho các thành viên gia đình và bệnh nhân. Can thiệp nhiều cách để tăng tỷ lệ thành công trong việc thoát khỏi sự lệ thuộc mạnh mẽ của chất nghiện gây ra.

3.1 Thuốc phiện và ngộ độc thuốc phiện:

– Các opioid là các chất được tổng hợp theo cách tương tự nhau, opiat là những chất có nguồn gốc tự nhiên, tác dụng lên thụ thể opiat. Opioid bao gồm heroin, hydromorphon, oxycodon, fentanyl, buprenorphin và methadon; thuốc phiện bao gồm codein, morphin và thebain. Các thuật ngữ thường được sử dụng đồng nghĩa. Những chất kích thích, giảm đau và có tác dụng hưng phấn kết hợp với giảm lo âu và một trạng thái thư giãn. Thời gian có tác dụng tương đối ngắn: dilaudid có thời gian bán hủy ngắn đến methadon có thời gian tương đối dài. Tỷ lệ lạm dụng và phụ thuộc opiat có xu hướng dao động và được nhận thấy có mức cao tại các khu vực thành phố lớn. Ở những nơi đó opiat bị nghiền thành bột và được tiêm tĩnh mạch.

– Lâm sàng: Bệnh nhân có thể gặp ở khoa cấp cứu trong tình trạng nhiễm độc hoặc hội chứng cai. Các nhiễm độc có thể vô ý do việc sử dụng một liều cao bất thường, hoặc có thể cố ý (ví dụ như kết quả của một cố gắng tự sát bởi dùng quá liều thuốc). Ngộ độc cấp tính được chỉ điểm bởi triệu chứng buồn ngủ hoặc hưng phấn tiến triển dần thành mất ý thức; các triệu chứng cơ thể là: co đồng tử, suy hô hấp và các dấu hiệu sinh tồn.

9 biện pháp ngăn sổ mũi do cảm lạnh, cúm hoặc dị ứng tại nhà

Các triệu chứng cai nghiện gồm buồn nôn, nôn, ớn lạnh, giãn đồng tử, các chỉ số sinh tồn tăng, co thắt bụng và cơ bắp, mất ngủ. Các triệu chứng khác có thể bao gồm sổ mũi, chảy nước mắt và mệt mỏi. Các triệu chứng bồn chồn và khó chịu của cơ thể có thể tăng lên cao nhưng không đe dọa tính mạng ở người lớn bình thường, không có bệnh lý nặng về đường hô hấp hoặc tim mạch.

 – Quản lý: Nếu bệnh nhân tỉnh táo, nắm được thông tin về liều lượng và thời điểm dùng lần cuối cùng các opioid thì hỏi về việc dùng đồ uống có cồn, việc lạm dụng các chất khác và các thông tin khác nữa nếu thấy có giá trị, hữu ích.

– Để cứu người bị say ma túy (nhiễm độc) cấp tính: Chỉ định tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp naloxon 2mg, có thể giúp cho bệnh nhân nhanh chóng thoát khỏi hôn mê; sau đó cần chuẩn bị để điều trị những triệu chứng khởi đầu của hội chứng cai opioid nếu bệnh nhân là người sử dụng hay phụ thuộc opioid mạn tính. Tác dụng của naloxon tồn tại chỉ khoảng 1 giờ và lặp lại liều nếu thấy cần thiết cho tới khi tác nhân opioid bị loại bỏ ra khỏi hệ tuần hoàn.

– Điều trị hội chứng cai opioid đã trải qua những thay đổi lớn lao suốt 10 năm qua. Về lý thuyết thì một người có thể sử dụng nhiều loại thuốc opiat thay thế nhau để chống lại sự phụ thuộc opioid, rồi giảm dần liều. Tuy nhiên, giải độc bằng methadon chỉ được cho phép trong chương trình methadon quốc gia hay các cơ sở hữu trách việc sử dụng methadon. Việc điều trị tại các cơ sở điều trị say opioid đã giúp bệnh nhân tới điều trị nhiều hơn vì tránh được sự xấu hổ hay kỳ thị. 

3.2 Nhiễm độc thuốc an thần, gây ngủ

– Dù benzodiazepin là một thuốc được kê đơn phổ biến nhất, vấn đề liên quan đến phụ thuộc và lạm dụng ít khi xảy ra. Một số người cố tình lạm dụng chúng bằng cách kết hợp với một thuốc an thần hay đồ uống có cồn. Biểu hiện lâm sàng: Bệnh nhân dùng benzodiazepin (alprazolam và diazepam xuất hiện nguy cơ lạm dụng đặc biệt cao), barbiturat, an thần gây ngủ có thể gặp tại các khoa cấp cứu do nhiễm độc cấp tính vì quá liều hoặc triệu chứng liên quan hội chứng cai.

Các dấu hiệu suy hô hấp bất cứ ai cũng không nên bỏ qua

Dấu hiệu nhiễm độc bao gồm cơ thể mất điều hòa, nói lắp, mất định hướng, tăng buồn ngủ và hôn mê. Khi sử dụng với thuốc an thần khác, chúng có thể gây ra ức chế hô hấp.

– Quản lý: Flumazenil có thể trung hòa độc tính gây bởi benzodiazepin và có thể được dùng với liều 0,2mg tiêm tĩnh mạch mỗi 15 giây lên tới liều 1 – 2mg. Vì thời gian bán hủy của thuốc ngắn nên có thể lặp lại liều mỗi nửa giờ.

– Vì nguy cơ gây các triệu chứng cai cấp tính, bao gồm các cơn co giật, tiêm tĩnh mạch lorazepam hay diazepam sẽ hợp lý nếu flumazenil đã được dùng rồi. Hội chứng cai có thể được điều trị bằng benzodiazepin với thời gian bán hủy ngắn, giảm liều mỗi 20% – 25% hàng ngày. Dấu hiệu sinh tồn được đánh giá trong suốt thời gian có hội chứng cai, đây cũng là căn cứ đánh giá mức độ nghiêm trong hội chứng cai và đánh giá liều giảm đi là phù hợp. Barbiturat nếu quá liều gây đe dọa sinh mạng và không thể đáp ứng với liệu pháp flumazenil. Hỗ trợ hô hấp và tim mạch có thể cần thiết trong suốt giai đoạn nhiễm độc cấp. Hội chứng cai này có thể được điều trị bằng cách thức tương tự điều trị cai rượu hay cai benzodiazepin.

 Phencyclidin hydroclorid: Phencyclidin hydroclorid (PCP) đôi khi được dùng có chủ đích để tăng sức mạnh, bạo lực; nó cũng được dùng như một chất phụ gia trộn vào các chất khác, loại gây ra lạm dụng như là cannabis, cocain và amphetamin. Tỷ lệ sử dụng PCP không được thống kê chính xác, tỷ lệ này thay đổi theo các vùng khác nhau trên thế giới.

– Biểu hiện lâm sàng: bệnh nhân bị ngộ độc PCP có thể gặp tại khoa cấp cứu với các triệu chứng tương tự như của hưng cảm và kích động tâm thần. Những bệnh nhân này có khuynh hướng bạo lực, có thể mất cảm giác đau và có sức mạnh khác thường, đôi khi họ tự làm bị thương chính bản thân mình.

– Quản lý: trấn an bệnh nhân bằng lời nói và cho uống benzodiazepin là cách hiệu quả. Chất ức chế dopamin như chống loạn thần cổ điển bị chống chỉ định vì có thể làm tăng trương lực cơ, hệ quả làm phá hủy cơ bắp.

– Nếu triệu chứng loạn thần đặc biệt nghiêm trọng thì cần cân nhắc sử dụng quetiapin 50 – 100mg, vì khả năng thấp gây ra biểu hiện co cứng nặng nề. Cưỡng chế và cách ly là biện pháp có thể được dùng đúng luật nếu bệnh nhân kích động dữ dội và đe dọa tới người khác. Bất kỳ phương pháp cưỡng chế nào cũng mang đến nguy cơ cao về nguy hiểm cho bệnh nhân và nhân viên thực hiện, nên được dùng một cách cẩn trọng cao độ.

Ngộ độc cannabis (cần sa): Sử dụng cannabis hiện nay phổ biến nhưng không thường xuyên. Nghiên cứu về ảnh hưởng và tỷ lệ sử dụng chất này cho thấy sự sử dụng có tăng giảm qua nhiều thập kỷ. Nó không phải một loại ma túy lành tính như được mô tả, đã có nhiều tai nạn xe máy và tàu hỏa liên quan tới nó.

– Biểu hiện lâm sàng: Cannabis làm biến đổi nhận thức về thời gian và có thể góp phần làm đánh giá sai lệch khi điều khiển máy móc hay xe cộ. Hiệu quả tâm lý của nó không thể dự đoán được. Mặc dù nó có thể có tác dụng êm dịu ở một số người, có thể làm xuất hiện loạn thần và rối loạn hoảng sợ và triệu chứng khí sắc vốn tiềm ẩn ở một số người khác, những người bẩm sinh đã có khuynh hướng mắc rối loạn này. Dùng lâu dài có thể liên quan tới thiếu sáng kiến, thiếu vận động hay nó làm cho người sử dụng bị dán nhãn “Hội chứng giảm cảm hứng do cannabis”.

Trầm cảm: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách điều trị bệnh

Minh họa: Hội chứng giảm cảm hứng do cannabis (cần sa)

– Quản lý: bệnh nhân ngộ độc cấp biểu hiện lo âu và kích động có thể được trấn an và sử dụng benzodiazepin như lorazepam 1 – 2mg. hội chứng mất cảm hứng mạn tính có thể được giải quyết bằng việc kiêng liên tục. Điều trị trầm cảm cơ bản bằng chất thuộc hệ seretonergic cũng có thể giúp làm giảm phụ thuộc và tính thụ động ở những bệnh nhân này.

Hiện nay nhiều loại ma túy được sử dụng bất hợp pháp và một số thuốc chữa bệnh sử dụng không đúng quy định, có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe tâm thần và thể chất. Trong nhiều trường hợp cần cấp cứu khẩn cấp, nếu không có thể gây tổn thương cho người dùng, thậm chí tử vong hoặc gây nguy hiểm cho cộng đồng. Vì vậy chúng ta cần phát hiện sớm và xử trí kịp thời các trường hợp đó.

Để đăng ký khám các vấn đề sức khỏe tâm thần với GS.TS.BS Cao Tiến Đức, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

TRẦM CẢM DO BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

TRẦM CẢM DO BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

 Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

Theo nhiều nghiên cứu, có khoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên mắc một hoặc nhiều chứng rối loạn tâm thần. Các nghiên cứu gần đây theo dõi trẻ em từ sơ sinh đến trưởng thành cũng chỉ ra rằng: Hầu hết các rối loạn sức khỏe tâm thần ở người trưởng thành bắt đầu từ thời thơ ấu và thanh thiếu niên.

Một nghiên cứu khác ở trẻ 8-14 tuổi ở Mỹ cho thấy: 3,7% có rối loạn trầm cảm; 2,1% có rối loạn hành vi; 0,7% mắc rối loạn lo âu lan tỏa hoặc rối loạn hoảng sợ; 0,1% có rối loạn ăn uống, chán ăn hoặc chứng ăn vô độ. Theo UNICEF: Cứ 7 trẻ vị thành niên, có 1 em rối loạn tâm thần

Với giới trẻ, bệnh lý tâm thần có thể dễ dàng mắc phải do sử dụng các loại ma túy tổng hợp. Đáng lưu ý hơn, sự cô lập với trẻ nhỏ, thói quen sử dụng internet quá nhiều của các gia đình cũng là yếu tố gây nên một số chứng bệnh về tâm thần như: rối loạn chú ý, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn sự thích ứng, trầm cảm ở trẻ.

Kết quả nghiên cứu “Sức khỏe tâm thần vị thành niên Việt Nam” do Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện gần đây cũng chỉ ra: Trong 12 tháng, 21,7% số trẻ vị thành niên Việt Nam có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Phổ biến nhất là lo âu (18,6%); tiếp theo là trầm cảm (4,3%), 1,4% trẻ vị thành niên cho biết có ý định tự sát.

Ảnh 2.

Mức độ bị bắt nạt trực tuyến của học sinh THPT

Năm 2016, một khảo sát học sinh từ 16 -18 tuổi ở Hà Nội cho biết: có 21,4% trẻ em gái và 7,9% trẻ nam báo cáo có ý nghĩ tự sát trong 12 tháng trước đó. Các yếu tố dẫn đến ý định tự sát ở tuổi vị thành niên bao gồm: bị lạm dụng và bỏ mặc từ khi còn bé, chứng kiến bạo lực gia đình hoặc bạo lực hàng xóm, xâm hại tài sản, bắt nạt trên mạng và tình trạng dân tộc thiểu số. Tự sát là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong ở trẻ từ 10 đến 24 tuổi.

1. Nguyên nhân gây trầm cảm do bạo lực học đường

Trầm cảm do nhiều nguyên nhân gây ra: yếu tố nội sinh, liên quan gen di truyền, do bệnh cơ thể, do sử dụng chất và do yếu tố môi trường. Yếu tố môi trường là những chấn thương tâm lý, như: thi trượt, mất tiền, người than chết đột ngột, chứng kiến tai nạn thảm khốc, động đất, núi lửa, song thần, dịch bệnh…Học sinh bị trầm cảm do bạo lực học đường cũng là vấn đề cần qua tâm. Theo WHO hơn 1 tỷ trẻ em bị bạo hành cả về thể chất và tinh thần.

Bạo lực học đường là những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất chấp công lý, đạo lý, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương về tinh thần và thể xác diễn ra trong phạm vi trường học. Bạo lực học đường bao gồm các hành vi bạo lực về thể chất, như đánh nhau giữa các học sinh, bứt tóc, xô đẩy, xé quần áo, đổ đồ ăn lên người, trấn lột, cướp đồ giữa học sinh với nhau, hoặc các hình phạt thể chất của nhà trường; bạo lực tinh thần, bao gồm cả việc tấn công bằng lời nói là sử dụng những lời nói gây xúc phạm, gán ghép hoặc bôi nhọ, sỉ nhục, chế nhạo hoặc bắt người khác làm theo ý mình, Đôi khi những việc làm thông thường trở thành bạo lực như liên tục kiểm tra bài cũ một học sinh; bạo lực tình dục, bao gồm hiếp dâm và quấy rối tình dục; các dạng bắt nạt bạn học và mang vũ khí đến trường. Ngoài ra, còn có bạo lực xã hội, bạo lực điện tử.

Phòng, chống bạo lực mạng ở Việt Nam - Vietnam.vn
Bạo lực học đường gây ra những hậu quả nghiêm trọng về thể chất và tinh thần của học sinh và cả bản thân các học sinh thực hiện hành vi bạo lực. Đối với sức khỏe thể chất sẽ gây ra những thương tích trên cơ thể, trường hợp nghiêm trọng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng thậm chí tử vong. Về tinh thần sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của học sinh, gây ra sự sợ hãi, lo âu, bất an, uất ức và bị ám ảnh là những trạng thái phổ biến mà hầu hết các em học sinh bị bạo lực phải trải qua. Trẻ trở nên lầm lì, ít nói, mất tự tin, luôn ở trong trạng thái lo lắng, ngại tiếp xúc với mọi người, lo sợ khi đến trường, có thể phát sinh hoặc làm nặng thêm các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình học tập: Nạn nhân của bạo lực thường có xu hướng không thể tập trung học, lo sợ khi đến lớp, dẫn đến kết quả học tập sa sút. Trẻ bị bạo hành có thể ảnh hưởng quá trình phát triển tâm lý và thể chất lâu dài, thậm chí suốt đời hoặc tự sát. Hầu hết các em thường không kể về những áp lực và đe dọa từ bạo lực học đường với phụ huynh hay giáo viên.

Bạo lực học đường và những hệ quả chưa được quan tâm đúng mức tại VN — Tiếng Việt
Bạo lực học đường không chỉ ảnh hưởng đến nạn nhân và người gây ra bạo lực mà còn gây xáo trộn, căng thẳng và lo lắng cho cả gia đình. Phụ huynh sống trong tình hình không biết con cái mình có bị thương tật về thể chất hoặc tinh thần không, bất kỳ ở đâu, học sinh có thể trải qua các cuộc đánh nhau. Điều này đã buộc nhiều gia đình phải thay đổi trường học của con cái hoặc thậm chí chuyển nơi ở để tạo môi trường an toàn hơn cho con.

Ảnh hưởng đến nhà trường: Hành vi bạo lực học đường còn tạo ra sự nặng nề và căng thẳng cho các học sinh khác, nỗi sợ hãi và lo lắng luôn đe dọa họ. Một số học sinh phải đối mặt với bạo hành tinh thần, điều này ảnh hưởng lớn đến tâm lý của họ. Ngoài ra, hành vi bạo lực học đường của học sinh có thể làm mất lòng tin của phụ huynh đối với nhà trường và làm giảm ý nghĩa của môi trường giáo dục lành mạnh và trong sáng.

Bạo lực học đường ảnh hưởng đến các giá trị truyền thống trong học đường và chuẩn mực đạo đức và tạo ra một sự suy đồi đáng báo động về đạo đức và hành vi, gây ra sự mất trật tự trong xã hội. Hiện nay, có những học sinh không tuân thủ quy tắc, thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với thầy cô, nói tục và không tôn trọng quy tắc. Những đứa trẻ này thậm chí cãi lại bố mẹ vì họ học được những thói quen bạo lực từ một bộ phận nhỏ. Xung đột và đánh nhau giữa bạn bè xảy ra thường xuyên. Mỗi ngày, chúng ta chứng kiến những cuộc ẩu đả và xung đột ngay tại trường học hoặc những bài viết trên mạng xã hội có lời lẽ tục tĩu, bôi nhọ danh dự của người khác.

Chống bạo lực học đường: Phải sửa từ gốc - Tuổi Trẻ Online
Chứng kiến bạo lực, cũng có thể ảnh hưởng lớn đến tâm lý của các em, các em có thể cảm thấy e dè và sợ hãi. Nếu những người gây ra bạo lực không bị trừng phạt, các em có thể bị ảnh hưởng và khuynh hướng theo hành vi bạo lực và có nguy cơ trở thành người thực hiện bạo lực trong tương lai. Đặc biệt, những đứa trẻ thường có hành vi bạo lực hoặc lạm dụng quyền hành từ khi còn nhỏ có nguy cơ cao mắc vào những tình huống nguy hiểm hơn khi lớn lên hơn so với những đứa trẻ khác.

Đối với các em học sinh gây bạo lực cũng sẽ trở thành đối tượng bị thù hằn và bị ghét bởi các nạn nhân và các bạn cùng học, cùng với đó là nỗi lo lắng bị trả thù từ phía nạn nhân, gia đình và bạn bè của nạn nhân. Học sinh gây bạo lực cũng phải đối mặt với việc chịu kỷ luật của nhà trường (đình chỉ học tập tạm thời hoặc bị đuổi học), nghiêm trọng hơn là phải chịu sự truy tố của pháp luật. Có trường hợp phát sinh các rối loạn tâm thần hoặc làm nặng thêm các rối loạn tâm thần có sẵn. Những đứa trẻ có hành vi bạo lực, lạm dụng quyền hành từ khi còn nhỏ, khi lớn lên có thể mắc phải những hành vi tội ác nhiều hơn những đứa trẻ khác.

2. Hậu quả của trầm cảm do bạo lực học đường

– Học sinh trong độ tuổi từ 12-17, là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển thể chất và tâm lý. Trong giai đoạn này, tính cách đang hình thành và trẻ dễ dàng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố độc hại trong xã hội. Những kích thích và tác động xấu từ môi trường xung quanh có thể làm cho học sinh hình thành tâm lý bạo lực, gây ra nhiều vụ bạo lực học đường. Đôi khi chỉ bắt đầu từ những mâu thuẫn rất nhỏ trong giao tiếp hàng ngày như: Tranh chấp nhau đồ đạc, nói xấu nhau, nhại giọng địa phương, khích bác, hiểu nhầm nhau, đọc trộm tin nhắn của nhau cũng dẫn tới bạo lực… Hoặc xuất phát từ những bất ổn tâm lí trong gia đình: Một đứa trẻ sống trong hoàn cảnh bố mẹ thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau thậm chí chúng thường xuyên bị đánh đập cũng chính là nguyên nhân dẫn tới hành vi bạo lực. Bị ảnh hưởng bởi những hành vi bạo lực từ mạng xã hội, mạng xã hội vô tình đã định hướng ngôn ngữ và hành vi cho trẻ em. Một số bệnh lý tâm thần cũng là nguyên nhân gây bạo lực học đường: tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc, hành vi… 


– Nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và đào tạo học sinh. Tuy nhiên, nếu nhà trường không có chương trình đào tạo hợp lý hoặc không thực hiện đủ điều kiện cần, nó có thể góp phần dẫn đến các vấn đề tiêu cực trong học tập. Hiện nay, giáo dục tập trung quá nhiều vào kiến thức văn hóa, đôi khi bỏ qua nhiệm vụ giáo dục con người. Mặt khác, cuộc sống hiện đại và sự áp lực của xã hội đang khiến cho những giá trị quan trọng của nhà trường trở nên mờ nhạt.

– Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tính cách và hành vi của học sinh. Môi trường gia đình là yếu tố trực tiếp quyết định tâm lý và hành vi của trẻ, giúp họ phân biệt điều có lợi và có hại, biết lễ nghĩa và tôn trọng người khác. Tuy nhiên, nhiều bậc phụ huynh thường áp dụng cách giáo dục nặng nề, thậm chí sử dụng bạo lực để giáo dục con cái, dẫn đến bạo lực học đường.

– Xã hội đóng góp vào tình trạng bạo lực học đường thông qua các yếu tố văn hóa như phim ảnh, sách báo, trò chơi điện tử mang tính bạo lực. Những yếu tố này thu hút sự quan tâm của trẻ em và có thể ảnh hưởng lớn đến tâm lý và hành vi của họ. Các yếu tố này thường được phát tán công khai trên các trang mạng xã hội và cửa hàng, làm tác động đáng kể đến sự phát triển tâm lý của học sinh.

3. Cách phòng chống bạo lực học đường

– Học sinh cần tích cực rèn luyện kĩ năng sống, ngoan ngoãn lễ phép với ông bà, cha mẹ, với thầy cô giáo. Hiểu giá trị của lễ phép và tôn trọng đối với người lớn, ông bà, bố mẹ và giáo viên. Điều đó giúp tạo nên một môi trường tôn trọng và hòa đồng. Chấp hành tốt nội quy trường lớp. Nói không với bạo lực. Nếu thấy hiện tượng bạo lực phải kịp thời báo ngay cho nhà trường, thầy cô giáo hoặc cơ quan có thẩm quyền để kịp thời can thiệp và xử lí. Học cách kiềm chế cảm xúc, tích cực tham gia vào các hoạt động tình nguyện mà nhà trường tổ chức nhằm tăng tính hướng thiện trong con người các em.

05 biện pháp phòng ngừa bạo lực học đường
– Nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục: Tích cực hoàn thiện bộ rèn luyện kỹ năng sống và đưa bộ môn dạy kỹ năng sống vào trong nhà trường. Tổ chức các hoạt động sân trường, hoàn động tình nguyện mang tính hướng thiện và định hướng nhân cách cho học sinh, giúp học sinh phát huy những đức tính tốt đẹp trong bản thân. Có hình phạt và cách giáo dục nghiêm khắc, phù hợp đối với những học sinh gây ra bạo lực, và có hình thức hỗ trợ kịp thời đối với nạn nhân của các vụ bạo lực, giúp họ hồi phục và cảm thấy an toàn. Tổ chức tuyên truyền tác hại và cách phòng tránh bạo lực học đường đói với giáo viên và học sinh. Phối hợp với gia đình và cơ quan đoàn thể đóng trên địa bàn xã trong công cuộc phòng tránh bạo lực học đường.

– Giáo viên thường xuyên quan tâm, theo dõi và nắm bắt tình hình của các em học sinh trong lớp mình chủ nhiệm hoặc tham gia giảng dạy đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và giáo viên tham gia dạy kỹ năng sống. Có biện pháp can ngăn giáo dục kịp thời đối với hiện tượng có nguy cơ dẫn đến bạo lực đối với học sinh trong lớp chủ nhiệm hoặc tham gia giảng dạy. Tích cực tổ chức các hoạt động sân trường, hoạt động tập thể trong giờ hoạt động sân trường hoặc trong tiết sinh hoạt, nhăm tăng tình cảm của các em học sinh trong cùng lớp, cùng trường. Tạo môi trường học tập và giảng dạy trong sáng lành mạnh. Phối hợp với gia đình và nhà trường để quan tâm và hỗ trợ kịp thời những khó khăn vướng mắc của học sinh. Có sự đối xử công bằng, tôn trọng và thương yêu học sinh.

– Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn bạo lực học đường bằng cách quan tâm và giáo dục con cái, tạo ra một môi trường sống lành mạnh, yêu thương cho con cái. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với nhà trường và giáo viên chủ nhiệm để kịp thời nắm bắt tình hình học tập của con em mình tại trường học và cung cấp sự hỗ trợ kịp thời là điều cần thiết. Hạn chế bạo lực gia đình trước mặt con cái cũng là một phần quan trọng.

Như vậy, bạo lực học đường rất đa dạng do nhiêu nguyên nhân gây ra, hậu quả nặng nề cho nạn nhân, từ tổn thương cơ thể, tinh thần, ảnh hưởng phát triển tâm lý, có thể phát sinh các rối loạn tâm thần như trầm cảm mà còn có các rối loạn khác. Và ảnh hưởng đến cả người gây bạo hành, học sinh khac, gia đình, nhà trường và xã hội. Để ngăn chặn và giải quyết vấn đề này cần có sự phối hợp, chung tay không chỉ của học sinh mà còn cần sự tham gia của gia đình, nhà trường và xã hội.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

Tài liệu tham khảo:
1. Cao Tiến Đức (2022), Lâm sàng và điều trị trầm cảm, NXB Y học Hà Nội
2. Cao Tiến Đức, Cao Đức Tuấn (2022), Các rối loạn tâm thần, cấp cứu và điều trị, NXB Y học Hà Nội
3. Vụ sức khỏe bà mẹ – trẻ em, Bộ Y tế (2024). Tài liệu hướng dẫn chăm sóc sức khỏe vị thành niên và thanh niên.
4. https://hcdc.vn/bao-luc-hoc-duong-hau-qua-va-cach-phong-tranh-XUedGP.html
5. https://ums.vnu.edu.vn/bao-luc-hoc-duong-nguyen-nhan-va-bien-phap-phong-tranh/

 

 

 

 

 

XỬ TRÍ NẠN NHÂN BẠO HÀNH GIA ĐÌNH VÀ HIẾP DÂM (P2) ẤU DÂM

XỬ TRÍ NẠN NHÂN BẠO HÀNH GIA ĐÌNH VÀ HIẾP DÂM (P2)

ẤU DÂM

Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

1. Định nghĩa: Ấu dâm là một chứng rối loạn tình dục bao gồm những ham muốn tình dục đối với trẻ em dưới tuổi vị thành niên, tức là khoảng dưới 14 tuổi. Người mắc bệnh được xác định là người ít nhất 16 tuổi và lớn hơn trẻ bị hại ít nhất 5 tuổi.

Dưới sự ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, ấu dâm được hiểu là các hành động lạm dụng tình dục với trẻ em. Tuy nhiên, định nghĩa này là không chính xác và phản ánh sai tình hình chung của những người mắc bệnh ấu dâm, làm cho căn bệnh này càng khó nghiên cứu và thu thập số liệu.

Cần ghi nhớ rằng ấu dâm là bệnh lý, trong phân loại DSM – IV, ấu dâm thuộc nhóm lệch lạc tình dục, người có biểu hiện ấu dâm được gọi là người ấu dâm (tiếng Anh: pedophile). Hành vi lạm dụng tình dục trẻ em hay còn gọi là tình dục huyễn nhi mà ấu dâm có liên quan đến hiện tượng này; ngược lại với hiện tượng này là ái lão, khi người bị lệch lạc tình dục hướng đến người già.

Không phải ai mắc bệnh ấu dâm cũng có hành vi tình dục với trẻ em, cũng như những người có hành vi tình dục với trẻ em cũng không chắc chắn là có bệnh ấu dâm.

2.Những dấu hiệu và triệu chứng của ấu dâm:

Ấu dâm thường được người bệnh tự phát hiện khi qua khỏi tuổi dậy thì, khi xu hướng tình dục của họ vẫn tập trung vào đối tượng trẻ em mà không có hứng thú với người cùng tuổi. Người bệnh không thể chọn xu hướng tình dục của bản thân và thường cảm thấy sợ hãi vì cảm xúc của mình. Sự kỳ thị của xã hội làm người bệnh trốn tránh khỏi xã hội và cảm thấy khó tiếp xúc với người khác. Đây cũng là một lý do khiến người bệnh cảm thấy hấp dẫn bởi trẻ em vì trẻ em dễ gần và không phán xét như người lớn.

6 thiếu sót của bố mẹ dễ biến con thành 'mồi' cho kẻ ấu dâm - VnExpress - Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố

Gần đây, giới khoa học và xã hội có sự chú ý hơn đến các vấn đề tâm lý nên cũng có nhiều người cởi mở hơn về bệnh ấu dâm của mình cho mục đích khoa học. Họ cho biết họ cảm thấy các triệu chứng như tự ty và cảm thấy bị tách biệt khỏi xã hội. Họ còn bị trầm cảm và luôn lo sợ người khác biết về xu hướng tình dục của mình. Tất cả các điều này khiến họ tránh giao tiếp với người khác.

Người bệnh cho biết họ nhận ra sở thích của mình là sai trái và nếu họ hành động để thỏa mãn nhu cầu thì sẽ phạm luật pháp. Vì vậy, người bệnh luôn kiểm soát bản thân và tìm cách an toàn để thỏa mãn. Một số trường hợp có hành động bạo hành trẻ em thường có bệnh tâm thần hay nhận thức lệch lạc. Cũng có trường hợp tội phạm không có bệnh ấu dâm; họ có thể mắc các bệnh tâm thần khác như lo âu, trầm cảm nặng, rối loạn tâm trạng và lạm dụng chất kích thích. Các hành vi bao gồm nhìn, vuốt ve, thủ dâm và ép quan hệ tình dục. Vậy đồng tính nam lại thích quan hệ với các cậu bé thì sao? Họ cũng nằm trong nhóm lệch lạc tình dục này. Ở đây, lệch lạc tình dục bao gồm cả đồng tính lẫn ấu dâm. Hầu hết người có xu hướng ấu dâm là nam giới, nhưng cũng có những trường hợp người bệnh là nữ giới khoảng 30 – 35% số kẻ ấu dâm là những người thuận tay trái.

Bệnh ấu dâm là gì? Nguyên nhân và Giải pháp khắc phục - Tạp chí Tâm lý học Việt Nam

Không phải ai mắc bệnh ấu dâm cũng có hành vi tình dục với trẻ em, nếu họ hiểu luật và kiểm soát được hành vi của mình (số này rất ít). Tuy nhiên, đặc thù của đa số người bệnh là thích giao cấu với trẻ em – điều này phạm vào luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em của nhiều nước trên thế giới, nên người mắc bệnh ấu dâm bị phạt theo luật hình sự về những hành vi không thể kiểm soát nổi của họ do bệnh ấu dâm gây ra.

Nạn nhân của ấu dâm sẽ bị tổn thương tâm lý và để lại hậu quả tinh thần rất nặng nề trong suốt cuộc đời bé gái. Tình trạng thường thấy của nạn nhân tội ấu dâm là hoảng loạn, hay gặp ác mộng, sợ người khác giới, luôn bị ám ảnh bị người đàn ông nào đó tấn công, luôn mặc cảm bản thân không còn trong sáng và hồn nhiên như các bạn cùng trang lứa. Khi đến tuổi trưởng thành, nếu không được cha mẹ, người thân và bạn bè cảm thông và chia sẻ, có 2 nguy cơ dễ xảy ra với bé: một là rối loạn chức năng tình dục, thích quan hệ với đàn ông đủ các lứa tuổi và trở thành một người buông thả; hai là không bao giờ giao cấu với người khác giới, sống mặc cảm và độc thân suốt đời.

Nếu có những dấu hiệu và triệu chứng đã được liệt kê ở trên hay có người trong gia đình bị những triệu chứng trên thì hãy đến gặp bác sĩ. Hãy luôn thảo luận với bác sĩ để được chỉ định phương pháp chẩn đoán, điều trị và xử lý  dành cho bạn.

3. Nguyên nhân gây ra ấu dâm:

Hiện nay vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân gây ra ấu dâm. Các bệnh về tâm lý là lĩnh vực được đầu tư vào chỉ mới gần đây và cũng khó nghiên cứu do tính cách và hoàn cảnh mỗi người đều khác nhau.

Hầu hết các chuyên gia cho rằng tình trạng này có liên quan đến các nhân tố tâm lý xã hội chứ không phải các nhân tố sinh học. Một số bác sĩ cho rằng các nhân tố tính cách có ảnh hưởng đến bệnh nhân bao gồm các vấn đề về sự gắn bó hoặc phụ thuộc vào gia cảnh bất thường. Bị quấy rối khi còn nhỏ cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây ra ấu dâm. Tuy nhiên, con số này là không nhiều và cũng không chắc chắn sẽ dẫn tới bệnh ấu dâm.

Từ năm 2002, một số nghiên cứu về yếu tố sinh học gây ra bệnh ấu dâm được tiến hành. Các yếu tố được nghiên cứu và giả thuyết đưa ra chẳng hạn như: chỉ số IQ và trí nhớ kém, ít chất trắng trong não bộ hơn, ít hormon testosteron và các vấn đề trong não bộ.

Thấy 4 triệu chứng về não này, nên đến bệnh viện ngay - Báo An Giang Online

Trong số các yếu tố trên, các vấn đề về não bộ được đồng tình nhiều nhất. Ở người thường, khi nhìn thấy trẻ em, não bộ tự phát ra sóng thần kinh làm trỗi dậy bản năng bảo vệ và che chở; tuy nhiên, ở người bệnh ấu dâm các cảm xúc này bị nhiễu và làm cho người bệnh cảm thấy có hứng thú tình dục.

4. Yếu tố nguy cơ mắc phải:

Hầu hết người có xu hướng ấu dâm là nam giới, nhưng cũng có những trường hợp người bệnh là nữ giới; tuy nhiên, con số chính xác vẫn chưa được thu thập, vì đa số những người bệnh đều lẩn tránh xã hội. Các nghiên cứu thu thập được từ bệnh này phần nhiều là từ những đối tượng đã có hành động tình dục với trẻ em, vì vậy, kết quả nghiên cứu không đảm bảo chính xác. Ấu dâm là bệnh lý bẩm sinh nên chưa thể xác định được yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh.

– Điều trị: những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ và những kỹ thuật dùng để chẩn đoán ấu dâm.

+ Việc chẩn đoán khá khó khăn vì đa số bệnh nhân không bộc lộ nhiều về cảm xúc của họ, kể cả khi bác sĩ hỏi trực tiếp. Vì vậy, khai thác đầy đủ thông tin rất quan trọng cho việc chẩn đoán. Các thông tin khác cần được thu thập từ các thành viên trong gia đình, những người có thể là nạn nhân hoặc các tổ chức pháp lý hoặc xã hội. Kể cả những bác sĩ giàu kinh nghiệm cũng không thể chẩn đoán được ấu dâm trong tất cả các trường hợp.

Một số bác sĩ có thể chụp cắt lớp MRI và một số thiết bị theo dõi sóng não để theo dõi hoạt động bộ não. Các sóng thu lại sẽ cho thấy người bệnh bị kích thích bởi những hình ảnh nào, từ đó có thể chẩn đoán bệnh.

+ Phương pháp điều trị ấu dâm: ấu dâm là một bệnh mãn tính, việc điều trị nên tập trung vào thay đổi hành vi trong thời gian dài. Liệu pháp điều trị là theo dõi và đoán trước các trường hợp có thể xảy ra hành động sai lầm để phòng tránh. Ngoài ra, các nhóm điều trị và bác sĩ tâm lý luôn được chỉ định để giúp người bệnh.

Đôi khi bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc để làm giảm ham muốn tình dục. Các thuốc này bao gồm medroxyprogesteron acetat, thuốc làm giảm testosteron và các chất ức chế tái hấp thu serotonin cũng có thể được sử dụng; đồng thời bệnh nhân cần điều trị các bệnh như nghiện rượu hoặc nghiện chất kích thích nếu có.

Cha mẹ, người thân và toàn xã hội nên nêu cao tinh thần bảo vệ trẻ em trước các đối tượng mắc bệnh lý ấu dâm. Đối với điều trị trẻ em bị lạm dụng, mục đích quan trọng nhất là bảo vệ trẻ khỏi việc bị lạm dụng lần nữa; đôi khi nhiều trẻ bị lạm dụng cần phải nhập viện để điều trị tâm lý nếu trẻ bị hoảng loạn.

Phải tăng hình phạt "yêu râu xanh"!

Theo Ông Cantor, Nhà tâm lý học lâm sàng thuộc Đại học Toronto (Canada), các chuyên gia sức khỏe tâm thần nên tạo ra môi trường để những người mắc chứng ấu dâm có thể tham vấn chuyên gia, nhưng vẫn giữ tình trạng ẩn danh để họ có thể được chữa trị bằng thuốc giảm ham muốn tình dục, tư vấn, trị liệu theo nhóm hoặc bất kỳ liệu pháp phù hợp nào khác.

Ở Mỹ, kẻ phạm tội ấu dâm bị trừng phạt và ghê tởm ra sao?

Nhiều nước đã đưa ra hình phạt rất nặng với hành vi “ấu dâm”

+ Steve Hurst là một dân biểu thuộc Ðảng Cộng hòa tại bang Alabama (Mỹ) đã đề xuất một dự luật đề nghị hình phạt “thiến” những kẻ phạm tội hiếp dâm trẻ em. Theo bản dự thảo mang tên HB365, những kẻ ấu dâm sẽ bị “thiến” trước khi tống vào trại giam. Biện pháp trừng phạt này dành cho cả đàn ông và phụ nữ trên độ tuổi 21, áp dụng với các nạn nhân từ 12 tuổi trở xuống. “Thiến hóa học” là hình phạt buộc tội phạm lạm dụng tình dục phải dùng thuốc làm mất hết cảm giác ham muốn tình dục.

+ Tại Ba Lan, Thụy Ðiển, Ðan Mạch, Ðức…, “thiến hóa học” là hình phạt bắt buộc đối với tội phạm ấu dâm. Hàn Quốc là quốc gia châu Á đầu tiên thông qua đạo luật cho phép “thiến hóa học” đối với tội phạm vào năm 2011. Hình phạt trên là rất mạnh tay với tội phạm ấu dâm; tuy nhiên, cũng có nhiều luồng ý kiến về hình phạt này. Họ cho rằng, “thiến” chỉ có thể làm giảm ham muốn tình dục chứ không thể giúp ổn định tâm lý của những tên tội phạm. Ngoài ra, các nhóm hoạt động nhân quyền, bao gồm Tổ chức ân xá Quốc tế, đã gọi hình phạt “thiến” là vi phạm nghiêm trọng Công ước Nhân quyền Liên hợp quốc.


Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

XỬ TRÍ NẠN NHÂN BẠO HÀNH GIA ĐÌNH VÀ HIẾP DÂM- P1

XỬ TRÍ NẠN NHÂN BẠO HÀNH GIA ĐÌNH VÀ HIẾP DÂM

Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức
ĐẶC ĐIỂM CHUNG

Bạo hành gia đình là một loại bạo lực về thể chất, tình cảm, tình dục diễn ra giữa những người có quan hệ (như các thành viên trong gia đình), những người liên quan tình cảm (sống cùng nhau), hoặc người có những mối quan hệ khác (như người chăm sóc của một người cao tuổi).

Bạo hành gia đình có thể được biểu hiện bằng sự đe dọa tình cảm, hành vi tình dục không liên ứng, hoặc chấn thương cơ thể thực hiện bởi một người trưởng thành hoặc vị thành niên để duy trì hành vi cưỡng chế trong một mối quan hệ thân mật; nó bao gồm bạo hành về thể chất, tình dục và tình cảm của trẻ em, người già, vợ chồng và có thể bao gồm cả hiếp dâm. Mặc dù định nghĩa pháp lý của việc bạo hành thay đổi theo hoàn cảnh, nhưng đó là hành vi gây ra nỗi sợ hãi.

Bạo hành gia đình không kể giới hạn về tuổi tác, chủng tộc, tầng lớp xã hội, trình độ học vấn, kinh tế là một khía cạnh quan trọng của sức khỏe và an toàn cộng đồng. Cảnh giác với bạo hành và các yếu tố nguy cơ của nó, cung cấp can thiệp mạnh là những mục tiêu quan trọng đối với các bác sĩ khoa cấp cứu. Cần báo cáo với cơ quan có thẩm quyền. Cho nạn nhân nhập viện nếu bị đuổi khỏi nhà hoặc hỗ trợ trong trường hợp muốn được giải thoát, đề nghị sự bảo vệ của cảnh sát.

Bạo lực gia đình - Nguyên nhân và hướng phòng chống

Số liệu báo cáo của Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) được công bố tại một tọa đàm tại Hà Nội (2017), hàng năm Việt Nam có hơn 1.000 trẻ em bị xâm hại tình dục. Trung bình, 8 giờ có thêm một trẻ bị xâm hại khoảng 60% nạn nhân có độ tuổi từ 12 – 15. Các nạn nhân của hiếp dâm yêu cầu phải được đánh giá y tế và can thiệp tâm lý đặc biệt.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phát hiện một trong những dạng phổ biến nhất của bạo lực với phụ nữ được thực hiện bởi chồng hoặc bạn tình của họ. Mỗi năm ở Mỹ có khoảng 47 cuộc tấn công xảy ra trên mỗi 1000 phụ nữ và 32 cuộc tấn công trên 1000 nam giới. Gần 2 triệu vụ thương tích và 1300 cái chết trên cả nước Mỹ xảy ra mỗi năm là hậu quả của bạo hành gia đình.

VKSND Tp. Vĩnh Yên kiến nghị phòng ngừa bạo lực gia đình - Kiểm Sát Online

Một nghiên cứu chỉ ra rằng 44% phụ nữ bị giết bởi người thân của họ đã từng phải đi cấp cứu trong vòng 2 năm của cuộc đời họ, khoảng 93% những phụ nữ này đã bị thương ít nhất một lần. Những phụ nữ đã được tách khỏi kẻ bạo hành họ vẫn còn nguy cơ bị bạo hành. Trong đời họ, 29% nữ và 22% nam từng trải qua bạo hành về thể chất, tình dục, hoặc tâm thần; 4 đến 8% phụ nữ có thai bị bạo hành ít nhất một lần trong suốt thai kỳ. Khoảng 12 triệu phụ nữ bị hiếp dâm ít nhất một lần trong suốt cuộc đời họ. Thêm nữa, khi phụ nữ là nạn nhân bởi nam giới đối tác của họ, họ dễ bị lặp lại việc đánh đập, hiếp dâm, gây tổn thương, hoặc thậm chí bị giết.

BẠO HÀNH TRẺ EM

– Bạo hành thể chất trẻ em là một hiện tượng phức tạp do sự kết hợp của các yếu tố cá nhân, gia đình và xã hội. Trong một số trường hợp, bạo hành thể chất có thể được thực hiện bởi người chăm sóc những trẻ em có vấn đề về thể chất, tâm thần, hoặc hành vi. Một số yếu tố đã được xác định như là khả năng gây ra bạo hành thể chất ở trẻ em, bao gồm:

+ Các vấn đề căng thẳng kinh tế xã hội.

+ Nghèo nàn.

+ Thất nghiệp.

+ Di chuyển quá mức.

+ Cô lập xã hội.

+ Vấn đề bị tịch biên tài sản.

+ Cách nuôi dạy khắc nghiệt.

+ Căng thẳng của cha mẹ.

+ Tiền sử bị bạo hành.

+ Trầm cảm.

+ Lạm dụng chất.

+ Rối loạn nhân cách.

+ Những kỳ vọng không thực tế ở con cái.

+ Những tình huống bùng nổ.

+ Cãi vã, xung đột gia đình.

+ Những vấn đề cấp tính của môi trường.

– Có 3 loại bạo hành trẻ em: bỏ rơi, bạo hành thể chất và lạm dụng tình dục.

+ Bỏ rơi: bỏ rơi là khi những nhu cầu sống cơ bản của trẻ không được đáp ứng, bao gồm đầy đủ dinh dưỡng, quần áo, điều kiện sống thích hợp và an toàn, nuôi dưỡng tình cảm, giáo dục phù hợp với lứa tuổi, chăm sóc y tế và răng miệng.

+ Bạo hành thể chất: những yếu tố nguy cơ của bạo hành thể chất bao gồm sự thiếu hiểu biết của cha mẹ liên quan đến những khả năng phát triển của trẻ đối với những cặp cha mẹ trẻ, bạo lực trong gia đình và mức độ cao của căng thẳng tâm lý xã hội. Sinh non hoặc có khuyết tật đã được nghĩ tới việc dẫn đến tăng nguy cơ chấn thương vật lý, tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đặt dấu hỏi về những nghiên cứu này. Con của những người mẹ tuổi vị thành niên có nguy cơ tương đối cao cho tất cả những dạng bạo hành thể chất.

Người từ đủ 18 tuổi trở lên có hành vi bạo lực gia đình có bị phạt lao động?

+ Lạm dụng tình dục: lạm dụng tình dục có thể bao gồm tiếp xúc với cơ quan sinh dục, hậu môn hay miệng hoặc có thể dưới hình thức phô dâm, hoặc nội dung khiêu dâm. Thủ phạm thường là biết đứa trẻ. Mặc dù loạn luân là hình thức phổ biến nhất của tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em, nhưng nó thường bị thầy thuốc bỏ qua hoặc không nhận ra được. Loạn luân thường xảy ra giữa cha đẻ hoặc cha dượng với con gái hoặc con gái riêng, nhưng nó cũng có thể xảy ra giữa cha và con trai cũng như mẹ và con trai. Giờ đây có một định nghĩa cải tiến của loạn luân sẽ được đưa vào xem xét sự phản bội của lòng tin và sự mất cân bằng năng lượng trong các mối quan hệ một chiều. Một trong những khái niệm là đòi hỏi hành vi tình dục không thích hợp hoặc hành vi tình dục quá mức bởi một hoặc nhiều người thông qua liên kết tình cảm với đứa trẻ đó. Định nghĩa này mở rộng định nghĩa trước đây của loạn luân bao gồm lạm dụng tình dục bởi bất kỳ ai có quyền hoặc quyền lực đối với trẻ em. Khái niệm loạn luân này bao gồm thủ phạm ngay lập tực/mở rộng các thành viên trong gia đình, người giữ trẻ, giáo viên, người huấn luyện.

Bạo hành trẻ em là gì ? Hình phạt đối với hành vi bạo hành trẻ em

Thông thường có nhiều hơn một dạng bạo hành xảy ra cùng lúc. Bỏ rơi được báo cáo phổ biến nhất, tiếp theo là bạo hành thể chất, cuối cùng là lạm dụng tình dục.

Bác sĩ lâm sàng có thể là người đầu tiên được liên hệ với nạn nhân và các thành viên gia đình và việc hỏi bệnh sớm là có lợi. Do đó, đây là trách nhiệm của thầy thuốc, khi có thể, để xác định nạn nhân và những gia đình có nguy cơ của bạo lực; nhận ra nhanh chóng các nạn nhân về bạo lực kết hợp với lâm sàng, báo cáo cho cộng đồng và đề nghị được quản lý toàn diện cho họ.

Tiếp theo là một số khái niệm quan trọng khi kết nối các đánh giá ban đầu của một đứa trẻ được nghi ngờ là bị lạm dụng. Phỏng vấn đứa trẻ, người nghi ngờ lạm dụng và người chăm sóc riêng. Tiếp xúc đứa trẻ một cách tôn trọng và không dọa nạt. Sử dụng những câu hỏi đóng, mở không chỉ trích, ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu với đứa trẻ ở mức thích hợp, sử dụng từ ngữ hợp lứa tuổi.

Bạo hành, xâm hại tình dục trẻ em tại Việt Nam: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

Yêu cầu không chỉ với bạo hành thể chất mà còn lạm dụng tình dục, bạo hành gia đình và bằng chứng lạm dụng.

Trong khi phỏng vấn người nghi ngờ lạm dụng và/hoặc người chăm sóc, yêu cầu không chỉ hỏi về bạo hành thể chất mà còn về lạm dụng tình dục; hỏi về chấn thương nhìn thấy và những dấu hiệu khác như là vết bầm, thiểu dưỡng, và quần áo luộm thuộm. Bạo hành thể chất ở trẻ em thường thể hiện với chấn thương nhận thấy; tuy nhiên, cũng có thể là biểu hiện với các triệu chứng chấn thương kín đáo mà thầy thuốc không phát hiện ra. Phải quan tâm đến thực tế là chấn thương ở bụng hay đầu đe dọa tính mạng có thể biểu hiện ra không rõ bởi các dấu hiệu bên ngoài, hoặc tiền sử để gợi ý như một chấn thương.

Lắng nghe cẩn thận sự giải thích của người chăm sóc về chấn thương và chú ý bất kỳ mâu thuẫn nào với lời của đứa trẻ.

Dấu hiệu của bạo hành bao gồm: chấn thương không thể hoặc khó giải thích được, đổ lỗi cho anh chị em; lời giải thích thay đổi theo thời gian, vết thương hoặc chấn thương không phù hợp với bệnh sử; chậm trễ đáng kể trong tìm kiếm điều trị.

2.2. Khám thực thể

Đứa trẻ bị bạo hành có thể biểu hiện cực đoan từ tuần hoàn hoặc hệ thần kinh trung ương mà không có bất kỳ tiền sử chấn thương.

Cảnh giác cao với chấn thương kín đáo ở đầu, ngực, bụng; và một cách tiếp cận sinh lý để hồi sức là rất quan trọng. Kiểm tra đầu gối, cẳng chân, cánh tay, trán và cằm, khuỷu tay, hông, cột sống để tìm các vết bầm.

Sốc ở những trẻ này thường do mất máu kín đáo nhưng có thể do mất điện giải, nhiễm độc, rối loạn chức năng thần kinh trung ương, thêm nữa là do các vết rách hoặc bỏng, nhiễm trùng (như vỡ ruột non gây viêm phúc mạc…).

Bạo hành trẻ em là gì? Những điều luật Việt Nam quy định bạo hành trẻ

Hội chứng lắc (shake syndrome) trẻ em: là một dạng được công nhận của bạo hành trẻ em khi chấn thương và thậm chí tử vong gây ra bởi lắc mạnh trẻ nhỏ, thường do một lực tác động vào đầu khi bị ném vào một bề mặt cố định. Những tác động này gây ra những dấu hiệu trên cơ thể bao gồm: xuất huyết võng mạc, chấn thương nội sọ, xuất huyết dưới màng cứng lan tỏa. Chấn thương sợi trục, phù não thứ phát. Gãy xương sườn hoặc các xương dài (xương chày, xương cánh tay).

2.3. Điều trị cấp cứu

Việc điều trị trẻ bị bạo hành thể chất nên tương tự như điều trị trẻ bị chấn thương do tai nạn; việc thu thập và phân tích dữ liệu pháp lý, phải thực hiện kỹ lưỡng và đặc biệt quan trọng. Những việc ưu tiên gồm khai thông đường thở, duy trì hô hấp, các vấn đề tuần hoàn, đặt nội khí quản và kiểm soát thông khí, đặt đường truyền tĩnh mạch để truyền dịch và dùng thuốc.

Một khi những đứa trẻ này được điều trị y tế và sức khỏe của chúng ổn định, thầy thuốc cần thông báo cho tổ chức bảo vệ trẻ em ở địa phương. Cách ly nhanh chóng với người chăm sóc; việc phỏng vấn của cảnh sát, luật sư và dịch vụ bảo trợ xã hội, có thể là cần thiết.

Trẻ bị bạo hành có thể cần được nhập viện nếu không đảm bảo an toàn, việc nhập viện cũng có thể mất thời gian để loại bỏ những khó khăn về điều kiện chẩn đoán và lựa chọn phương pháp hỏi bệnh.

2.4. Đánh giá tâm thần

Bạo hành trẻ em và bỏ rơi thường xảy ra phối hợp với các dạng khác của bạo hành gia đình, như bạo hành hôn nhân và bạo hành giữa những người anh em, bạo hành trẻ em có nguy cơ cao bị bộc lộ với bạo hành cùng mẹ của chúng. Tiền sử này của bạo hành nên được tìm kiếm và điều trị tích cực cộng với chương trình chống bạo hành toàn dân.

Thực trạng bạo hành trẻ em trong gia đình tại Việt Nam, Cách Khắc Phục

Những triệu chứng của các vấn đề tâm thần trải qua của trẻ bị bạo hành thể chất có thể gồm: kém nhận thức bản thân, không tin hoặc không yêu người khác, hung hăng, gây rối, hành vi trái pháp luật; cơn thịnh nộ, hành vi tự hủy hoại hoặc tự bạo hành, ý tưởng tự sát; hành vi thụ động, thiếu tự tin, sợ hãi gia nhập một mối quan hệ mới, lo lắng, học tập sút kém; buồn rầu hoặc triệu chứng trầm cảm; lạm dụng thuốc ngủ và rượu; mất ngủ hoặc ác mộng, mảng hồi tưởng.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

 

 

XỬ TRÍ CẤP CỨU RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI       

XỬ TRÍ CẤP CỨU RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI

Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

Đánh giá và điều trị cấp cứu tâm thần ở bệnh nhân lớn tuổi là một thách thức lớn đối với các bác sĩ tâm thần bởi vừa có sự khác biệt về tình trạng cơ thể, vừa rối loạn về mặt tâm thần. Thông thường, cơn mê sảng, chứng mất trí, trầm cảm và can thiệp y khoa là các nguyên nhân cơ bản dẫn đến cấp cứu tâm thần ở bệnh nhân lớn tuổi. Các bệnh lý ở bệnh nhân lớn tuổi có thể sẽ trầm trọng hơn nếu mắc các tình trạng tâm thần.

Cấp cứu tâm thần ở bệnh nhân lớn tuổi liên quan chặt chẽ tới chứng mê sảng, mất trí, trầm cảm nặng, ảnh hưởng của điều trị, rối loạn lo âu hoặc chứng khó ngủ kéo dài và thường ít liên quan tới lạm dụng chất, rối loạn lưỡng cực.

Chất lượng cuộc sống của dân số chung ngày càng tăng thì càng có nhiều nhiều bệnh nhân lớn tuổi (từ 65 tuổi trở lên) mắc các chứng rối loạn tâm thần. Trong cấp cứu tâm thần gặp tỷ lệ 13 – 20% ở đơn vị cấp cứu. Tuổi càng cao, tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần càng tăng.

2. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN.
2.1.Sảng
2.1.1. Các nguyên nhân thường gặp

− Do thuốc: bao gồm rượu, kháng sinh, thuốc điều trị ung thư, thuốc kháng cholinergic, thuốc chống co giật, thuốc chống trầm cảm, thuốc hạ huyết áp và điều trị bệnh tim mạch, thuốc an thần, thuốc điều trị Parkinson, thuốc giảm tiết, corticoid, disulpiram, insulin, NSAIDs, thuốc giảm đau, opiat,…

− Chứng mê sảng cấp tính: xuất hiện ở bệnh nhân ngừng sử dụng rượu ở bệnh nhân nghiện rượu hoặc ngộ độc rượu. Các triệu chứng này cũng có thể xuất hiện khi ngừng sử dụng benzodiazpin, barbiturat…

− Thiếu hụt: folat, acid nicotimic, vitamin B1, vitamin B12.

− Do nội. tiết tố quá thấp hoặc quá dư thừa như adrenalin, hormon tuyến tụy, hormon tuyến giáp, hormon tuyến cận giáp.

− Bệnh gan:xuất hiện trong các bệnh lý của gan như viêm gan, xơ gan, hội chứng não – gan, ung thư gan.

− Viêm não – màng não, áp – xe não, viêm đường tiết niệu và các chứng viêm có sốt khác.

− Bệnh hô hấp: gặp trong tăng CO2, giảm O2 máu.

− Nhiễm độc: gặp trong nhiễm độc rượu, thuốc hoặc các chất cấm (ma túy, LSD, các chất gây loạn thần như amphetamin, cocain, opiat, heroin, morphin,…).

+ Nhiễm độc não: do CO, kim loại nặng (chì, arsen, thủy ngân), chất độc công nghiệp (xăng, dầu, benzen, ceton,…), nấm, cây cà độc dược, cây bìm bìm hoa tía, nọc rắn, bọ cạp.

+ Hội chứng não do thận là hội chứng não do suy giảm chức năng thận, dẫn tới tăng các chất chuyển hóa, rối loạn điện giải, thừa hoặc thiếu các hormon, tăng urê máu.

− Thiếu hụt các chất cần thiết: mất cân bằng nước, điện giải, khử nước quá mức do bí đái, táo bón,…

− Các nguyên nhân khác: đái tháo đường, chấn thương não hoặc chấn thương cơ thể, đột quỵ, tăng thân nhiệt, bệnh tim (suy tim, tăng hoặc giảm huyết áp), phẫu thuật phức tạp (trước, trong hoặc sau phẫu thuật).

2.1.2. Chẩn đoán mê sảng

Mặc dù sự suy giảm nhận thức có từ trước là một sự ảnh hưởng tới chứng mê sảng; tuy nhiên, rất khó để nhận ra chứng mê sảng. Nó có thể khởi đầu bằng chứng mất trí, hoặc  biểu lộ khá mơ hồ. Cấp cứu tâm thần chứng mê sảng phụ thuộc vào đánh giá tình trạng cơ thể chung.

Hầu hết các bệnh lý nhiễm độc hoặc can thiệp đều có thể là nguyên nhân của chứng mê sảng. Thường thì mê sảng là hậu quả của nhiều nguyên nhân, điều trị mê sảng cần có sự đánh giá tỷ mỉ về các nguyên nhân này.

Triệu chứng Covid-19 kéo dài phổ biến ở người cao tuổi - VnExpress Sức khỏe

Việc thăm khám, kiểm tra cẩn thận và toàn diện là cần thiết, bao gồm:

   − Các triệu chứng lâm sàng chung.

   − Triệu chứng tâm thần và đánh giá nhận thức suốt thời kỳ (như thang điểm MMSE).

2.1.3. Các xét nghiệm cơ bản

 − Sinh hóa máu: điện giải, glucose, Ca2+, albumin, urê, NH3, creatinin, AST, ALT, billirubin, phosphat, Mg2+, kiềm dư… nhằm phát hiện các rối loạn điện giải, tổn thương gan, suy thận, thay đổi glucose máu.

− Công thức máu: đánh giá tình trạng viêm, thiếu máu. 209

− Hormon giáp: đánh giá chức năng tuyến giáp thông qua FT3, FT4, TSH.

− Điện tim: để đánh giá bệnh tim thiếu máu cục bộ, rối loạn nhịp.

− X quang tim phổi: đánh giá viêm phổi, suy tim.

− Khí máu động mạch: đánh giá tình trạng hô hấp, thăng bằng kiềm toan.

−  Sinh hóa nước tiểu, cặn lắng nước tiểu.

−  Các xét nghiệm mở rộng khác có thể làm:

+  Cấy khuẩn niệu, kháng sinh đồ.

+  Định lượng thuốc trong máu, nước tiểu.

+  Xét nghiệm máu các bệnh đường sinh dục, HIV.

+  Định lượng hormon giáp.

+  Định lượng vitamin B1, vitamin B12, thiamin folat.

+  Xét nghiệm kháng thể kháng nhân, porphyrin niệu.

+  Chọc dò dịch não-tủy:để phát hiện viêm não, màng não.

+  Chụp CT, MRI sọ não trong đột quỵ, u, xuất huyết não.

+  Điện não đồ: thường gặp các sóng chậm ở bệnh nhân có hội chứng não – gan, nhiễm độc…; ở bệnh nhân nghiện rượu, thường gặp các sóng nhanh.

2.1.4. Điều trị mê sảng

Khi chẩn đoán mê sảng được đặt ra, nguyên nhân bất thường cần được tìm kiếm, phân tích. Việc điều trị chứng mê sảng bao gồm: các liệu pháp hỗ trợ chung, điều trị bằng thuốc và sự can thiệp về mặt tâm thần. 

a. Các liệu pháp hỗ trợ chung

– Bệnh nhân mê sảng với sự bối rối, hưng phấn, rối loạn hành vi cần được chú ý các vấn đề: lưu thông đường thở, giảm oxy máu, rối loạn glucose máu, quá liều ma túy.

– Dịch và các chất nội môi cần được điều chỉnh: thăng bằng kiềm toan, rối loạn điện giải, chất chuyển hóa. Họ cần được theo dõi cẩn thận bằng monitor, nhất là bệnh nhân mê sảng không hợp tác hoặc lâm sàng không cải thiện.

– Bổ sung oxy bằng cách thường xuyên cung cấp oxy lớn hơn 93%. Nếu bị nhiễm độc CO cần thở oxy 100% tới khi nồng độ HbCO, HbCO2 về bình thường. Trường hợp đường thở tổn thương, việc đặt hoặc mở khí quản có thể cần thiết phải tiến hành.

– Một số bệnh nhân đe dọa tử vong vì quá liều thuốc hoặc ngộ độc đường uống có thể là nguyên nhân của chứng mê sảng. Các bệnh nhân này cần xem xét đặt nội khí quản, rửa dạ dày (thường trong vòng 1 giờ sau khi uống).

b. Điều trị bằng thuốc

Thuốc điều trị chứng mê sảng bao gồm 2 nhóm:

− Mê sảng do cai rượu, an thần, bình thần: các triệu chứng nặng của chứng mê sảng bao gồm ảo giác, hoang tưởng, rối loạn hoạt động tâm thần vận động, bắt đầu xuất hiện muộn nhất là 7 ngày sau khi ngừng chất (thường là 24 – 72 giờ). Chứng mê sảng là một cấp cứu cần được điều trị tại các đơn vị tích cực hơn là tại các đơn vị điều trị thông thường.

− Benzodiazepin là thuốc chính trong điều trị liên quan tới hội chứng cai rượu, an thần, bình thần, bao gồm cả benzodia-zepin, barbiturat. Sự lựa chọn các benzodiazepin khác nhau thường phụ thuộc vào: khoảng thời gian tác dụng của thuốc, liều tấn công, kinh nghiệm hay thói quen, và giá cả của thuốc. Liều dùng phụ thuộc vào mức độ cai, cân nặng, triệu chứng lâm sàng, bệnh sử. Benzodiazepin có thể được tiêm bắp rồi chuyển đường uống khi mà các triệu chứng được kiểm soát. Mặc dù không có sự khác nhau về tác dụng, nhưng có sự khác nhau về thời gian tác dụng của thuốc. Một số khuyến cáo nên dùng dạng tác dụng ngắn ở bệnh nhân lớn tuổi, đặc biệt như lorazepam. Đây là thuốc chuyển hóa nhanh, được khuyến cáo cho bệnh nhân có tổn thương gan rõ. Dạng tác dụng dài của bezodiazepin có thể là nguyên nhân của tình trạng tích lũy và thừa thuốc.

−  Việc kết hợp vitamin B1 và các vitamin khác là chính xác trong hỗ trợ điều trị. Thuốc chẹn beta, clonidin, carbamazepin, thuốc an thần có thể được sử dụng nhưng không được khuyến cáo là đơn trị liệu, bởi chúng không thể ngăn chặn hội chứng cai.

−  Kiểm soát chứng mê sảng bằng thuốc kháng cholinesterase (đồng vận cholin). Thuốc trung hòa tình trạng nhiễm độc kháng cholin là physostigmin. Physostigmin chỉ đảo ngược cholinesterase, dẫn tới đối kháng tình trạng nhiễm độc kháng cholinergic. Liều thường dùng đối với physostigmin là 2mg tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch chậm; bởi vì, tác dụng của physostigmin là ngắn, khoảng 60 phút, nên có thể nhắc lại liều khi cần thiết để đảm bảo hiệu quả đối kháng tình trạng nhiễm độc kháng cholin.

Tác dụng phụ phổ biến của physostigmin là biểu hiện của sự tăng acetycholin ở ngoại vi, như: buồn nôn, tiêu chảy, tăng co bóp ở bụng, ra nhiều mồ hôi. Physostigmin cũng có thể gây các triệu chứng giống khi sử dụng chống trầm cảm 3 vòng; hiếm hơn là gây ra tình trạng tương tự với quá liều chống trầm cảm 3 vòng.

− Điều trị không đặc hiệu trong chứng mê sảng: một số trường hợp mê sảng, đặc biệt là bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân có lâm sàng dai dẳng hàng tuần. Các xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy có nhiều liên quan tới tổn thương gan, não. Điều trị đặc hiệu là cần thiết để giảm các triệu chứng trong suốt thời gian mê sảng. Thuốc thường được sử dụng kết hợp ở các khoa cấp cứu thường là liều thấp, an thần mạnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự an toàn và có tác dụng của an thần trong điều trị các chứng bồn chồn, loạn thần trong mê sảng. Mặc dù gần đây có nhiều thuốc an thần không điển hình như risperidon, olanzapin, ziprasidon trong điều trị chứng mê sảng, tuy nhiên, hầu hết các nhà lâm sàng vẫn thường sử dụng haloperidol hơn là các an thần mới trên.

      + Haloperidol: trong số các thuốc an thần, haloperidol là thuốc được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất. Nó an toàn trên bệnh nhân lớn tuổi, có ít hoặc hầu như không có ảnh hưởng trên hệ cholin, ít ảnh hưởng trên tim mạch, một vài tác dụng phụ của an thần và một số ảnh hưởng trên chuyển hóa. Một số nghiên cứu khuyến cáo liều 0,25 – 0,5mg x 4 giờ một lần ở bệnh nhân lớn tuổi.

       + Thuốc an thần không điển hình (an thần kinh mới): một số nghiên cứu đã cho thấy lợi ích của thuốc an thần không điển hình trong điều trị chứng mê sảng; đặc biệt là dạng tiêm của ziprasidon và olanzapin. Các thuốc an thần không điển hình ít khi gây triệu chứng của kháng cholin, ít khi gây triệu chứng ngoại tháp, vì vậy, không cần có sự kết hợp với thuốc benzodiazepin khi sử dụng các thuốc an thần mới để kiểm soát chứng bồn chồn. Risperidon, olanzapin, quetiapin được chỉ định trong điều trị chứng mê sảng.

c. Các can thiệp về mặt tâm thần

− Can thiệp môi trường: môi trường có thể rất hữu ích trong việc quản lý tổng thể chứng mê sảng; mục tiêu chính là để giảm các yếu tố môi trường làm trầm trọng thêm cơn mê sảng, sự rối loạn và nhận thức sai lầm khi bệnh nhân đáp ứng trước sự kích thích của môi trường.

+ Tri giác: người bệnh có rất nhiều rối loạn tri giác (ảo ảnh kỳ lạ và ảo giác, đặc biệt là ảo thị).

  • Người bệnh thường thấy những côn trùng, những động vật nhỏ rất di động.
  • Cũng có thể là những cảnh tượng, những hình ảnh rực rỡ, sinh động mang tính chất rùng rợn, ghê sợ nhằm chống lại người bệnh; đồng thời, người bệnh nghe thấy những lời đe dọa, những ảo thanh ra lệnh, có thể có hoang tưởng cảm thụ.
  • Hoang tưởng: mang tính chất rời rạc, gắn liền với ảo giác, dễ biến đổi.
  • Cảm xúc: những rối loạn tri giác gây cho người bệnh cảm xúc căng thẳng, kinh sợ, hốt hoảng.
  • Hành vi tác phong: người bệnh phản ứng rất tích cực với hình ảnh của ảo giác và hoang tưởng (bắt những con vật, chống lại những con quái vật ghê sợ đang tấn công mình); với mục đích tự vệ, họ chạy ra sân, chui vào gầm giường, ném vào kẻ địch tưởng tượng… Những hành vi này mang tính chất kích động, nguy hiểm.Rối loạn tri giác sai thực tại là gì? Ảnh hưởng như thế nào? - Tâm Lý Học

    Người bệnh có rất nhiều rối loạn tri giác (ảo ảnh kỳ lạ và ảo giác, đặc biệt là ảo thị)

+ Sự hiện diện đầu giường của các thành viên gia đình hoặc các vật dụng quen thuộc có thể làm dịu và trấn an cho bệnh nhân mê sảng. Bệnh nhân mê sảng có thể ra ngoài, leo ra khỏi giường. Vấn đề nhận thức có thể dẫn đến việc bệnh nhân kích động, sợ hãi, hành vi hiếu chiến. Bệnh nhân mê sảng cần được theo dõi, quan sát bởi nhân viên, việc này bảo đảm an toàn; mặc dù tốn kém chi phí, tuy nhiên, đó là sự can thiệp cần thiết để đảm bảo hiệu quả.

− Quản lý, hướng dẫn bệnh nhân: gia đình bệnh nhân (những người chăm sóc chính) và bệnh nhân nên được giả thích về nguyên nhân và quá trình của bệnh, thông báo về các yếu tố nguy cơ trong tương lai. Bác sĩ khoa cấp cứu nên trấn an gia đình do mê sảng thường là một tình trạng tạm thời và có thể hồi phục.

2.2. Chứng mất trí

Chứng mất trí gặp ở khoảng 10% của dân số trên 65 tuổi, đối với nhóm tuổi 85 tỷ lệ này tăng tới khoảng 30% – 40%. Chứng mất trí gây ra tàn phá và suy nhược, dẫn tới gánh nặng tâm lý xã hội, kinh tế lớn cho bệnh nhân, người chăm sóc và xã hội nói chung. Hậu quả có thể nhìn thấy của bệnh mất trí nhớ ở người cao tuổi có thể là một thảm họa. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nếu không nói là hầu hết, nó có thể không được phát hiện bởi bệnh nhân, gia đình hay bác sĩ. Bệnh nhân thường không biết gì về sự suy giảm nhận thức của họ, gia đình có thể coi đó là một phần của quá trình lão hóa bình thường.

Những nguyên nhân gây ra triệu chứng mất ngủ ở người già và cách khắc phục

Nói chung, có đến 40% dân số lão khoa trình bày với các bác sĩ về việc có các triệu chứng cho thấy những khó khăn về nhận thức, thường ở dạng bệnh mất trí hoặc mất trí với mê sảng. Tuy nhiên, mất trí ở khoảng một nửa trong số những bệnh nhân này là không được công nhận trong các đơn vị cấp cứu. Bác sĩ khám bệnh nhân sa sút trí tuệ đòi hỏi sự kiểm tra toàn diện thích đáng để xác định chẩn đoán, xác định nguyên nhân, giúp cho can thiệp dược lý và tâm lý, để kiểm soát các rối loạn hành vi, phối hợp bố trí phù hợp với các thành viên trong gia đình, người chăm sóc, với cơ quan có thể.

2.2.1. Chẩn đoán phân biệt

− Bệnh Alzheimer (AD): nguy cơ phát triển AD tăng lên cùng với tuổi tác. Theo Hiệp hội Alzheimer, 10% của tất cả những người trên 65 tuổi và 50% những người trên 85 tuổi có AD.

Giới tính: AD ảnh hưởng đến phụ nữ thường xuyên hơn so với nam giới. Tiền sử gia đình bị AD, người có hội chứng Down (trisomy 21) thường phát triển AD ở độ tuổi 30 và 40.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa chấn thương đầu có ý nghĩa với mất ý thức và mất trí nhớ ngược dòng, tăng nguy cơ AD trong cuộc sống sau này. Tiếp xúc với các chất nhất định (chẳng hạn như nhôm) có thể làm cho một người nhậy cảm hơn với AD; trình độ học vấn thấp, phụ thuộc rượu có thể liên quan đến một nguy cơ gia tăng AD. Chế độ ăn chay tỷ lệ AD thấp hơn so với chế độ ăn thịt. Các yếu tố khác như nồng độ cao cholesterol và huyết áp cao, các yếu tố liên quan đến bệnh tim, đột quỵ và tiểu đường… cũng có thể làm tăng nguy cơ AD.

Sự khác nhau giữa chứng sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer - Phần 1 | VIAM

10% của tất cả những người trên 65 tuổi và 50% những người trên 85 tuổi có mắc bệnh Alzheimer

− Bệnh Pick và mất trí thùy trán: Pick thường được chẩn đoán trước 65 tuổi nhưng có thể xảy ra muộn nhất là sau tuổi 80. Giai đoạn đầu của bệnh Pick và mất trí thùy trán khác là đáng chú ý cho thay đổi nhân cách và thay đổi trong hành vi. Bệnh nhân biểu hiện mất khả năng quan sát và sự phán xét. Họ thường xuyên bỏ bê công việc, vệ sinh cá nhân suy giảm, có thể hay bốc đồng và không thích nghi, những hành vi tình dục không phù hợp. Khi thời gian trôi qua, bệnh nhân thường trở nên thờ ơ. Rối loạn ngôn ngữ, trầm cảm và lo âu có hoặc không, ảo tưởng có thể xảy ra, tăng thị lực và các hành vi ám ảnh có thể phát triển.

− Mất trí thể Lowy (LBD): quá trình LBD thường tiến triển nhanh chóng và liên quan với các tính năng Parkinson nổi bật như run khi nghỉ ngơi, chân tay cứng nhắc, chậm vận động. Bệnh nhân có thể nhận thức chậm nhưng khả năng nhận thức còn được bảo tồn. Điều trị bằng levodopa và dopaminergic thường dẫn tới rối loạn tâm thần như trầm cảm, hoang tưởng và ảo giác thị giác; điều trị bằng thuốc chống loạn thần làm nặng thêm các triệu chứng vận động; điều trị bằng thuốc ức chế men cholinesterase có thể cải thiện chức năng nhận thức.

− Mất trí trong Parkinson (PDD): PDD phát triển chậm trong quá trình của bệnh Parkinson. Người ta ước tính rằng khoảng 20% đến 40% bệnh nhân bị bệnh Parkinson phát triển bệnh mất trí trong quá trình của bệnh. Trong thực tế, bệnh nhân bị bệnh Parkinson có một sự gia tăng gấp sáu lần nguy cơ phát triển bệnh mất trí so với những bệnh nhân lớn tuổi không mắc bệnh Parkinson. Ngoài việc suy giảm nhận thức thấy ở nhiều bệnh nhân PDD, các triệu chứng tâm thần kinh là rất phổ biến, đặc biệt trầm cảm, ảo giác, ảo tưởng, lo lắng và thờ ơ. Những triệu chứng này là dấu hiệu quan trọng của tử vong và tiến triển nặng, cũng như chất lượng cuộc sống giảm.

− Mất trí do bệnh mạch máu (VD): VD gặp ở 10% đến 20% của tất cả các mất trí, nó cùng tồn tại với AD. Nhiều tắc mạch nhỏ từ bệnh xơ vữa động mạch gặp phổ biến nhất, các nguyên nhân khác, trong đó yêu cầu điều trị khác nhau, bao gồm viêm mạch nhiễm trùng, viêm mạch u hạt và bệnh tắc mạch do viêm nội tâm mạc.

− Mô tả cách phân biệt giữa trầm cảm và chứng mất trí:

      + Trầm cảm: khởi phát đột ngột liên quan đến trạng thái tinh thần, có tiền sử tâm thần; trong thời gian ngắn triệu chứng gây ra giảm chức năng, người bệnh phàn nàn về giảm trí nhớ: “tôi không biết” trả lời câu hỏi, giảm nhận thức, mất khả năng gợi nhớ sự kiện gần đây và trước đây, suy giảm trạng thái tinh thần xảy ra đầu tiên.

      + Chứng mất trí: khởi phát âm thầm liên quan với suy giảm chức năng xã hội và công việc, có thể có tiền sử tâm thần nhưng phần lớn bệnh nhân không có rối loạn tâm thần.

2.2.2. Điều trị rối loạn nhận thức bằng thuốc

     − Các thuốc chống loạn thần sử dụng trong bệnh nhân mất trí có rối loạn hành vi.

     − Các thuốc được sử dụng để điều trị giảm nhận thức ở bệnh Alzheimer:

+ Donepezil hydrochlorid (aricept):

+ Galantamin hydrobromid (reminyl):

+ Rivastigmin tartrat (exelon):

+ Vitamin E

+ Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs

+ Ginkgobiloba

+ Thuốc chống trầm cảm

Chú ý: việc dùng thuốc, sự thay đổi môi trường và bệnh nhiễm trùng là nguyên nhân phổ biến liên quan đến rối loạn nhận thức, mất chức năng của bệnh nhân mất trí và có thể dẫn đến mê sảng. Khi bị mê sảng bệnh có thể mất vĩnh viễn chức năng nhận thức nếu nguyên nhân không được điều trị kịp thời.

2.3. Trầm cảm

2.3.1. Lâm sàng trầm cảm ở những bệnh cao tuổi

− Chứng đau thân thể không thể giải thích, những bệnh nhân già hơn bị trầm cảm có thể xuất hiện chứng đau thân thể mà không thể tìm thấy căn nguyên y học, hoặc là không tương xứng với mức độ của bệnh cơ thể.

− Tuyệt vọng: tuyệt vọng, đau buồn của bệnh nhân gắn liền với ý tưởng tự sát. Mặc dù những suy nghĩ về sự kết thúc của cuộc sống có thể phát triển bình thường ở người già, ý nghĩ tự sát có thể xuất hiện.

− Vô dụng: bệnh nhân cao tuổi luôn cảm thấy bất lực về cuộc sống và về mối quan tâm của họ về tương lai.

− Rối loạn trí nhớ: rối loạn trí nhớ có hoặc không có dấu hiệu khách quan của suy giảm nhận thức, nên nhắc nhở các bác sĩ lâm sàng để xác định sự hiện diện của thâm hụt bộ nhớ liên quan đến chứng mất trí tiềm ẩn hoặc sự hiện diện của bệnh mất trí phổ trầm cảm trước đây gọi là mất trí giả.

− Khó chịu: khó chịu có thể là một biểu hiện không điển hình của bệnh trầm cảm ở người già.

− Lo lắng: lo lắng và căng thẳng thần kinh (trái ngược với hội chứng lo lắng cụ thể như rối loạn hoảng loạn) là biểu hiện thường gặp của trầm cảm ở người già.

− Vận động chậm: những dấu hiệu không dùng lời nói như tư thế khom lưng, chuyển động chậm lại và nói có thể là dấu hiệu trầm cảm ngay cả trong trường hợp không có chậm phát triển tâm thần vận động đầy đủ.

− Các bệnh cơ thể gây trầm cảm:

   + Mất tinh thần: chứng mất trí, thuốc, lạm dụng rượu, xơ cứng động mạch não, nhồi máu não.

   + Nội tiết: bệnh Addison, nhược giáp, cường giáp, cường cận giáp, bệnh Cushing, đái tháo đường, hạ đường huyết.

   + Tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, đau họng, đột quỵ.

   + Hồi quy: rối loạn chuyển hóa pophyrin, viêm khớp dạng thấp, bệnh Huntington.

   + Rối loạn điện giải: tăng natri máu, tăng calci máu, giảm hoặc tăng kali máu.

   + Tổn thương chiếm chỗ: u sọ (ác tính hoặc lành tính) nguyên phát hoặc do di căn thứ phát, ung thư tụy, họng, ruột, ung thư vú, phụ khoa, dạ dày, u lympho.

   + Bệnh cơ thể: Lupus ban đỏ hệ thống.

   + Nhiễm khuẩn: viêm gan, viêm phổi do virus, hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS), giang mai, viêm động mạch thái dương.

2.3.2. Điều trị

Dùng thuốc chống trầm cảm kết hợp với liệu pháp tâm lý thường được tiến hành khi điều trị bệnh nhân trầm cảm. Ở bệnh nhân có loạn thần, thuốc an thần và liệu pháp sốc điện có thể giúp đạt được thuyên giảm bệnh.

a. Điều trị bằng thuốc

Khi thuốc chống trầm cảm được chỉ định ở những bệnh nhân lớn tuổi, các bác sĩ cần nhận thức được những thay đổi sinh lý xảy ra với quá trình lão hóa, bao gồm:

− Tỷ lệ trao đổi chất. Giảm ,đặc biệt là giảm chu kỳ bán thải của thuốc.

− Tăng mỡ máu, làm tăng phân phối các thuốc tâm thần trong mô mỡ.

− Giảm tốc độ lọc cầu thận, giảm bài tiết thuốc và các chất chuyển hóa của thuốc.

− Tăng độ nhậy của não bộ trước thuốc.

Bệnh nhân lớn tuổi thường đòi hỏi mức chuẩn độ kéo dài, do đó, liều bắt đầu thường là một nửa của người trẻ tuổi.

Thuốc ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRI) là sự lựa chọn đầu tiên để điều trị trầm cảm ở bệnh nhân cao tuổi. So với thuốc chống trầm 3 vòng (TCAs) thì phần lớn các thuốc SSRI dung nạp tốt hơn, ít gây ngủ hơn TCAs và có tác dụng phụ tối thiểu về nhận thức. Cả hai ưu điểm này làm cho các thuốc thích hợp với bệnh nhân cao tuổi.

b. Sốc điện (ECT)

 − Sốc điện là lựa chọn cho những bệnh nhân bị trầm cảm có biểu hiện loạn thần đã không đáp ứng với thuốc chống loạn thần và chống trầm cảm; các bệnh nhân trầm cảm không loạn thần không đáp ứng với ít nhất hai thuốc chống trầm cảm.  Chống chỉ định bao gồm: nhồi máu cơ tim gần đây, khối u não, phình mạch máu não, suy tim và không kiểm soát được.

c. Liệu pháp tâm lý xã hội

Liệu pháp tâm lý khác nhau được đề nghị cho bệnh nhân cao tuổi để can thiệp vào các sự kiện cuộc sống căng thẳng như xung đột gia đình và để giúp bệnh nhân tái lập mạng lưới hỗ trợ xã hội của họ bị mất. Liệu pháp nhận thức hành vi và tâm lý cá nhân đã được chứng minh là có hiệu quả trong trầm cảm, tâm lý hỗ trợ, giải quyết vấn đề điều trị kết hợp với biện pháp can thiệp xã hội và tinh thần nhằm ngăn chặn sự cô lập của bệnh nhân.

Thuốc có thể là nguyên nhân gây suy giảm nhận thức hành vi và các vấn đề về hành vi.

2.4. Các rối loạn liên quan tới các thuốc hướng thần

− Hội chứng an thần kinh ác tính (NMS): NMS là một phản ứng mang đặc điểm riêng mà có đặc điểm là do một phong tỏa cấp tính của dopamin. Khởi đầu tương đối đột ngột, từ vài giờ đến vài ngày.

Yếu tố nguy cơ cho NMS bao gồm: nam giới, tăng nhiệt độ môi trường, gần đây sử dụng thuốc chống loạn thần hoặc tăng liều thuốc an thần, sử dụng đồng thời thuốc chống loạn thần và lithium, bệnh nhân mất nước, có bệnh cơ thể hoặc bệnh thần kinh từ trước.

− Chẩn đoán dấu hiệu rối loạn tâm thần và triệu chứng cơ thể bao gồm:

+ Các dấu hiệu sống bất thường: sốt, huyết áp không ổn định, ra nhiều mồ hôi, khó nuốt, căng cứng cơ, thay đổi trạng thái tinh thần, mê sảng.

+ Cận lâm sàng: tăng bạch cầu (WBC), tăng phosphokinase creatinin, tăng men gan và lactat dehydrogenase.

+ Tỷ lệ tử vong đã được báo cáo là 5% đến 20 % và thường là kết quả của hoại tử cơ vân (suy thận cấp) hoặc huyết khối (thuyên tắc phổi).

− Chẩn đoán phân biệt NMS: phân biệt với chứng căng trương lực, tăng thân nhiệt, mất cảm giác gây ra; ngoài ra, cần phân biệt với hội chứng serotonin.

− Điều trị: điều trị hỗ trợ bao gồm bổ sung nước, giảm nhiệt độ và theo dõi tình trạng hô hấp. Bất kỳ thuốc chống loạn thần và thuốc chẹn dopaminergic khác cũng cần dừng ngay lập tức, yêu cầu chuyển bệnh nhân đến đơn vị hồi sức tích cực ngay lập tức. Điều trị y tế bao gồm dantrolen đường tĩnh mạch, với tỷ lệ 2 – 3mg/kg/ngày x 3 – 4 lần mỗi ngày. Các tác dụng phụ bao gồm.  nhiễm độc gan, buồn ngủ, chóng mặt, suy nhược và tiêu chảy.

Một loại thuốc có thể được dùng thay thế là bromocriptin, 5mg x 4 lần mỗi ngày, có thể được tăng lên đến 40mg/ngày nếu cần thiết. Cũng có thể bắt đầu cả hai thuốc cùng một lúc. Một loại khác là amantadin, uống 100mg x 2 lần mỗi ngày. Ngoài ra, một số loại thuốc khác có thể được sử dụng bao gồm levodopa, pergolid và các benzodiazepin. Tuy nhiên, ECT là một lựa chọn nếu các triệu chứng vẫn chưa được giải quyết sau khi dùng thuốc. 

 

BỆNH NHÂN NGHIỆN RƯỢU VÀ CÁC CẤP CỨU LIÊN QUAN

BỆNH NHÂN NGHIỆN RƯỢU VÀ CÁC CẤP CỨU LIÊN QUAN

Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

MỞ ĐẦU

Ngày trước, các bệnh nhân phải nhập viện vì các bệnh nội, ngoại khoa, chúng ta phải cảnh giác với hội chứng cai rượu. Với các bệnh cơ thể không rõ về tình trạng nghiện rượu có thể khiến họ tăng nguy cơ sảng rượu.

Nguyên nhân đột quỵ não do sử dụng cocaine

Say cocain và chất kích thích có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng đối với bệnh nhân nghiện rượu.

Tỷ lệ mắc do lạm dụng rượu và các chất ở Việt Nam khá cao, theo Hội Tâm thần học Việt Nam, tỷ lệ lạm dụng rượu là 5,3% dân số. Lạm dụng rượu và các chất có thể gây ra bệnh lý tâm thần chủ yếu, thường thuyên giảm khi bệnh nhân lạm dụng và nghiện vượt qua được nhờ điều trị.

Việc xét nghiệm nước tiểu giúp phát hiện nghiện chất gây nghiện được khuyến cáo nên là xét nghiệm thường quy cho những bệnh nhân có những hành vi bất thường. Hầu như nó làm tăng gấp đôi tỷ lệ phát hiện lạm dụng chất so với độ tin cậy khi chỉ dựa vào hỏi bệnh sử.

Rượu là thứ nguy hiểm nhất của lạm dụng chất. Những nghiên cứu quốc gia chỉ ra rằng lạm dụng và nghiện rượu chiếm số lượng lớn trong các trường hợp phải vào khoa hồi sức. Những vụ nổ súng, đâm chém, xâm hại tình dục và những sang chấn khác nữa thường là do trước đó có sử dụng rượu (và/hoặc bia).

Rượu còn độc cho cơ thể là gây tổn thương nhiều cơ quan và gây ra nhiều bệnh tật, gồm có viêm dạ dày, thiếu máu, mất trí, các hội chứng quên, hội chứng Wernick, viêm tụy, ung thư đường tiêu hóa, viêm gan, xơ gan và bệnh cơ tim… Một nhà lâm sàng nhậy bén sẽ nhận ra những hậu quả cơ bản liên quan tới rượu và có thể tham khảo bác sĩ tâm thần để nhận được sự hỗ trợ trong việc can thiệp điều trị. Sự đánh giá của khoa cấp cứu cung cấp một cơ hội lớn để cấp cứu và điều trị kịp thời ở những trường hợp này.

CÁC CẤP CỨU LIÊN QUAN ĐẾN RƯỢU

Ở Việt Nam có khoảng 4% dân số nghiện rượu. Ở Mỹ, 30% – 45% người trưởng thành có ít nhất một lần gặp rắc rối do sử dụng rượu. Khoảng 10% nữ giới và 20% nam giới trong dân số nước này lạm dụng rượu trong suốt cuộc đời họ và 3% – 5% nữ giới và 10% nam giới nghiện rượu.

4% dân số Việt Nam nghiện rượu

1.  Đánh giá lâm sàng

Điều quan trọng là phải tập hợp nhiều nguồn thông tin có sẵn về mức độ sử dụng rượu của bệnh nhân và hoàn cảnh phải vào khoa cấp cứu. Chú ý thêm những biểu hiện gần đây về việc tự sát, tỷ lệ tự sát cao ở những bệnh nhân có dấu hiệu của trầm cảm và sự tuyệt vọng.

Bệnh nhân nghiện rượu thường có cảm giác tội lỗi sâu sắc về vấn đề của họ và có thể tự nhiên lo lắng. Tiếp cận những bệnh nhân này với sự tôn trọng và cố gắng làm cho họ dễ chịu, biểu lộ một thái độ không phán xét bằng cả lời nói và các cử chỉ phi ngôn ngữ.

Hỏi bệnh nhân nếu họ có những đau đớn cơ thể và nếu họ có bất kỳ nỗi lo lắng đặc biệt nào mà họ muốn giải tỏa (như là sự an toàn của những hành khách khác trên chiếc xe có thể bị đổ, những hành vi phạm luật và/hoặc bạo lực họ đã phạm phải trong suốt thời kỳ dài mà họ không thể hồi tưởng).

Bạn đang phân vân khi tìm chuyên gia tư vấn tâm lý?

Khi khám bệnh nhân là để họ tự kể về bệnh sử mà không bị ngắt quãng nếu có thể. Cách tiếp cận mở này ta có thể thu nhiều dữ liệu.

Nếu bệnh nhân thờ ơ hoặc có vẻ trong tình trạng mê sảng, vấn đề sống còn là lập tức xác định nồng độ cồn và định lượng nồng độ đường máu ở ngón tay. Để tránh tiến triển của hội chứng Wernick (như mất điều hòa, liệt vận nhãn, mất định hướng, liệt nhẹ cơ thẳng bụng), nên chỉ định tiêm bắp hoặc đường tĩnh mạch vitamin B1 100mg trước khi truyền dịch hoặc cho ăn thức ăn giàu năng lượng.

Trong suốt vài phút đầu hỏi bệnh, chú ý sự có mặt của các dấu hiệu gợi ý ở vòng cổ tay, mắt cá, hoặc cổ. Nếu bệnh nhân thức tỉnh và định hướng được nhưng biểu lộ rõ các dấu hiệu của hội chứng cai như run và tăng nhịp tim, tiêm bắp, tĩnh mạch, hoặc uống benzodiazepin trước khi tiến hành hỏi bệnh thêm, điều này có thể tốn thêm chút ít thời gian.

Xác định xem lần uống rượu gần đây nhất là khi nào và kiểm tra xem các xét nghiệm gần đây đã được làm hay chưa. Nếu cần, chỉ định định lượng mức độ cồn trong máu, xét nghiệm ma túy trong nước tiểu, xét nghiệm sinh hóa, tổng phân tích máu, xét nghiệm chức năng gan, thời gian PT và PTT. 

Đây cũng là thời điểm tốt để xem xét lại tiền sử và xác định xem liệu bệnh nhân có dùng ma túy đường phố và/hoặc các thuốc được kê đơn mà chúng có thể có một ảnh hưởng trên tình trạng sức khỏe của họ. Ví dụ tăng huyết áp và tăng nhịp tim có thể do hội chứng cai nhưng nó cũng có thể là do sự trở lại của việc quên liều clonidin hoặc chẹn beta đang dùng. Tiền sử sảng rượu là một yếu tố nguy cơ trong sự tái diễn tình trạng nguy hiểm này.

Khi tiến hành kiểm tra trạng thái tâm thần, tìm biểu hiện của trầm cảm, ảo giác, hoang tưởng, vấn đề về trí nhớ, vấn đề về nhận thức cụ thể. Tuy nhiên, các test về nhận thức, trí nhớ có thể bị ảnh hưởng bởi lo lắng liên quan đến hội chứng cai và hoàn cảnh bắt buộc phải đến khoa cấp cứu.

Nếu bệnh nhân trầm cảm, hãy hỏi về ý tưởng tự sát hoặc ý định giết người và bất kỳ kế hoạch đặc biệt nào cho những hành động này.

2. Khám cơ thể

Có thực tế rằng các biến chứng như sảng run hầu hết phát triển ở những người nghiện rượu mà bị thiểu dưỡng, bị các bệnh nhiễm trùng (như viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu), mất nước, hoặc các triệu chứng cơ thể không kiểm soát được bởi các rối loạn chức năng do nghiện rượu gây ra.

Bệnh do nghiện rượu

Tiến hành khám toàn diện như các mô tả trên. Kiểm tra các vết bầm, chấn thương sọ não kín (sưng, bầm trong các giai đoạn khác nhau trên cẳng tay, đầu gối, cẳng chân, đầu thường gặp trong bệnh nhân nghiện rượu), gãy xương sườn, tìm kiếm các bằng chứng của thiểu dưỡng, xuất huyết dưới da và ngoài màng cứng, HIV, bệnh lây truyền qua đường tình dục. Các rối loạn điện giải như giảm kali, natri, magiê, tăng nồng độ enzym gan, xơ gan, tràn dịch ổ bụng có thể được chú ý. Bệnh cơ tim, yếu sinh lý, phì đại tuyến vú có thể được ghi nhận ở những giai đoạn sau của nghiện rượu.

Sao mạch (giãn các mao mạch và các tĩnh mạch ngoại biên) có thể ở mũi, má và bụng. Bàn tay son, đôi khi gàu dai dẳng có thể được thấy ở da đầu, cũng như vùng lông mày và râu.

3. Các thông số xét nghiệm

Các thông số xét nghiệm có thể đưa ra các manh mối của lạm dụng rượu, tăng thể tích trung bình hồng cầu (MCV), thiếu máu, giảm B12, acid folic, tăng enzym gan GGT, AST, ALT, kéo dài PT, PTT, giảm albumin máu và K+, Na+, Mg++

Các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng cai:

– Run xuất hiện trong 6 đến 8 giờ sau khi giảm đáng kể lượng rượu uống vào, có thể có ảo thị, cơn co giật sau 12 đến 24 giờ tiếp theo hội chứng cai.

– Các triệu chứng khác bao gồm buồn nôn, nôn, tăng kích thích, mất ngủ, dễ hốt hoảng và nhậy cảm với ánh sáng và tiếng ồn,  kích thích thần kinh tự chủ như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, vã mồ hôi.

3.1 Điều trị nghiện rượu

Giai đoạn cai

Thực hiện khám toàn diện (như đã mô tả trên), xác định và điều trị bất kỳ vấn đề sức khoẻ bất thường nào.

Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn mỗi 4 giờ trong 48 giờ đầu trong khi bệnh nhân còn tỉnh táo, nếu tình trạng bệnh nhân ổn định thì tần số theo dõi giảm xuống 3 lần/ngày trong 2 – 3 ngày tiếp theo.

Hội chứng cai rượu là gì? Dấu hiệu nhận biết và điều trị - Tạp chí Tâm lý học Việt Nam

Các benzodiazepin được ưu tiên để xử trí hội chứng cai. Bất kỳ chế phẩm nào đều có thể được sử dụng nhưng sinh khả dụng của chúng khác nhau. Một sự lựa chọn tin cậy là temazepam (restoril), uống 30mg mỗi 6 giờ trong 24 giờ, sau đó uống 30mg mỗi 8 giờ trong 24 giờ, những ngày tiếp theo giảm dần 30mg, sau đó 30mg uống/ngày trong những ngày cuối. Lợi ích của các chế phẩm như lorazepam, temazepam và oxazepam là chúng làm giảm gánh nặng chuyển hóa của gan hơn so với các các benzodiazepin khác bởi chúng chỉ kết hợp trước khi đào thải khỏi cơ thể. Do đó chúng cũng thường được ưu tiên hơn ở những trường hợp có dấu hiệu bệnh lý gan. Ở khoa chăm sóc đặc biệt, nơi uống thuốc là không thể, tiêm tĩnh mạch diazepam và lorazepam thuận lợi hơn. Mất nước có thể được điều trị bằng cho uống hoặc truyền dịch. Chỉ định vitamin B1 ngoài đường ruột, nếu có thể. Nếu nồng độ magiê thấp, khuyến cáo bổ sung magiê.

Giai đoạn phục hồi lâu dài và kiêng rượu

Thành công phụ thuộc vào động cơ thúc đẩy của cá nhân để ngừng uống rượu. Đó là một điểm của nhận thức bản năng, khi mà họ nhận ra rằng rượu nguy hại đối với họ và họ cần tránh xa nó và giữ khoảng cách với những người mời hay thuyết phục họ uống rượu.

Thuốc chống tái nghiện

Thuốc dự phòng disulfiram (antabuse) có thể có hiệu quả thúc đẩy bệnh nhân và sử dụng sáng tạo trong những tình huống có nguy cơ cao để chống tái nghiện. Liều thường dùng là 250mg/ngày. Bệnh nhân phải được cảnh báo về các tương tác của nó với rượu và chức năng gan phải được theo dõi. Acamprosat (campral) và naltrexon có thành công vừa phải trong chống tái nghiện ở những bệnh nhân nghiện rượu.

SAY RƯỢU

1. Khái niệm

Nồng độ rượu trong máu thông thường khi say là 0,08 – 0,1g/100ml. Khả năng phối hợp vận động và ra quyết định sẽ giảm dần tương ứng với tăng nồng độ cồn trong máu.

– Nồng độ 0,01 – 0,05g/100ml: hành vi bình thường, hưng phấn nhẹ.

– Nồng độ 0,08 – 0,10g/100ml: chính thức say, nói quá nhiều, kéo dài thời gian phản ứng, mất phối hợp

– Nồng độ 0,18 – 0,30g/100ml: giảm thị trường, mất điều hòa, nói lè nhè, mất định hướng, chóng mặt, mất phối hợp nặng.

– Nồng độ 0,35 – 0,50g/100ml: tăng an dịu và thờ ơ, giảm phản xạ, mất kiểm soát, nguy cơ đáng kể của tử vong ở những người mới biết uống rượu với nồng độ lớn hơn nhiều 0,40g/100ml.Sảng rượu: Căn bệnh nguy hiểm | Vinmec

Người say rượu có thể nói quá nhiều, hung hãn, thù địch, hoặc kích động.

Ở mức cao hơn, khi phối hợp vận động giảm và hiệu quả an dịu tăng lên, người đó có nguy cơ bị ngã. Ở liều chết 50% (LD50 – lethal dose) nồng độ rượu trong máu lên tới 0,40 sẽ là nguy cơ của hôn mê, ức chế hô hấp và tăng tử vong. Người nghiện rượu mãn tính có thể có mức chịu đựng cao hơn so với những trường hợp mới biết uống rượu. Điều này quan trọng, do đó, phải thu thập bệnh sử bổ sung nếu bệnh nhân không thể tự mình cung cấp.

2. Các xét nghiệm

Ngoài mức độ cồn cao, có thể một xét nghiệm khác của lạm dụng như là tăng enzym gan, thiếu máu và rối loạn điện giải: tăng enzym gan (ALT, AST, GGT), giảm số lượng tiểu cầu, tăng MCV, giảm vitamin B12, vitamin B1, acid folic và các vi chất khác, giảm nồng độ carbonhydrat và protein chứa sắt (transferrin).

Biến chứng

Biến chứng nghiêm trọng nhất của say rượu bao gồm: ngừng hô hấp và trụy tim mạch; viêm phổi hít, viêm dạ dày và tổn thương do ngã hoặc hành vi kích động cũng dẫn tới tổn thương cơ thể và bệnh tật.

Điều trị

Ngộ độc rượu cấp là một cấp cứu và đòi hỏi phải được điều trị trong khoa hồi sức cấp cứu nếu bệnh nhân có các dấu hiệu giảm thức tỉnh và ức chế hô hấp. Flumazenil không làm đảo ngược tình trạng ngộ độc nhưng có thể làm đảo ngược hiệu quả của bất kỳ benzodiazepin nào mà bệnh nhân đã uống.

Theo dõi sát và hỗ trợ hô hấp, bảo vệ đường thở khỏi các chất hít vào phải được đảm bảo. Để làm giảm mức độ trầm trọng của ngộ độc, bệnh nhân cần được đặt ở phòng yên tĩnh cho tỉnh rượu trong khi theo dõi sự xuất hiện của các triệu chứng cai

SẢNG RUN (SẢNG DO CAI RƯỢU)

– Đánh giá sớm tình trạng cai rượu và điều trị là con đường tốt nhất để phòng chống sảng run. Nếu bệnh nhân bắt đầu có ảo giác và mất định hướng, khởi phát của sảng run sắp xảy ra. Nó thường đánh dấu bằng cơn co giật toàn thể, tăng rung giật cơ. Tiêm bắp lorazepam hoặc diazepam có thể được chỉ định để kiểm soát co giật. Liều cao hơn nhiều của benzodiazepin có thể cần kéo dài trong 7 – 10 ngày trong một chế độ hộ lý sát sao, tránh các kích thích thính giác và thị giác quá mức cho bệnh nhân. Trong suốt thời gian này cần tăng tần suất theo dõi các dấu hiệu sinh tồn.

– Các nguyên nhân khác của co giật nên được loại trừ ngay cả khi co giật xảy ra trong bối cảnh hội chứng cai rượu.

– Sảng run không được điều trị sẽ dẫn đến tử vong; tỷ lệ tử vong khoảng 15% và là một tiến triển đáng ngại, do vậy, đòi hỏi phải đưa bệnh nhân đến khoa hồi sức cấp cứu để kiểm soát tối ưu. Nó là một cấp cứu nghiêm trọng nhất liên quan tới bệnh nhân nghiện rượu.

– Hội chứng cai rượu với mức độ nghiêm trọng, rối loạn ý thức nặng, mất ngủ hoàn toàn, hoang tưởng, ảo giác rầm rộ, co giật kiểu động kinh, rối loạn thần kinh thực vật nặng, các triệu chứng bệnh cơ thể kèm theo…  được gọi là mê sảng do cai rượu. Rối loạn này có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và nhanh chóng xử lý.

Xu hướng của các bác sĩ tại khoa cấp cứu là đưa bệnh nhân vào khoa tâm thần trước khi xử trí tình trạng toàn thân của họ, đây là một sai lầm nghiêm trọng trong đánh giá lâm sàng. Ngay cả trong trường hợp độ cồn trong máu không đo lường được, tình trạng bệnh lý cơ thể không được điều trị có thể dẫn đến tử vong.

– Điều trị sảng rượu tại khoa cấp cứu:

– Liệu pháp hỗ trợ là một thành phần quan trọng trong việc điều trị mê sảng do nghiện rượu nặng. Liệu pháp này bao gồm:

+ Môi trường điều trị: sự yên tĩnh, đủ ánh sáng…

+ Bảo đảm cấp cứu chung.

+ Thuốc bình thần benzodiazepin là vô cùng cần thiết.

+ Đánh giá và điều chỉnh liên tục tình trạng mất cân bằng nước và điện giải.

+ Truyền tĩnh mạch dung dịch muối đẳng trương hoặc ringerlactat.

+ Theo dõi tim mạch, thở oxy.

+ Kiểm tra glucose máu.

+ Vitamin nhóm B liều cao, đặc biệt vitamin B1.

Thông thường, những bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý, tình trạng tâm thần như vậy cần liên tục theo dõi, chăm sóc, như là đánh giá tình trạng khẩn cấp và điều trị các biến chứng do rượu.

BỆNH NÃO WERNICKE

– Bệnh não Wernicke là một rối loạn khởi phát cấp tính, chủ yếu do thiếu vitamin B1. Nó thường được phát hiện ở những bệnh nhân nghiện rượu, mặc dù nó không bị giới hạn ở nguyên nhân này. Cạn kiệt vitamin B1 có thể xảy ra trong những tình trạng ít phổ biến khác, bao gồm việc bị ép buộc hoặc tự nhịn đói, suy dinh dưỡng do chế độ ăn uống không đầy đủ hoặc kém hấp thu, những tình trạng liên quan đến hiện tượng nôn mửa kéo dài, suy thận mạn tính.

– Bệnh nhân mắc bệnh não Wernicke có ba đặc điểm lâm sàng bất thường ở mắt, trạng thái lú lẫn hoàn toàn và mất điều hòa; nhưng chỉ một phần ba số bệnh nhân mắc bệnh não Wernicke cấp tính có biểu hiện ba đặc điểm lâm sàng này.

Bệnh não Wernicke là gì? Những điều cần biết về bệnh não Wernicke là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

+ Sự bất thường ở mắt được biểu hiện: rung giật nhãn cầu theo chiều ngang và tê liệt các cơ. Cần lưu ý những bất thường dù ít xảy ra như phản xạ giác mạc chậm, sa mi mắt, đồng tử không đều. 

+ Tình trạng lú lẫn được đặc trưng bởi:

  • Lãnh cảm.
  • Nhận thức kém đối với các tình huống xảy ra ngay lập tức.
  • Mất định hướng về không gian.
  • Giảm chú ý, không có khả năng tập trung.

+ Mất điều hòa, mất cân bằng có thể được nhận thấy trong giai đoạn đầu của bệnh này và là do rối loạn tiền đình; mất điều hòa trên diện rộng cũng được nhận thấy trong các giai đoạn bán cấp và mạn tính của bệnh là do rối loạn chức năng tiểu não, có thể một mình hoặc kết hợp với rối loạn tiền đình.

– Những đặc điểm có liên quan khác như giảm thân nhiệt, hạ huyết áp… có thể được thêm vào ba đặc điểm trên và được cho là kết quả từ sự tham gia của vùng dưới đồi. Sự kích động, gây gổ, ảo giác, và những dấu hiệu tăng động thái quá cũng được xem xét.

– Việc chẩn đoán bệnh não Wernicke cần phân biệt bệnh não Wernicke từ hiện tượng mê sảng cấp tính thứ phát do thiếu oxy, tăng CO2 và nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương. Dáng đi mất cân bằng có thể do nhồi máu tiểu não, rối loạn thị giác cũng thể do viêm mạch máu hoặc nhồi máu. Các bác sĩ cũng cần phải lưu ý rằng mặc dù tình trạng hôn mê tương đối hiếm, nhưng chúng có thể là biểu hiện duy nhất của bệnh não Wernicke và có thể gây tử vong nếu không được điều trị.

– Điều trị tại khoa cấp cứu: do bản chất và biểu hiện lâm sàng của bệnh não Wernicke và những khó khăn trong việc đưa ra chẩn đoán lâm sàng, quá trình điều trị cần được tiến hành với tất cả các bệnh nhân, những người phụ thuộc vào rượu và những người có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao:

– Tiêm bắp vitamin B1 50 – 100mg. Sau lần tiêm đầu tiên, liều vitamin B1 hàng ngày là 50 – 100mg, tiêm bắp hoặc uống phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân.

+ Bổ sung điện giải, đặc biệt là magiê và kali nếu cần thiết.

+ Bổ sung vitamin tổng hợp nếu bệnh nhân bị suy dinh dưỡng mạn tính.

+ Cần lưu ý rằng việc truyền glucose cho bệnh nhân bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng có thể làm cạn kiệt nguồn vitamin B1 và có thể gây ra bệnh não Wernicke. Do vậy, bổ sung vitamin B1 nên được bắt đầu trước khi cho truyền glucose.

+ Chế độ ăn uống cân bằng nên được thực hiện càng sớm càng tốt. Bổ sung vitamin và điện giải cần được xem xét cùng với chế độ ăn cân bằng ban đầu; việc bổ sung có thể giảm dần nếu bệnh nhân tiếp tục uống bình thường và cải thiện các triệu chứng.

Việc xuất hiện dáng đi bất thường đòi hỏi phải có trợ giúp trong suốt giai đoạn đầu điều trị. Bệnh nhân có thể cần vật lý trị liệu để được hỗ trợ đi lại. Dáng đi bất thường có thể là vĩnh viễn, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của những biểu hiện ban đầu và sự kịp thời của liệu pháp điều trị.

Vì việc sử dụng rượu lâu dài là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh não Wernicke, nên việc kiêng uống rượu sẽ mang lại kết quả điều trị tốt nhất.

HỘI CHỨNG KORSAKOFF

Nếu như việc suy giảm trí nhớ ở những bệnh nhân mắc bệnh não Wernicke thì tình trạng đó được gọi là hội chứng Wernicke – Korsakoff. Hội chứng này thường gặp sau giai đoạn cấp của bệnh não Wernicke, xuất hiện sau khi tình trạng lú lẫn bắt đầu.  

Tại sao sau khi say rượu bạn thường không nhớ chuyện gì xảy ra? - VnExpress Sức khỏe

Các bệnh nhân thường biểu hiện các đặc điểm mất trí nhớ ở cả trước và sau tình trạng mất trí.

Sự mất trí nhớ giai đoạn đầu là nghiêm trọng nhưng không đầy đủ, các bệnh nhân có thể nhắc lại một loạt các con số hoặc sự việc.

Điều trị: như trường hợp của bệnh não Wernicke, điều trị hội chứng Korsakoff đòi hỏi phải bổ sung vitamin B1. Bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ phải có giám hộ hoặc chăm sóc vĩnh viễn.

RƯỢU GÂY RA RỐI LOẠN TÂM THẦN

Rối loạn tâm thần do rượu là một loại rối loạn tâm thần có biểu hiện ảo giác hoặc hoang tưởng, xảy ra trong những trường hợp uống nhiều rượu, trong đó có ngộ độc cấp tính và thường là một dấu hiệu cho thấy việc uống rượu kéo dài. Ảo giác thường là ảo giác thính giác, ảo giác thị giác và xúc giác cũng có thể xảy ra. Các triệu chứng tâm thần xuất hiện cùng với sự khởi đầu sử dụng rượu. Các triệu chứng kéo dài trong thời gian đủ dài (ví dụ 1 tháng) sau khi ngừng sử dụng. Rối loạn tâm thần không hoàn toàn xảy ra trong quá trình mê sảng, vì vậy cần phân biệt với hội chứng cai rượu nặng được gọi là chứng mê sảng.

– Điều trị: phần lớn các trường hợp rối loạn tâm thần do rượu thì kiêng rượu là biện pháp giải quyết tốt nhất. Sau khi ổn định bệnh lý, tiến hành đánh giá về đường hô hấp và hệ thần kinh, rối loạn tâm thần do rượu phải được điều trị trước tiên với việc sử dụng thận trọng benzodiazepin như:

+ Lorazepam, 1 – 2mg, uống thuốc viên hoặc dung dịch hoặc tiêm bắp.

+ Benzodiazepin 25 – 50mg uống thuốc viên hoặc tiêm bắp. Trong trường hợp rối loạn tâm thần lâu dài hoặc nếu bệnh nhân có nguy cơ gây ra tổn hại đến bản thân hoặc người khác, việc sử dụng thuốc chống loạn thần cao nên được xem xét (như haloperidol 5 – 10mg uống hoặc tiêm bắp, olanzapin 2,5 – 10mg uống hoặc tiêm bắp, ziprasidon 10 – 20mg tiêm bắp).

– Thuốc chống loạn thần có thể làm giảm ngưỡng co giật và không nên sử dụng để điều trị các triệu chứng cai rượu trừ khi thật sự cần thiết và sử dụng kết hợp với  benzodiazepin.

Điều trị loạn thần do rượu bao gồm: vitamin B1 100mg tiêm, sau đó tiếp tục bổ sung vitamin B1 100mg x 3 lần trong ngày, acid folic x 1mg và vitamin tổng hợp hàng ngày.

Cố định tay và chân có thể sẽ cần thiết nếu có sự nguy hiểm do bệnh nhân tấn công người khác hoặc tự hại mình.

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN KHÁC DO RƯỢU

Rượu gây ra tình trạng lo lắng hoặc rối loạn giấc ngủ thường được xem xét riêng biệt nếu như các triệu chứng quá nhiều và nghiêm trọng. Các bác sĩ ở khoa cấp cứu cần nhận thức rằng hơn 50% số bệnh nhân bị rối loạn tâm thần do rượu cần phải quản lý từ 2 – 4 tuần để kiêng rượu mà không có sự can thiệp nào khác đến những rối loạn này.

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

RỐI LOẠN DẠNG CƠ THỂ

RỐI LOẠN DẠNG CƠ THỂ

                   Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

KHÁI NIỆM

Điều trị bệnh nhân rối loạn dạng cơ thể mạn tính thường chiếm chi phí khá lớn của các dịch vụ y tế, bởi vì để có kết quả chính xác, chúng ta sẽ phải làm nhiều xét nghiệm. Khó khăn lớn nhất đối với bác sĩ là phải chẩn đoán bệnh cho những người nghi ngờ bị rối loạn dạng cơ thể, bởi vì chẩn đoán chính xác và việc quyết định điều trị rất khó, đặc biệt là việc loại trừ những bệnh nguy hiểm tiềm tàng. Cần có thêm thông tin từ người thân và bác sĩ của bệnh nhân để có bệnh sử đầy đủ, từ đó cung cấp đủ dữ kiện phục vụ cho quá trình chẩn đoán cho bác sĩ khám bệnh. Về quản lý, nên nhấn mạnh về việc điều trị các rối loạn tâm thần kết hợp như rối loạn lo âu và rối loạn trầm cảm.

Rối loạn dạng cơ thể cần được chẩn đoán phân biệt với rối loạn giả tạo (factitious disorder) và giả bệnh. Đồng thời, mọi người cần cảnh giác với các bệnh nhân thực sự có bệnh nội khoa.

RỐI LOẠN CƠ THỂ

Điểm đặc trưng của rối loạn cơ thể (còn gọi là hội chứng Briquet’s) là một bệnh tái diễn, mạn tính, có nhiều triệu chứng cơ thể mà thường không chẩn đoán nội khoa nào phù hợp. Nếu có liên quan đến bệnh nội khoa nào đó thì các triệu chứng cơ thể thường biểu hiện quá mức. Rối loạn cơ thể xuất hiện thường xuyên ở phụ nữ (0,2% – 2%) hơn là ở nam giới (0,2%).

Hậu Covid mệt mỏi, suy nhược cơ thể – Cách tự phục hồi tại nhà – Hội Thần Kinh Học Việt Nam

Rối loạn cơ thể thường xuất hiện trước tuổi 30

Biểu hiện lâm sàng

Cuộc sống của bệnh nhân bị đảo lộn, họ đi khám bệnh thường xuyên, bệnh sử mâu thuẫn, đưa ra những yêu cầu trái ngược và có thể nhận nhiều giúp đỡ do trình bày rất nhiều triệu chứng.

Tiền sử gia đình có thể có người bị rối loạn dạng cơ thể, nhân cách chống đối xã hội hoặc lạm dụng chất. Bệnh sử có thể có bệnh tâm thần kết hợp, bao gồm: rối loạn nhân cách, trầm cảm chủ yếu, rối loạn lo âu hoặc hoảng sợ và lạm dụng chất.

RỐI LOẠN PHÂN LY

Rối loạn phân ly liên quan đến những triệu chứng không rõ nguyên nhân, ảnh hưởng đến các hoạt động tự chủ hay chức năng cảm giác mà nó gợi ý đến một bệnh thần kinh hay bệnh nội khoa. Khởi phát của nó thường được bắt đầu bằng một sự kiện căng thẳng. Các triệu chứng thường không theo sơ đồ giải phẫu đã được biết đến mà nó dựa trên tưởng tượng của bệnh nhân về tình trạng bệnh của họ. Các triệu chứng thường gặp là mù, liệt và câm.

Rối loạn phân ly là một rối loạn phổ biến nhất trong các rối loạn dạng cơ thể, nó chiếm tỷ lệ khoảng 11 – 300/100.000 dân số nói chung. Bệnh xuất hiện ở nữ nhiều hơn nam.

Tổng quan về nhóm Rối loạn Phân ly (Dissociative Disorders) – Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Bệnh hiếm khi khởi phát trước 10 tuổi và sau 35 tuổi. Khi bệnh xuất hiện ở tuổi muộn hơn, khả năng bệnh nhân có một bệnh thần kinh hoặc nội khoa nào đó sẽ tăng lên. Những người trong tiền sử gia đình có người bị rối loạn phân ly có nguy cơ bị bệnh cao hơn.

Biểu hiện lâm sàng: Bệnh nhân có thể biểu hiện bất cứ triệu chứng nào trong số 4 triệu chứng: (1) hoạt động, (2) cảm giác, (3) co giật, hay (4) biểu diễn. Các triệu chứng này không do bệnh nhân cố ý tạo ra hay giả vờ.

RỐI LOẠN ĐAU (PAIN DISORDER)

Đặc điểm chính của rối loạn đau là bệnh nhân trình bày về trạng thái đau với cường độ nghiêm trọng đủ để nghĩ đến một bệnh nội khoa. Cơn đau có thể là trọng tâm chính trong cuộc sống của bệnh nhân, thường gây nên những bất hòa trong gia đình do những thay đổi trong lối sống. Suy giảm chức năng bao gồm không có khả năng làm việc hay học tập. Bệnh nhân có thể phụ thuộc thuốc do dùng thuốc giảm đau kéo dài. Yếu tố tâm lý được cho là có liên quan đến khởi phát, mức độ trầm trọng, sự tăng thêm, sự tái phát, thời gian của cơn đau.

Hiệu quả giảm đau của thuốc chống trầm cảm

Bệnh nhân có thể phụ thuộc thuốc do dùng thuốc giảm đau kéo dài.

DSM – IV – TR chia rối loạn đau thành 3 nhóm: Đau kết hợp với yếu tố tâm lý; Đau liên quan đến cả yếu tố tâm lý và nội khoa; Đau là một triệu chứng của một bệnh nội khoa (không được coi là một bệnh tâm thần).

Tỷ lệ bệnh không rõ ràng nhưng người ta ước tính rằng khoảng 10 – 15% người lớn bị đau lưng mạn tính, một biểu hiện phổ biến của rối loạn đau. Lứa tuổi cao nhất bị bệnh này là khoảng ngoài 40, 50 tuổi. Rối loạn này được cho là xảy ra thường xuyên hơn ở phụ nữ và tỷ lệ mắc cao hơn ở những người có thân nhân bậc 1 bị rối loạn đau.

Biểu hiện lâm sàng: Đau mạn tính có thể gây ra tình trạng trì trệ trong hoạt động, giảm sức chịu đựng của cơ thể, dẫn đến cách ly xã hội, do đó có thể dẫn đến các vấn đề tâm lý khác như lo âu, trầm cảm. Bệnh nhân có liên quan đến trầm cảm có nguy cơ cao tự sát. Do đó, trầm cảm và tự sát nên được đánh giá ở tất cả những bệnh nhân bị rối loạn đau.

CHỨNG NGHI BỆNH (HYPOCHONDRIASIS)

Ngay cả khi các kết quả kiểm tra nội khoa đều âm tính, bệnh nhân bị chứng nghi bệnh vẫn tiếp tục sợ hoặc tin rằng họ có một bệnh trầm trọng và không thể yên tâm về kết quả đó, kết quả là bệnh nhân suy nhược và lo lắng trầm trọng. Bệnh thường khởi phát khi tuổi còn nhỏ. Stress có thể khiến bệnh nặng hơn, chẳng hạn cái chết của người thân. Bệnh tiến triển mạn tính nhưng mức độ trầm trọng thì lúc tăng lúc giảm. Tỷ lệ bệnh thay đổi ở những nển văn hóa khác nhau.

Triệu chứng lâm sàng: Bệnh nhân thường trình bày với bác sĩ một bệnh sử chi tiết về các triệu chứng của họ. Họ đến khám bệnh vì họ lo sợ thông tin liên quan đến “bệnh” của họ hoặc vì gần đây họ biết rằng một người thân của họ mới chết vì bệnh tật. Họ có thể hiểu sai về chức năng bình thường của cơ thể (như nhu động ruột) hoặc cảm giác mơ hồ của cơ thể (như phân lỏng) là các triệu chứng về “bệnh” của họ (chẳng hạn như ung thư đường ruột). Mặc dù các kết quả kiểm tra khẳng định âm tính như nội soi, kiểm tra phân, CT.Scan vẫn không làm các bệnh nhân yên tâm hơn.

Hypochondria: Rối loạn lo âu bệnh là gì? - VnMedBook

Người bệnh có thể yêu cầu một chẩn đoán quá mức, do đó có thể dẫn đến tai biến điều trị, hoặc làm tình trạng tồi tệ hơn,

Mối quan hệ của họ với bác sĩ chính thường căng thẳng và gây thất vọng. Họ có thể yêu cầu một chẩn đoán quá mức, do đó có thể dẫn đến tai biến điều trị, hoặc làm tình trạng tồi tệ hơn, những cố gắng hết sức của bác sĩ cũng chỉ đóng vai trò hết sức mờ nhạt. Các mối quan hệ xã hội, nghề nghiệp của họ có thể bị căng thẳng do họ quá bận tâm đến “bệnh” của họ. Bệnh nhân bị hội chứng nghi bệnh có thể bị tàn phế.

RỐI LOẠN HÌNH DÁNG CƠ THỂ

Rối loạn hình dáng cơ thể (body dismorphic disorder – BDD) được đặc trưng bởi mối bận tâm ám ảnh vởi một khiếm khuyết tưởng tượng về ngoại hình hoặc mối bận tâm quá mức về một bất thường nhỏ của cơ thể. Tỷ lệ bệnh không rõ ràng. Đã có báo cáo rằng tỷ lệ phẫu thuật thẩm mĩ và can thiệp da liễu là 6 – 15%.

Bệnh có thể khởi phát từ tuổi thiếu niên hoặc thanh niên nhưng thường không được chẩn đoán cho đến khi họ ở độ tuổi 30. Không có sự khác biệt giới tính rõ ràng ở bệnh này.

Biểu hiện lâm sàng:  Vì người bệnh BDD cảm thấy xấu hổ về “sự dị dạng” (thực tế không phải vậy, đó chỉ do bệnh nhân cảm thấy) của họ, họ thường không trình bày với bác sĩ để điều trị thiếu sót này. Khi mà họ đến trình bày với bác sĩ để được điều trị, có thể bởi vì họ đã tự mình thực hiện nhiều cách để sửa chữa hay bù đắp “khiếm khuyết” của mình nhưng cảm thấy không hài lòng với kết quả.

Rối loạn dị hình cơ thể - Triệu chứng và nguyên nhân - Nhà thuốc FPT Long Châu

Việc đến gặp bác sĩ còn có thể do tự sát. Bệnh nhân thường sống cô lập và xa lánh xã hội, có thể dẫn đến trầm cảm và lo âu. Có thể bệnh nhân đã có tiền sử nhập viện nhiều lần do bệnh tâm thần phối hợp và ý tưởng tự sát, do đó, bắt buộc phải đánh giá tình trạng tâm thần để xác định ý tưởng tự sát và bệnh phối hợp, chẳng hạn như rối loạn trầm cảm chủ yếu.

RỐI LOẠN GIẢ TẠO VÀ GIẢ BỆNH
1. Rối loạn giả tạo

Rối loạn giả tạo (factitious disorder) là một bệnh tâm thần được đặc trưng bởi các triệu chứng về thể chất hoặc tâm thần được cố ý tạo ra, bao gồm: Bịa đặt ra các triệu chứng chủ quan và làm sai lệch các dấu hiệu khách quan; tự gây thương tích hoặc tự đầu độc chính mình hoặc phóng đại sự đau đớn đã có nhằm mục đích trở thành người bệnh hoặc để kéo dài thời gian nằm viện. Không có động cơ bên ngoài nào ngoài lý do đặc biệt là muốn đóng vai trò người bệnh. Thích nói ngoa, nói cường điệu. Bệnh nhân thường giải thích một cách không tưởng về một quá khứ khác thường hoặc những triệu chứng cơ thể nhằm làm người nghe phải kinh ngạc (chẳng hạn, bệnh nhân mô tả một vết sẹo bình thường có từ hồi nhỏ như một vết thương chiến tranh). Hội chứng Munchausen là một thể nặng của bệnh này.  Rối loạn giả tạo phổ biến hơn ở nam giới và ở nhân viên y tế, nhưng tỷ lệ mắc bệnh không rõ ràng.

Factitious Disorder vs. Malingering | Charlie Health

Biểu hiện lâm sàng: Bệnh nhân rối loạn giả tạo thường có IQ trung bình hoặc trên trung bình. Các triệu chứng cơ thể được họ cố ý tạo ra nhưng mục đích là vô ý (chẳng hạn, bệnh nhân làm bộ bị ốm để được chăm sóc và điều trị). Trong tiền sử họ có thể đã khám bệnh ở nhiều bác sĩ và nằm trong nhiều bệnh viện khác nhau; họ thậm chí đã thay đổi tên để tiếp tục đóng vai trò bệnh nhân và được điều trị. Trong khi nằm viện, họ phải chịu rất nhiều quá trình và kiểm tra. Họ có thể khăng khăng đòi điều trị bằng phẫu thuật, thuốc giảm đau và thuốc ngủ. Họ có thể cáo buộc bác sĩ thiếu trình độ và đe dọa kiện cáo. Họ có thể yêu cầu được làm trái với tư vấn y tế khi họ nghi ngờ nhân viên y tế chống đối họ. Quá trình đó lặp đi lặp lại ở các bệnh viện khác.

2. Hội chứng Munchausen do ủy quyền

Đây là một dạng của rối loạn giả tạo mà một cá nhân (thường là mẹ hoặc người chăm sóc) khiến cho người khác (thường là một nạn nhân vô tình – chẳng hạn như đứa trẻ) ốm để tiếp tục đóng vai trò người bệnh được ủy quyền.

Chế Độ Con Bệnh Cha Mẹ Nghỉ Việc Hưởng Bảo Hiểm Xã Hội Mới Nhất – VinaTrain Việt NamNhững cá nhân như vậy quá che chở cho người thân của họ và lo lắng rằng người đó sẽ tử vong, nhưng họ lại thường được người khác khen ngợi về sự quan tâm chăm sóc chu đáo chứ không nghĩ rằng đó là triệu chứng của rối loạn này.

3. Giả bệnh

Giả bệnh (malingering) là cố ý tạo ra các triệu chứng cơ thể hay tâm thần nhằm đạt được một lợi ích nào đó (như tránh né trách nhiệm, sự trừng phạt, hoặc những tình huống hay kết quả khó chịu hoặc để được nhận bồi thường). Tỷ lệ bệnh không rõ ràng nhưng giả bệnh thường xuất hiện nhiều trong hoàn cảnh có nhiều đàn ông tụ tập (chẳng hạn như trong quân đội và trong tù).

Biểu hiện lâm sàng: Người giả bệnh thường mơ hồ về triệu chứng của họ nhưng hay phóng đại mức độ nghiêm trọng. Nói chung, có sự khác biệt đáng kể giữa biểu hiện khách quan với những than phiền chủ quan của bệnh nhân. Người nghiện ma túy có thể giả bệnh để có được chỗ ngủ ấm áp và được uống thuốc. Giả bệnh cũng hay gặp ở bệnh nhân rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Giả bệnh sẽ hết khi đối tượng đạt được mục tiêu.

4. Hội chứng Ganser (giả bệnh tâm thần để trục lợi)

Hội chứng Ganser (còn được gọi là rối loạn tâm thần nhà tù (prison psychosis) vì nó được quan sát lần đầu ở tù nhân) là một loại của giả bệnh được đặc trưng bởi một vài hành vi giống với những hành vi của bệnh nhân tâm thần nặng, diễn ra trong một thời gian ngắn. Triệu chứng kinh điển là đối tượng đưa ra những câu trả lời vô lý cho những câu hỏi đơn giản (chẳng hạn 2 + 2 = 5). Có một số dấu hiệu chỉ ra rằng hội chứng Gansers là một biến thể của giả bệnh.

Hội chứng Ganser là gì? Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị - Nhà thuốc FPT Long Châu

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147

CẤP CỨU CÁC RỐI LOẠN LO ÂU CẤP TÍNH

CẤP CỨU CÁC RỐI LOẠN LO ÂU CẤP TÍNH

 Bài viết được biên soạn bởi GS.TS.BS Cao cấp Cao Tiến Đức

1. KHÁI NIỆM LO ÂU

Lo âu là trạng thái bệnh nhân đến phòng khám trong tâm trạng lo lắng hoặc hoảng loạn và phàn nàn rằng họ bị một bệnh trầm trọng đe dọa đến tính mạng. Khi được bác sĩ trấn an và đảm bảo thì sự lo âu sẽ giảm. Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn lo âu, trước tiên phải loại trừ nguyên nhân do bệnh nội khoa. Cần nhấn mạnh việc phải điều trị lâu dài cho người bệnh.

Lo âu biểu hiện bằng sự đau buồn hoặc một trạng thái gây nên bởi nỗi sợ nguy hiểm hoặc rủi ro. Trong tâm thần học: lo âu là trạng thái lo sợ và căng thẳng tâm lý, xuất hiện trong một số dạng suy nhược tâm thần. Khi bị bệnh lý lo âu tức là phản ứng lại một kích thích bên trong mãnh liệt và quá mức.

−       Lo lắng: nỗi đau khổ tinh thần về nguy cơ hoặc điều bất hạnh có thể xảy ra; e sợ, bứt rứt, bồn chồn không yên.

−       Sợ hãi: một tín hiệu cảnh báo để đáp ứng với mối đe dọa bên ngoài.

Lo âu có thể phân biệt với sợ hãi ở chỗ sự sợ hãi là một phản ứng rõ ràng với một mối đe dọa mà chắc chắn đến từ bên ngoài, trong khi đó lo âu là một tín hiệu cảnh báo phát sinh từ một xung đột nội tâm.

Hội chứng rối loạn lo âu (Anxiety) là gì? Nguyên nhân và triệu chứng | Genetica®

Lo âu được mặc nhiên công nhận là biểu hiện của sự tồn tại và là một cơ chế thích nghi. Trong suốt thời gian bị kích thích mạnh, chẳng hạn như trở về nhà trong nỗi ám ảnh có thể bị gặp nguy hiểm, điều đó được chờ đợi mặc dù chỉ thoáng qua, đáp ứng với tình huống căng thẳng, đặc trưng bởi cường giao cảm. Khi cường giao cảm không phù hợp, rối loạn không chỉ thoáng qua nữa, nó có thể gây rối loạn các chức năng và sự thích nghi của cá nhân, sau đó có thể dẫn đến rối loạn lo âu.

Các biểu hiện khi bị cường giao cảm

Những bệnh nhân thường không được giới thiệu đến phòng khám cho đến khi họ đã bị rối loạn lo âu một thời gian dài, hoặc họ đã bị cơn hoảng sợ kịch phát. Không nên bỏ qua sự bất lực và đau khổ do rối loạn lo âu gây ra, bởi chúng có thể gây rối loạn chức năng xã hội, nghề nghiệp và sức khỏe chung của bệnh nhân. Bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân cần thận trọng trong việc hướng dẫn tiếp tục chăm sóc sau cơn hoảng sợ ban đầu.   

Theo Hội Tâm thần học Việt Nam (2002), tỷ lệ rối loạn lo âu là 2,7% dân số. Xấp xỉ 25% dân số Mỹ bị lo âu bệnh lý trong suốt cuộc đời. Trên thực tế tỷ lệ này có thể cao hơn vì rất nhiều bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu không tìm cách điều trị. Như vậy rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất.

Tỷ lệ rối loạn lo âu ở hai giới có sự khác biệt rõ ràng; tỷ lệ giữa nam và nữ xấp xỉ 2:1. Những nghiên cứu về tiền sử gia đình đã chỉ ra rằng yếu tố di truyền làm tăng khả năng bị rối loạn lo âu. Tỷ lệ mắc bệnh này tăng lên 4 đến 8 lần ở những người có quan hệ bậc 1 với bệnh nhân rối loạn lo âu.

Yếu tố môi trường, chẳng hạn như ly hôn, thay đổi việc làm hay trường học, có thể đóng một vai trò trong nguy cơ bị rối loạn lo âu. Chấn thương và các sự kiện căng thẳng khác (như bị sỉ nhục hay người thân bị chết), có thể dẫn đến rối loạn stress sau sang chấn.

2. KHÁM XÉT

Thầy thuốc nên nói với bệnh nhân với giọng nói vừa nhẹ nhàng, vừa trấn tĩnh khi thăm khám (tránh gây cho bệnh nhân ấn tượng rằng bạn cũng đang lo lắng về tình trạng lo âu của mình), vì những bệnh nhân bị rối loạn hoảng sợ tin rằng họ bị một bệnh nghiêm trọng có thể dẫn đến cái chết. Cần tìm hiểu đầy đủ về tiền sử bệnh của bệnh nhân nếu có thể. Những thông tin bổ sung (với sự đồng ý của bệnh nhân) từ bác sĩ chính, các thành viên trong gia đình và bạn bè có thể hữu ích.

Rối loạn lo âu có chữa được không? Những điều cần biết

Khi khám bệnh nên khám cả các triệu chứng cơ thể và những than phiền của bệnh nhân. Cần nhớ rằng có nhiều bệnh nội khoa và rối loạn tâm thần có thể có lo âu như một thành phần hay triệu chứng. Việc điều trị rối loạn lo âu do bệnh nội khoa cần tiến hành sau khi điều trị bệnh nội khoa. Nếu cần thiết có thể chuyển bệnh nhân đến chuyên khoa thích hợp.   

3. CHẨN ĐOÁN

Các chẩn đoán có thể xem xét ở những bệnh nhân có biểu hiện rối loạn lo âu bao gồm: Rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, ám ảnh sợ xã hội, phản ứng stress cấp, rối loạn stress sau sang chấn, rối loạn ám ảnh nghi thức.

3.1. Những bệnh nội khoa có thể gây ra triệu chứng lo âu

3.1.1. Các bệnh nội tiết

−       Cường giáp

−       Thiểu năng giáp

−       Cường năng tuyến thượng thận

−       Hạ đường huyết

−       Rối loạn hoạt động tuyến yên

−       Rối loạn  chức năng tuyến cận giáp

−       Nam tính hóa ở nữ

−       Hội chứng tiền kinh nguyệt

3.1.2. Các bệnh tim mạch

−       Rối loạn nhịp tim

−       Các bệnh thiếu máu

−       Thiểu năng tuần hoàn

−       Hạ huyết áp

−       Tăng huyết áp

−       Suy tim sung huyết

−       Đau ngực cấp tính

−       Nhồi máu cơ tim

−       Đau thắt ngực

3.1.3. Bệnh thần kinh

−       Bệnh mạch máu não

−       U não

−       Viêm não

−       Co giật

−       Đau nửa đầu

−       Xuất huyết dưới nhện

−       Chấn thương sọ não kín

−       Bệnh xơ cứng rải rác

−       Bệnh Wilson

−       Rối loạn tiền đình

−       Chứng mất trí

−       Mê sảng

−       Bệnh Huntington

−       Động kinh tâm thần vận động

−       Bệnh thùy thái dương

3.1.4. Bệnh đường hô hấp

−       Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

−       Viêm phổi

−       Tăng thông khí phổi

−       Bệnh ngừng thở khi ngủ

−       Hen

−       Viêm phế quản cấp và mạn tính

3.1.5. Rối loạn chuyển hóa

−       Thiếu vitamin

−       Rối loạn chuyển hóa porphyrin

−       Bệnh Pellagra

−       Urê huyết tăng

−       Hạ calci huyết

−       Hạ kali huyết

3.1.6. Bệnh hệ thống

−       Lupus ban đỏ hệ thống

−       Viêm khớp dạng thấp

−       Viêm động mạch thái dương

−       Viêm sụn sườn

−       Bệnh tự miễn

−       Đau xơ cơ

−       Dị ứng

3.1.7. Ngộ độc

−       Cafein

−       Amphetamin

−       Kim loại nặng

−       Thuốc co mạch và thuốc cường giao cảm

−       Phosphat có nguồn gốc hữu cơ

−       Cồn

−       Thuốc phiện

+       Phencyclidin

+       Cocain

+       Ecstasy

3.1.8. Nhiễm trùng và các quá trình khác

−       Nhiễm khuẩn huyết

−       Hội chứng u có tế bào ưa bạc

−       Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẫn

−       AIDS

−       Bệnh u hệ thống ác tính

−       Viêm nội tâm mạc bán cấp do vi khuẩn

−       Xuất huyết tiêu hóa

3.1.9. Các rối loạn khác

−       Hội chứng ruột kích thích

−       Rối loạn tiêu hóa

−       Bệnh trào ngược dạ dày (GERD)

−       Bệnh Zona

−       Hội chứng ngoại tháp

3.2. Các rối loạn tâm thần liên quan đến rối loạn lo âu hoặc cơn hoảng sợ

−       Rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

−       Trầm cảm phối hợp.

−       Rối loạn ăn uống.

−       Rối loạn ám ảnh nghi thức.

−       Rối loạn nhân cách.

−       Rối loạn phân liệt cảm xúc.

−       Tâm thần phân liệt.

−       Rối loạn dạng phân liệt.

3.3. Rối loạn lo âu lan tỏa

−       Lo âu quá mức hoặc những ngày lo âu nhiều hơn những ngày không lo âu trong 6 tháng qua.

−       Khó khăn trong việc kiểm soát lo lắng hoặc lo âu.

−       Lo lắng hoặc lo âu được kết hợp với ba hoặc nhiều đặc điểm sau:

+       Mất ngủ, cảm thấy bực tức hoặc căng thẳng.

+       Dễ mệt mỏi.

+       Khó tập trung.

+       Dễ nổi cáu.

+       Tăng trương lực cơ.

+       Rối loạn giấc ngủ.

Rối loạn lo âu lan tỏa: Những điều cần biết | Vinmec

3.4. Rối loạn hoảng sợ

Đặc điểm chủ yếu của rối loạn hoảng sợ là sự có mặt của những cơn hoảng sợ tái diễn kế tiếp bởi những lo lắng bền vững (ít nhất 1 tháng) về việc sẽ có những cơn hoảng sợ khác.

Rối loạn hoảng sợ phải làm gì và cần phân biệt với bệnh nào?

3.4.1.  Hoảng sợ kịch phát

Hoảng sợ kịch phát được định nghĩa là một khoảng thời gian riêng, đột ngột khó chịu dữ dội hoặc sợ hãi đỉnh điểm trong vòng 10 phút hoặc ít hơn và bao gồm 4 hoặc nhiều hơn trong các triệu chứng sau:

−       Hồi hộp, nhịp tim nhanh, trống ngực.

−       Vã mồ hôi.

−       Run.

−       Cảm giác nghẹt thở.

−       Khó thở, thở nông.

−       Đau hoặc khó chịu ở ngực.

−       Buồn nôn hoặc đau bụng.

−       Cảm giác chết lặng, ù tai.

−       Hệ thần kinh giao cảm không ổn định như ớn lạnh, nóng ran.

−       Có cơn hoa mắt hoặc ngất, cảm giác loạng choạng hoặc chóng mặt.

−       Giải thể nhân cách, thực tại.

−       Sợ rằng sẽ mất đi ký ức.

−       Sợ bị mất tự chủ.

−       Sợ chết.

Sự thật sau cơn hoảng loạn - VnExpress Sức khỏe

Cơn hoảng sợ kịch phát có thể xuất hiện mà không có tác nhân nào và không có lý do rõ ràng. Các biến chứng của rối loạn hoảng sợ có thể bao gồm những thay đổi sinh lý liên quan đến cường giao cảm. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tự sát ở những bệnh nhân này tương đối cao.

3.4.2. Rối loạn hoảng sợ với chứng ám ảnh sợ khoảng trống

Điểm đặc trưng của ám ảnh sợ khoảng trống là sự lo lắng về việc ở những nơi hoặc những tình huống mà ở đó bệnh nhân khó khăn hoặc lúng túng khi tìm lối thoát hay sự giúp đỡ nếu xuất hiện cơn hoảng sợ hoặc các triệu chứng giống cơn hoảng sợ. Sự lo lắng về những gì sẽ xảy ra có thể dẫn đến giảm hòa nhập xã hội.

3.4.3. Ám ảnh sợ xã hội

Ám ảnh sợ xã hội được đặc trưng bởi sự sợ hãi dai dẳng những hoàn cảnh hoặc hoạt động có tính chất xã hội, những nơi mà sự xấu hổ, sỉ nhục có thể xảy ra.

3.4.4. Rối loạn stress cấp

Đặc điểm quan trọng của rối loạn stress cấp là sự phát triển của lo âu, tăng kích thích, phân ly (được đặc trưng bởi cảm giác chủ quan hoặc giải thể nhân cách), xuất hiện trong vòng 1 tháng sau khi có một chấn thương tâm lý.

3.4.5. Rối loạn nghi thức ám ảnh: Đặc điểm quan trọng nhất là tình trạng đau khổ hay suy nhược rõ ràng gây nên bởi sự tái diễn của những nghi thức ám ảnh.

4. ĐIỀU TRỊ

Lo âu là một biểu hiện thường gặp của các rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt hay rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Trong những trường hợp này, nếu bệnh nhân đang dùng thuốc an thần, nên loại trừ trường hợp có biểu hiện ngoại tháp gây ra lo âu. Việc điều trị nên tập trung vào rối loạn tâm thần bị nghi ngờ hơn là chỉ tập trung làm giảm triệu chứng lo âu.

4.1. Liệu pháp hóa dược

– Dùng benzodiazepin để giải lo âu trong một thời gian ngắn. Khi dùng benzodiazepin kéo dài thì khả năng dung nạp thuốc tăng nên có thể cần dùng liều cao hơn.              

– Fluoxetin (prozac) nên bắt đầu với liều thấp, khoảng 10 đến 20mg mỗi ngày.

– Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin/norepinephrin (SNRIs): Duloxetin (cymbalta), venlafaxine, mirtazapine (4 vòng trong cấu trúc hóa học) nhưng tác dụng lâm sàng lại tương tự các thuốc SNRI nên được xếp vào nhóm này.

– Thuốc chống trầm cảm ba vòng

4.2.  Liệu pháp không dùng thuốc

– Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT).

– Liệu pháp giải mẫn cảm

– Liệu pháp phản hồi sinh học

Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột hiện đã kết hợp với GS.TS.BS Cao Tiến Đức – Phó chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam; Phó chủ tịch Hội chống động kinh Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng chuyên môn Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương.

Sự kết hợp này sẽ tạo ra một nền tảng mới trong điều trị các bệnh lý lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học tại khu vực Tây Nguyên, giúp khách hàng gặp các vấn đề về tâm lý sớm được điều trị lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

Để đăng ký khám chữa bệnh với các chuyên gia tại BUH, xin vui lòng liên hệ Hotline 1900 1147